Những trăn trở của Phạm Hồng
Sơn (*)
Bích Ngọc
Anh
Phạm Hồng Sơn là một bác sĩ trẻ, sanh
năm 1968 tại Nam Định, tốt nghiệp
Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1992. Ngoài ra, anh
cũng đỗ bằng cao học kinh tế.
Trước khi bị bắt, anh làm việc tại Công ty Y
Dược Tradewing Asia tại Hà Nội. Anh có vợ là
chị Vũ Thúy Hà cùng hai con lên 4 và 6 tuổi. Cộng
sản đă giam giữ anh từ hơn một năm nay.
Vào
ngày 18 tháng 6 vừa qua, trong một phiên ṭa xử kín, kéo dài
vỏn vẹn nửa ngày, anh đă bị kết án 13
năm tù và 3 năm quản chế về tội làm gián
điệp và phổ biến tài liệu phản động,
bêu xấu đảng và nhà nước. Dư
luận thế giới đang bất b́nh và lên án cách bách
xử vô nhân này.
Trên thực tế, anh Sơn đă bị giam
cầm sau khi đă loan tải trên mạng lưới
Intemet bài dịch khá công phu của anh “Thế nào là Dân
chủ”, trích từ thông liệu của Đại sứ
quán Hoa Kỳ tại Hà Nội. Cộng sản đă trơ
trẽn đưa ra một tuyên án mà cả thế giới
đều phải khinh miệt.
Anh Phạm Hồng Sơn đơn thuần là
một nhà trí thức, đầy tâm huyết, luôn khát khao
xây dựng một nền dân chủ cho nước nhà.
Trưởng thành trong một chế độ độc
tài, anh đă không có khái niệm ǵ về dân chủ
trước khi dịch bài “What is Democracy”. “Tôi đă nghe
thấy dân chủ từ lâu nhưng chưa bao giờ
được nghe và được đọc để
hiểu bản chất thực sự của nó là ǵ”. Và
khi khám phá ra thực nghĩa của chữ Dân chủ sau khi
hoàn tất bản dịch, anh đă bầy tỏ niềm
hân hoan của ḿnh với đầy xúc cảm “Có Dân
chủ là có tất cả”. Anh đă chia sẻ sự
hiểu biết của anh với hàng chục ngàn
người Việt Nam trên các Website.
Hơn thế nữa, anh mạnh dạn tŕnh bày
quan điểm của ḿnh với giới lănh đạo
Việt Nam. Ngày 4/3/2002, trong Hội nghị lần thứ
năm của ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX, ông Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư của
đảng Cộng sản Việt Nam, đă khẳng
định: “Dân chủ là bản chất của chế
độ xă hội chủ nghĩa, là mục tiêu, là
động lực phát triển kinh tế, xă hội,
đất nước” (Nhân Dân 04/03/2002). Lời của
ông Hồ cũng được nhắc lại trong
dịp này: “Dân chủ là cái quư báu nhất của nhân dân.
Thực hành Dân chủ là cái ch́a khóa vạn năng có thể
giải quyết mọi khó khăn” (Lao động
05/03/2002). Phạm Hồng Sơn đă dựa vào những
phát biểu đầy phấn chấn này để
thỉnh cầu giới cầm quyền thi hành những ǵ
họ đă hô hào. Trong lá thơ gởi Nông Đức
Mạnh ngày 06/03/2002, bên cạnh những lời khen
lịch sự xă giao, anh đă đưa ra những
đề nghị thực tiễn ngơ hầu phong trào phát
huy dân chủ được toàn dân thông suốt và
hưởng ứng. Theo anh, qua sự kiện này
đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ tạo
nên một kỳ tích trong lịch sử các đảng
Cộng sản trên toàn thế giới.
Như
dự đoán, đảng Cộng sản Việt Nam đă
không tạo nên một thành tích nào mà chỉ tiếp diễn
những hành vi bạo chế, lọc lừa, anh đă
bị bắt giam ít ngày sau đó.
Ngoài
vấn đề Dân chủ, Tự do cũng là đề
tài suy gẫm của anh, điều này cũng dễ
hiểu v́ anh đă sinh trưởng ở một môi
trường hoàn toàn bị quản chế. Trong một
bức thơ gởi bạn đăng trên mạng
lưới vi tính tháng ba năm ngoái, anh đă diễn
giải sự tự do ngôn luận tại Việt Nam. Anh
thẳng thắn nh́n nhận rằng một trong những
nguyên nhân khiến cho dân chúng trong nước không dám sử
dụng quyền căn bản này là sự hiện hữu
của chính sách độc đoán của nhà cầm
quyền. Anh tha thiết mong mỏi toàn dân Việt Nam ngày
sẽ càng ư thức được tầm quan trọng
của sự tự do, họ sẽ can đảm nắm
nhận quyền và trách nhiệm công dân để cho
nước nhà theo kịp bước tiến hóa của
thế giới. Anh biết thế sự đương
thời chính là những chướng ngại vật cho
bước tiến lên nền dân chủ thực trị,
nhưng anh khí khái khẳng định “chúng ta hoàn toàn có
quyền thay đổi thực tế này”, và “chúng ta
không ngần ngại tiếp cận và đi sâu hơn
nếu chúng ta thấy công việc chúng ta làm là có ư nghĩa”.
Vài
gịng qua đă cho thấy “chân tội trạng” của anh
Phạm Hồng Sơn, anh đă có “quá” nhiều suy tư
cho tổ quốc, dân tộc anh. Những trăn trở
của anh xoay quanh vấn đề Tự do, Tự
chủ, nâng cao dân trí, thăng tiến quốc gia. Một
cách quang minh, anh đă trao đổi, bàn luận những
tâm tư này với đồng bào trong nước và
hải ngoại cùng các người nắm quyền.
Có
người cho là anh quá ngây thơ, đặt niềm tin
vào giới lănh đạo. Riêng tôi, anh là một
người chánh trực, can trường. Cùng với Lê Chí
Quang, Nguyễn Vũ B́nh, các anh là những ngọn
đuốc soi đường cho cả thế hệ
trẻ Việt Nam. Trong khi rất nhiều người
đồng lứa tuổi, trong như ngoài nước,
chỉ chú tâm về quyền lợi và nhu cầu vật
chất. Là những thành phần ưu tú trong xă hội, các
anh đă chọn một hành tŕnh khác. Cái nh́n và hướng
đi của các anh khiến cho tổ quốc Việt Nam
luôn ươm ấp niềm hy vọng dẫu qua bao tai
biến.
Nghĩa
cử của anh Phạm Hồng Sơn đă gây nhiều
suy vấn trong tôi. Ở một nơi không có nhân quyền,
chỉ có sự cưỡng bách và áp chế, anh đă dám
thổ lộ một cách tích cực những nỗi
niềm của anh, anh đă nói lên những khắc
khoải chung của quần chúng. Chúng tôi, những
người lưu vong, cư ngụ tại những
xứ sở hội đủ các điều kiện
về tự do, tin liệu và trí lực, chúng tôi đă
thực hiện được những ǵ?
Đến
đây tôi chợt nhớ lại một đề bài
luận văn lúc c̣n bé: “Em sẽ làm những ǵ cho quê
hương?”. Chao ôi khi ấy, ư văn sao dạt dào, tôi
đă mê mải lấp đầy trang giấy bằng
những gịng chữ và những suy tưởng thành tâm
nhất. Bây giờ cùng một đề tài, duy cách dùng “TH̀”
được đổi: “Bạn đă làm
được ǵ cho quê hương?”, tôi lại bối
rối. Đề luận ra, anh đă làm xong, trên một
khía cạnh nào đó, tâm duy anh được an ổn. C̣n
lũ chúng tôi vẫn ngượng ngùng với cây viết và
tờ giấy trắng. H́nh như có nỗi trăn trở
nào chợt chớm dậy, có lẽ gợi xuất từ
những ưu tư ban đầu của anh. Mong rằng
những băn khoăn mới tựu h́nh này sẽ thúc
đẩy chúng tôi “có” được một tư ǵ cho quê
hương.
Nếu
thế th́, Phạm Hồng Sơn, những ǵ anh gieo
rắc đă không vô tác hiệu. Đất nước chúng
ta lại thêm niềm tự hào đă sanh ra những
người trẻ v́ nước dấn thân như anh. Và
tôi cũng rất hănh diện được chung một
gia đ́nh Y giới cùng anh. V́ hoài băo dân tộc, anh đang
lâm hiểm nạn. Mong rằng những bạn đồng
nghiệp của anh trên toàn thế giới tự do sẽ
không bỏ rơi anh theo đúng tinh thần của bản
tuyên thệ Genève: đồng nghiệp tương huynh
đệ (**).
Theo
thiển ư, một trong những hành động thiết
thực là việc gây quỹ giúp chị Hồng Sơn và
các cháu nhỏ. Hy vọng rằng các hội đoàn y sĩ
có thể đứng ra điều động các hội
viên thực hiện cử chỉ tương thân
tương ái này.
* Ư trích từ hai bài Trăn Trở
1 và 2 của Phạm Hồng Sơn (Tâm Việt)
** Lời
thề Genève 1947, Điều 7: “Tôi xem đồng
nghiệp như anh chị em ruột”.