Tăng cường đàn áp và kiểm soát
tôn giáo
Nhận
xét vắn tắt về Nghị quyết Hội nghị
lần thứ bảy Ban Chấp Hành
Trung ương Đảng khóa IX
về Công tác Tôn giáo.
Đỗ Mạnh Tri
Hội
nghị của Ban Chấp Hành Trung ương đă
diễn ra hồi đầu năm nay (từ 13 đến
21.01.03). Nhưng cuối tháng ba Nghị
quyết về Công tác Tôn
giáo mới được phổ biến trên tuần
báo Công giáo và Dân tộc (số
1400, 20.03.03) và cuối tháng tư mới được
biết đến trên mạng lưới.
Nghị
quyết dài 3 trang. Chia thành 5
mục (I – V). Kư : Nông Đức Mạnh. Sau đây xin
đề nghị vài nhận xét về những
điểm cốt yếu.
1. Vấn
đề chiến lược. Công tác tôn giáo là vấn
đề chiến lược hệ trọng vào bậc
nhất đối với mọi đảng cộng
sản. Điều này, ai cũng biết cả rồi.
Nhưng Nghị quyết vẫn
nhắc lại cho rơ : "Đảng
và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là
vấn đề chiến lược có ư nghĩa rất
quan trọng". Nhiệm
vụ của công tác tôn giáo là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Nhưng xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, thực tế là đào sâu những chia
rẽ và nghi kỵ đă có sẵn và nhất là tạo thêm
những chia rẽ mới nhằm cô độc hóa mỗi
cá nhân, mỗi thành phần dân tộc để buộc
chặt người dân vào Đảng[1]. Có thế, Đảng mới tiếp
tục nắm vững quyền toàn trị. Ngôn ngữ
của Đảng gọi là 'an
ninh chính trị' hay 'ổn
định chính trị'. Ai cũng hiểu : khai
trừ các đảng phái chính tri, tương đối
dễ. Khai trừ tôn giáo, khó hơn. Tôn giáo liên hệ
mật thiết với mọi mặt của đời
sống cá nhân và xă hội, mà v́ thế, nghiễm nhiên thành
kẻ thù nguy hiểm nhất cho một chế độ
muốn thống trị toàn bộ nếp sống con
người.
2. Lùi từng bước. Lúc này
th́ Đảng quá biết : không thể tiêu diệt
được tôn giáo. Nghị
quyết công nhận : "Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá tŕnh xây dựng chủ
nghĩa xă hội ở nước ta" (NQ II, 1). Khẳng định
này lấy lại y nguyên tuyên bố của Nghị
Quyết 24 về Công tác tôn giáo, năm 1990, của Bộ
Chính trị : "Tôn giáo là
vấn đề c̣n tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân" (NQ, I). Sau sự sụp đổ
của khối Nga Xô, không c̣n cách nào khác. Người ta
thường nói, đảng cộng sản lùi một
bước để tiến hai bước. Trước
kia th́ như vậy. Lúc này không phải vậy. Cái thế
lùi một tiến hai đă hết thời. Tất cả
quyền lực và sự khôn khéo của Đảng ở
cách lùi. Chỗ nào giữ được, Đảng
giữ. Chỗ nào không thể giữ nổi, Đảng
lùi theo cách của Đảng. Về kinh tế th́ rơ như
ban ngày. Không thể không hội nhập kinh tế thị trường.
Vậy Đảng hội nhập, nhưng Đảng
vẫn nắm độc quyền. Như thế gọi là
kinh tế thị trường theo định hướng
xă hội chủ nghĩa. Cụm từ 'theo định
hướng xă hội chủ nghĩa' có nghĩa là
Đảng đă quay lưng lại chủ nghĩa xă
hội và vứt nó vào sọt rác[2] nhưng nhất định giữ
chắc dân chủ tập trung. Dĩ nhiên, dân chủ
tập trung rồi cũng hết, và Đảng biết
rơ, tới lúc nào đó Đảng sẽ hết quyền
lănh đạo. Nhưng lúc đó, những ông tư bản
đỏ đă thành những ông tư bản chính hiệu
rồi. Về tôn giáo cũng thế. Chính sách tôn giáo của
Đảng là tự do tôn giáo...
theo định
hướng xă hội chủ nghĩa. Nói cách khác,
trước sau như một, tín ngưỡng, tôn giáo
tự do nhưng hướng thuộc quyền
Đảng.
3. Bách
hại. Khi có thể, Đảng tiếp tục đàn
áp một cách ngang ngược, lộ liễu. Coi
trường hợp cha Lư, ba người cháu của cha,
Hoa, Việt, Cường và em Hoàng Trọng Dũng. Hay cách
Đảng đối xử tàn tệ mấy chục
năm qua với hai nhà lănh đạo của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất, HT Thích Huyền
Quang và HT Thích Quảng Độ. Có điều những
người này c̣n được biết tới và v́
thế được ít nhiều bênh vực. Tại
những vùng quê hẻo lánh, ai biết được con
số những người bị truy bức, đánh
đập, cầm tù v́ lư do 'lợi dụng tư do tín
ngưỡng'? Thô bỉ nhất là hành động cấm đạo dă man đối với các
dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở vùng
thượng miền Trung và miền Bắc. Từ
đầu năm 2001 tới nay, quân đội và công an hợp
lực với chính quyền địa phương đàn
áp, bắt bờ, đánh đập, phạt tiền,
bỏ tù...[3]
Đất đai của họ bị chiếm cứ. Chính
quyền đưa người Kinh từ Bắc và trong Nam
tới (như Trung quốc làm với Tây Tạng !)...
Những sự kiên này cả thế giới biết,
nhưng Đảng vẫn b́nh chân như vại ! "Ở một số nơi,
nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, một
số người đă lợi dụng tự do tín
ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những
hoạt động chống đối, kích động tín
đồ nhằm phá hoại khối đoàn kết toàn dân
tộc, gây mất ổn định chính trị" (NQ,
I).
4. B́nh
thường hóa. Nhưng không phải lúc nào, chỗ nào
Đảng cũng có thể du côn được. Khi hoàn
cảnh không cho phép, Đảng thích ứng. Hoàn cảnh là "âm mưu của các thế
lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn
giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân
tộc, chống đối chế độ" (NQ, III). Khi
những thế lực này quá mạnh, nói cách khác, khi không
thể không chấp nhận một số tự do tôn giáo,
th́ Đảng tổ chức những tự do đó
để chúng nằm gọn trong ḷng bàn tay Đảng. Điều
Đảng không cấm nổi, Đảng cho phép.
Đảng "Thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo b́nh
thường theo đúng pháp luật"(NQ, II,1).
"Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt
động b́nh thường theo đúng chính sách và pháp
luật của Nhà nước"(NQ, III). Theo đúng chính sách và pháp luật
của Nhà nước ! Cụ thể là cơ
chế xin-cho của Đảng. Trong cơ chế ấy,
Đảng t́m cách 'b́nh thường hóa' các tôn giáo.
Đảng tổ chức chặt chẽ các thứ tự
do Đảng ban cho các tôn giáo để một mặt,
thẳng tay loại trừ những phần tử
'xấu' của mọi tôn giáo, mặt khác giữ các tôn giáo
trong ṿng ảnh hưởng và kiểm soát của
Đảng. Sau Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
Đảng đă cố b́nh thường hóa Ḥa Hảo, Cao
Đài và hiện nay là Tin Lành[4]. Phải công nhận đây là
một biện pháp thông minh. Nó có vẻ có lợi cho cả
đôi bên. Đảng "xem xét
trong từng trường hợp cụ thể để
cho phép"(NQ, I). Đi vừa ư Đảng, Đảng
cho phép dễ dàng, có khi c̣n khuyến khích. Cũng một cái
dây tḥng lọng, khi nới lỏng, khi buộc chặt.
Nhưng người ‘lănh đạo’ dây tḥng lọng
vẫn là Đảng. Về phía các tôn giáo cũng không
phải không có lợi. Được nới lỏng
vẫn hơn là bị buộc chặt. Nhất là khi
biết rằng, v́ sức ép của hoàn cảnh trong ngoài,
đặc biệt sức ép của những phần
tử ‘xấu’, chính quyền sẽ c̣n nới lỏng
hơn[5].
5.
Trường hợp Giáo hội Công giáo. Chẳng nói ra, ai cũng biết:
nếu công tác tôn giáo là vấn đề chiến
lược của Đảng, th́ v́ nhiều lư do, Công giáo
vận là khâu rất quan trọng của công tác tôn giáo. Không
phải vô t́nh mà Nghị
Quyết coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần "của
một bộ phận nhân dân". Khách quan, đại
đa số nhân dân Việt Nam theo một hay nhiều tôn
giáo. Tại sao lại nói của một bộ phận? Tôi coi đây là một
'lapsus'. Nghĩ nhưng không tiện nói ra, rồi vẫn
cứ nói ra một cách khó hiểu trên b́nh diện ngôn
ngữ nhưng lại dễ hiểu về phương
diện ư nghĩa : Công giáo hay Kitô giáo là nhu cầu
của một bộ phận nhân dân. Công giáo
được đặc biệt 'ưu đăi'. Nên
nhớ lại, Năm 1990 với Nghị quyết 24 của Bộ chính trị
về Công tác Tôn giáo cũng là thời điểm Phái
đoàn Ṭa thánh Vatican sang thương thuyết với chính
quyền Hà Nội ; thời điểm Đảng nói
chuyện trực tiếp với các Giám mục Việt Nam
thay v́ nói với tay sai của Đảng, Ủy ban Đoàn
kết Công giáo Yêu nước. Hồi đó, có người
quan sát cách hời hợt tưởng rằng quan hệ
giữa Vatican và Hà Nội, giữa Đảng và Giáo
hội Công giáo Việt Nam đă trở nên tốt
đẹp. Thật ra t́nh trạng có khá hơn trước
nhưng vẫn “c̣n nhiều hạn chế”, theo lối nói
xă giao của các Giám mục. Vậy trực diện tố
giác những “hạn chế ấy” hay nín thở qua sông, tùy
theo hoàn cảnh mà chèo chống để giữ vững con
thuyền của Giáo hội qua cơn sóng gió? Nói chung, Giáo
hội đă chọn giải pháp thứ hai. Kể cũng
là một đường lối để giữ ḿnh.
Với đường lối ấy, Giáo hội nhất
định thắng, v́ Giáo hội quá biết, Đảng
cộng sản không có tương lai. Vậy lúc này Giáo
hội được Đảng nới lỏng là
tốt. Ngoài ra, được đàng chân, lân đàng
đầu : từ kiến nghị này đến cho phép
khác - ngôn ngữ ngoại giao gọi là đối thoại,
dung ḥa - Đảng ở vào cái thế mỗi ngày phải
nới lỏng hơn. Khác hẳn lối hành xử của
một linh mục Nguyễn Văn Lư : cắt
đứt dây tḥng lọng. Tự do tôn giáo hay là chết !
Nói cách khác : sẵn sàng chết để sống tự do[6].
Ôn ḥa nhưng không chút nhân nhượng. V́ tự do không
thể chấp nhận độc tài ở bất cứ
mức độ nào. Chưa nói tới Tin Mừng, chỉ
xét về phương diện con người, thái
độ ấy đáng cảm phục biết bao.
Nhưng mấy ai có được thái độ ấy? Ai
cũng thích tự do, nhưng mấy ai dám thực sự
sống tự do? Những người như linh mục Lư
sẽ vẫn cô đơn bao lâu chế độ
độc tài c̣n ngự trị. Sự im lặng của
hàng giáo phẩm Việt Nam vể vụ án cha Lư là một
bằng chứng. Lá thư của Đc Phạm Minh Mẫn
gửi cho Đại hội UBĐKCG, của HĐGMVN
gửi cho Quốc hội cuối năm ngoái tuy rất
mạnh mẽ nhưng vẫn chưa dám nhắc tới
những trường hợp cụ thể như
trường hợp lm Nguyễn Văn Lư
Nhân nhượng, khôn ngoan, đi từng
bước hay dứt khoát cắt đứt dây tḥng
lọng? Đây không chỉ là vấn đề nội
bộ của Giáo hội Công giáo. Đó là vấn đề
của cả nước.
6.
Chuyện lâu dài. Sớm
muộn rồi độc tài cũng qua đi. Nhưng khi
nào? Đảng không đời đời nhưng
đừng tưởng Đảng chỉ nghĩ
chuyện trước mắt. Vấn đề tôn giáo
"c̣n tồn tại lâu dài", vậy công tác tôn giáo
của Đảng cũng lâu dài. Đảng đă có
hẳn một Viện nghiên cứu về tôn giáo, một
Hội đồng Tư vấn về Tôn giáo, một Ban
tôn giáo chính phủ, một Ban chỉ đạo 184 của
Trung ương và c̣n những ban, ngành kín đáo nào nữa? Nghị quyết đưa ra
một số biện pháp rất đáng lưu ư:
- Đóng chặt Đạo vào nhà
thờ : "Mọi tín
đồ đều có quyền tự do hành đạo
tại gia đ́nh và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo đúng quy luật"(NQ, II, 5). Chỉ một
điều có vẻ tích cực như thế, đủ
cho thấy tự do tín ngưỡng bị hạn chế
tới đâu. Tôn giáo tự do là thứ tôn giáo hoàn toàn riêng
tư. Không được ra khỏi nhà và nhà thờ,
với điều kiện nơi thờ tự đă hợp pháp lại c̣n phải
theo đúng quy luật !
- Ảnh hưởng đường
lối : "Hướng
dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối
ngoại phù hợp với đường lối
đối ngoại của Đảng và Nhà
Nước"(NQ III). Thật là trơ tráo. Chẳng
cần ai tố cáo. Các ‘thế lực thù địch’, các
tổ chức quốc tế chỉ đọc Nghi
quyết này cũng đủ thấy : chính Đảng cho
biết Đảng đang trấn áp tôn giáo.
Đường lối đối ngoại của tôn giáo
phải phù hợp với đường lối đối
ngoại của Đảng. Nói ǵ đối nội !
Vậy khi Đảng tuyên bố tại Việt Nam có
tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, không có tù chính trị,
không có tù nhân lương tâm th́ các Giám mục, Thượng
tọa cũng phải hùa theo Đảng mà nói dối
trắng trợn? Tiếc thay đă có những vị làm
như thế. Thật ra Đảng khôn hơn. Thí dụ
trường hợp Công giáo : không dùng được
Ủy ban Đoàn kết Công giáo để sai khiến Giáo
hội, Đảng t́m cách đưa người của
Ủy ban này vào cơ cấu tổ chức của Giáo
hội. Điển h́nh là lm Huỳnh Công Minh, làm Tổng
đại diện của Tổng Giám mục Sài G̣n từ
năm này qua năm khác, như một người không ai
thay thế nổi. Các Tổng Giám mục qua đi. Tổng
đại diện vẫn.. lâu dài. Nhưng lm Huỳnh Công
Minh ai cũng biết. Lưu manh hơn là ảnh
hưởng đường lối của Giáo hội
để chính Giáo hội có đường lối riêng
của Giáo hội mà vẫn phù hợp với hay it ra không
trực tiếp chống lại đường lối
đối ngoại của Đảng. Giúp đỡ
những phần tử cơ hội trong hàng giáo phẩm,
giáo sĩ, tu sĩ ; đối xử tử tế với
những tu sĩ, linh mục, giám mục đạo
hạnh nhưng 'mềm dẻo'; đề cao những
vị có thiện cảm với UBĐKCG hay ít ra không
chống lại UBĐKCG để họ có những
vị trí then chốt trong tổ chức của Giáo
hội... Đó là những điều Đảng
thường làm một cách rất nghề nghiệp và
Đảng cũng nói rơ trong nhiều văn kiện. Khách
quan mà nh́n : Giáo phẩm không kiên nhẫn chờ
đợi bằng Đảng. Trong việc bổ
nhiệm Giám mục, truyền chức linh mục chẳng
hạn.
- Lấy truyền thống chống tà
đạo : " Giữ
ǵn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
và nhớ ơn những người có công với Tổ
quốc, dân tộc và nhân dân ; tôn trọng tín
ngưỡng truyền thống của đồng bào các
dân tộc (...) tạo cơ sở để đấu
tranh chống những tà đạo, những hoạt
động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo...
" (NQ IV, 2). Đọc qua, thấy ngọt xớt.
Nhưng mấy chữ 'lợi dụng tôn giáo' đủ
làm người đọc cảnh giác. Đề cao
truyền thống để giữ ghế là biện pháp
Đảng dùng từ khi chủ nghĩa xă hội đă
được thay thế bằng định hướng
xă hội chủ nghĩa. Cứ xem cách Đảng buộc
đồng bào các dân tộc thiểu số bỏ
đạo Tin Lành để trở về với tín ngưỡng
truyền thống của họ, th́ đủ biết,
mục tiêu không phải là chống mê tín dị đoan[7].
Kể ra, đây cũng là một biện pháp rất
truyền thống. Xưa kia, vua quan bách hại đồng
bào công giáo cũng nhân danh truyền thống, nhân danh
thuần phong mỹ tục để cấm Giatô tà
đạo.
7.
Thực dụng.
Trên đây là chuyện lâu dài trên b́nh
diện tạm gọi là lư thuyết. Có những chuyện
lâu dài rất thực dụng.
- Đảng phá sản rồi cho phép tôn
giáo xây dựng lại. Đảng đánh, rồi
Đảng cho phép tôn giáo xoa. Nghị
quyết viết : "Giải
quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ
trương xă hội hóa các hoạt động y tế,
văn hóa, xă hội, giáo dục... của Nhà
nước", dĩ nhiên là "theo
quy định của pháp luật"(NQ, IV, 3). Có
cần nhắc lại :
‘xă hội hóa’ là thứ ngôn ngữ kỳ khôi
để chỉ một biện pháp đi ngược
lại chủ nghĩa xă hội, v́ xă hội hóa đơn
thuần là tư nhân hóa? Giáo dục xuống cấp thê
thảm, tệ nạn xă hội tràn lan, bất công, áp
bức, nghèo đói... Các tôn giáo đă chẳng chờ
Đảng để hàn gắn những vết
thương do Đảng gây ra. Chính Đảng đă và
c̣n đang gây nhiều khó khăn cho công việc từ
thiện. Bây giờ, Đảng cho phép và khuyến khích các
tôn giáo tham gia trong một số lănh vực cần 'xă
hội hóa'. Dĩ nhiên không
phải tất cả mọi lănh vực ! Tệ
nạn xă hội lớn nhất, làm căn nguyên cho
nhiều tệ nạn khác, là tham nhũng. Nhưng
Đảng giữ độc quyền chống tham. Dễ
hiểu thôi ! Muốn chống tham nhũng thực
sự phải chống Đảng. Mà xét cho kỹ :
‘chủ trương xă hội hóa’ là một thứ tham
nhũng tinh vi. Những việc mà lẽ ra Nhà nước
phải làm, bây giờ Nhà nước 'cho phép' dân làm
để Nhà nước dùng tiền của dân làm
chuyện khác. Thao nào, Nghị Quyết cũng có cái
nh́n tích cực về tôn giáo : “Đạo đức tôn
giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây
dựng xă hội mới”(NQ, I). Chẳng biết xă
hội mới của Đảng là xă hội nào, nhưng
từ bi, bác ái th́ khai thác được : có lợi cho
Đảng. C̣n công bằng, tôn trọng sự thật, vô
úy không biết có được Đảng coi la đao
đức tôn giáo không. Nghe nói Đc Phạm Minh Mẫn
đang quyên tiền xây một nhà thương lớn và
tối tân để giúp đỡ dân nghèo. Đảng cho
phép. Nếu Đức cha yêu cầu Đảng trả
lại những Nhà thương, trường học
Đảng đă chiếm đoạt chắc là không xong.
- Lâu dài? Đoạn mại ! Nghị quyết nói rơ :"Đối với việc
khiếu kiện liên quan đến nhà và cơ sở tôn giáo đă chuyển giao cho
chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng :
về nguyên tắc, xử lư theo quy định của pháp
luật hiện hành ; riêng đối với những
trường hợp nhà, đất do tôn giáo đă hiến
tặng có văn bản xác nhân th́ không đặt vấn
đề trả lại"(NQ, IV, 3). Diễn nôm :
đă chiếm đoạt rồi th́ không có trả lại.
Chuyện lâu dài ở đây, Đảng muốn biến nó
thành chuyện đoạn mại. Ai bảo Đảng
nhiều ảo tưởng? Lư thú hai chữ nguyên tắc : xử lư theo
quy định của pháp luật của Đảng đă
chẳng ra ǵ rồi, thế mà có xử lư chăng là trên
nguyên tắc thôi ! C̣n trong thực tế cũng tùy ngẫu
hứng và ḷng tham của các đầy tớ nhân dân[8].
Kết luận
Do sức ép "của những thế
lực thù địch", một mặt Đảng
đương t́m cách b́nh thưỡng hóa các tôn giáo,
tức nhượng bộ và ban bố một số
tự do nhưng đưa các tôn giáo vào khuôn phép của
Đảng. Nếu cần, b́nh thường hóa luôn cả
những phê phán mạnh mẽ và biến những phê phán
ấy thành chứng cớ của “tự do tôn giáo tại
Việt Nam”, với điều kiện những phê phán này
không trực diện chống đối chế đo[9]ä.
Tiến tŕnh b́nh thường hóa cho phép Đảng loại
trừ trắng trợn những thành phần tôn giáo dám
trực diện chống đối. Có một thứ biên
giới vô h́nh nhưng rất rơ ràng giữa những tự
do tín ngưỡng tôn giáo được b́nh thường
hóa, thứ tự do cá chậu chim lồng và tự do tôn
giáo thực sự, tự do...
b́nh thường. Biên giới rất rơ ràng này xê
dịch với hoàn cảnh, thời gian. Tùy theo hoàn
cảnh, Đảng có thể lùi thêm một bước và
mở rộng hàng rào.
Hiện nay hàng rào của Đảng
vẫn chắc, và Đảng dự trù rào kín hơn,
chắc hơn, uyển chuyển hơn để luôn luôn
cập nhật. Công tác Tôn giáo từ đây trở thành
mặt trận đại quy mô. Được tổ
chức chi tiết, cặn kẽ. Nghị quyết là Nghi
quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng,
huy động toàn bộ các tổ chức của
Đảng từ trên xuống dưới. Không chỉ có
Ban Tôn giáo Chính phủ mà Đảng, Nhà nước,
Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và mọi
thứ tay sai (như Ủy ban Đoàn kết Công giáo),
tất tất đều phải tăng cường
quản lư, vận đông, tuyên truyền. Công việc
đào tạo cán bô làm công tác tôn giáo được
Đảng đặc biệt chú ư : sẽ là công
việc đào tạo dài hạn. Các cán bộ này sẽ
được bồi dưỡng đúng mức. Một
Pháp lệnh về tôn giáo sẽ được ban hành nay
mai, dẫn tới một Luật về tín ngưỡng,
tôn giáo.
Tôi có cảm tưởng những
người dứt khoát đấu tranh cho tự do tôn giáo
trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn hơn,
họ sẽ bị cô đơn hóa hơn. Tại hải
ngoại công việc đấu tranh và hỗ trợ
người ở nhà hẳn cũng sẽ phức tạp
hơn.
Paris
17/05/03.
[1]
Viết Đảng chữ hoa không phải v́ đề cao
đảng cộng sản,
nhưng v́, như mọi người đều
biết, chế độ cộng sản, trong bản
chất của nó, không chấp nhận bất cứ
một tổ chức nào (tôn giáo, chính trị, văn hóa,
kỹ thuật...) bên ngoài ṿng kiềm tỏa của
đảng cộng sản. Một khi nắm
được chính quyền, đảng cộng sản
dùng mọi biện pháp, kể cả những biện pháp
nhân đạo, để trở thành Đảng, tức
thành cơ cấu tổ chức độc nhất và toàn
bộ của xă hội. Chỉ có tại những nước
dân chủ, người ta mới cần đặt tên cho
một đảng v́ tại những nước này có
nhiều chính đảng. Trong chế độ cộng
sản không có chính đảng, tức những tổ
chức chỉ tranh đấu trên b́nh diện chính trị
nhằm lên nắm chính quyền, chỉ có Đảng. Khi
người cộng sản nói : « tất cả là chính
trị », điều đó có nghĩa rằng kinh
tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật v.v.. tóm
lại, mọi lănh vực của đời sống cá
nhân, tập thể đều thuộc quyền
Đảng.
[2] Nghi quyết phân biệt hai
giai đoạn cách mạng, và viết : "Trong cách mạng xă hội chủ nghĩa,
vấn đề tôn giáo có những nội dung mới.
Năm 1990... ". Như vậy, cách mạng xă hội
chủ nghĩa khởi đầu từ năm 1990, khi
chỉ c̣n có 'định hướng xă hội chủ
nghĩa', tức từ khi Đảng bỏ rơi chủ
nghĩa xă hội ! C̣n trước đó Nghi quyết coi là "cách
mạng dân tộc dân chủ" ! Cải cách ruộng
đất, Vụ án Nhân văn Giai phẩm, Hợp tác xă,
Vụ án xét lại chống Đảng và tất cả
những ǵ xảy ra trong Nam sau 1975 cho đến 1990 đều
là cách mạng dân tộc dân chủ cả !
[3] Tài
liệu ‘Tối mật’ Kế
Hoạch 184 B, Phát triển
kinh tế, văn hóa, ổn định xă hội, xây
dựng cơ sở chính trị vùng núi, đồng bào dân
tộc thiểu số đang có đạo Tin Lành (03/05/1999)
cũng công nhận sự kiện cấm đạo
này : « Ở một
số tỉnh, do thấy nguy cơ của sự mất
ổn định, trong một số năm đă chủ
trương tiến hành các đợt chống truyền
đạo trái phép : Tuyên truyền phê phán âm mưu
kẻ xấu ; xử lư bằng pháp luật với
người truyền đạo ; yêu cầu
đồng bào cam kết bỏ đạo ; thậm chí
phạt tiền, phạt thóc (...). Nhưng nh́n chung (...)
kết quả rất hạn chế. Nơi làm mạnh th́
dường như sinh hoạt tôn giáo lắng xuống, âm
ỉ, đồng bào sinh hoạt không công khai. Bị thúc ép
nhiều hơn, đồng bào bỏ quê di cư sang
tỉnh khác, đi xa hơn vào các tỉnh Tây nguyên hoặc
chuyển sang theo công giáo. Giải quyết vấn
đề tôn giáo trực diện bằng cách phê phán,
ngăn chặn, thu hẹp, cam kết xóa bỏ đạo
đă không mang lại kết qua như mong muốn ;
đông bào theo Tin Lành mặc cảm, xa chính quyền hơn,
không nói thật, dấu giếm việc theo đạo
của ḿnh ». Chính quyền biết thế ít là
từ năm 1999. Nhưng những bản báo cáo của
Human Rights Watch hay của Amnesty chứng tỏ đồng
bào dân tộc thiểu số theo Tin Lành ngay lúc này đây,
tháng 04/03 đang bị bách hại nặng nề. Có lẽ v́ biết thế
nhưng bí thế trước sự « bùng nổ »
của Tin Lành nên chính quyền cứ tiếp tục làm càn?
[4]
Về điểm này, Kế hoạch 184A cũng nói rơ :
khi tổ chức Đại hội Đại biểu
Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành (miền Nam) năm
2000, chỉ làm cho « đồng bào Kinh ở
đồng bằng. Không
mở rộng ra vùng dân tộc ít người ở Tây
Nguyên, Nam Trường Sơn và những nơi mới theo
đạo ». Và
Đại hội lần thứ 32 của Hội thánh Tin
Lành miền Bắc năm 1999 tại Hà Nội cũng « không mời những
người theo đao Tin Lành trong đồng bào dân
tộc ».
[5] Thái
độ của Đảng đối với Thầy
Huyền Quang hiện nay nhằm ‘b́nh thường hóa‘
GHPGVNTN để bới đi được một cái gai
trong nước, và nhất là ngoài nước. Tiếp
tục khinh rẻ và bách hại GHPGVNTN lúc này, lợi ít
hại nhiều. Muốn kiềm chế những tăng
thống có uy tín với GH
một cách hiệu quả hơn không thể măi măi
để GH ngoài ṿng pháp luật. Nhưng làm cách nào
để GHPGVNTN có chỗ đứng xứng đáng, trong
khi GHPGVN vẫn « là tổ chức Phật giáo duy
nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam
về mọi mặt quan hệ ở trong nước và
nước ngoài như Hiến chương GHPGVN quy
định? Đây là vấn đề quan trọng cho chính
quyền trong những ngày tháng sắp tới. Và cũng quan
trọng không kém về phía nội bộ Phật giáo.
Vẫn là câu chuyện thống nhất Phật giáo.
Xin
trích lại điều tôi đă viết trong cuốn Đọc
Thông điệpHướng về Thế
kỷ XXI của HT Thích Huyền Quang (tái bản
tại Hoa kỳ, 2000) :
Muốn
có cái nh́n tương đối vô tư, nên xem hai chứng
từ của hai chứng nhân quan trọng : Bản
Nhận Định vế những sai lầm tai hại
của Đảng cs Việt Nam đối với nhân dân
và Phật giáo Việt Nam của thầy Thích Quảng
Độ và hồi kư của Đỗ Trung Hiếu, trong Phật
giáo Thống nhất/Thống nhất Phật giáo (nxb
Tin, Paris 1994). Thầy Quảng Độ viết : « Khoảng
đầu năm 1980,lần đầu tiên cố HT Thích
Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, TT
Thích Trí Tịnh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng
sự và TT Minh Châu Tổng vụ trưởng Tổng
vụ Giáo dục được Nhà nước cộng
sản mời với tư cách cá nhân đi dự cuộc
‘gặp mặt đầu năm‘ do ông Nguyễn Văn
Linh, bí thư thành ủy chủ tŕ... Ba vị về cho
chúng tôi biết có cả ḥa thượng Thích Đôn Hậu
(...) Về sau, cố ḥa thượng Trí Thủ
được ai đó bầu làm trưởng Ban vận
động thống nhất Phật giáo, TT Trí Tịnh phó
trưởng ban và TT Minh Châu làm thư kư. Từ đó ba
vị đi họp luôn, có khi ra họp ngoài Hà Nội, và
cứ mỗi lần đi họp về, các vị
đưa vấn đề ra trước Viện Hóa
Đạo xin góp ư kiến ». Sau này ḥa thương
Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo
sẽ được bầu làm Trị sự
trưởng của GHPGVN.
Mai ngày, khi hết
độc tài, những tăng ni phật tử thành tâm, dù
có những chọn lựa nào đi nữa, cũng phải
bắt tay nhau. (...) thán phục thái độ cương
nghị và dứt khoát của những Tăng Ni như
thầy Quảng Độ không có nghĩa là phải tố
cáo toàn thể các Tăng Ni thuộc Giáo hội Phật giáo
Việt Nam (tr. 87-88)
Trong số những tăng
ni phật tử tại các tự viện, các trường
Phật học (của GHPGVN) có bao nhiêu người thành
thực theo Đảng, bao nhiêu người v́ t́nh thế
ép buộc mà ít nhiều thỏa hiệp cho qua ngày, hoặc
châm chước để được việc? Tất
nhiên, nếu cương nghị cả như Thầy
Quảng Độ th́ c̣n ǵ bằng. Nhưng sự thể
đă không ra thế. Tôi có cảm tưởng rằng
năm 1981, một khi đă cam nhận sự hướng
dẫn của chính quyền, những người
đứng ra cáng đáng công việc thống nhất Phật
giáo Việt Nam đă bị bó buộc chấp nhận
nhiều điều họ không muốn chấp nhận và
đă cố gắng tối đa thực hiện những
ǵ có thể thực hiện được. Dù sao, ư chí
thống nhật Phật giáo Việt Nam đă có từ
trước khi có chính quyền cộng sản tại
Việt Nam, và tới nay vẫn chưa thực hiên. Hồi
đó, Đảng muốn thống nhất Phật giáo.
Tăng ni cũng muốn thống nhất Phật giáo.
Dĩ nhiên, đối với người phật tử,
thống nhất Phật giáo đơn giản là ...
thống nhất Phật giáo. C̣n đối với chính
quyền, thống nhất Phật giáo là sát nhập
Phật giáo miền Nam vào Phật giáo miền Bắc
(cũng như thống nhất đất nước là là
miền Bắc vươn dài tới miền Nam), mà
Phật giáo miền Bắc th́ đă ‘thống nhất’
với Đảng rồi.
Đàng khác, và đây là
điều hết sức quan trọng, đối
với Đảng, thống nhất Phật giáo chỉ có
nghĩa là thông nhất tăng ni (cũng như Ủy
ban Đoàn kết Công giáo yêu nước chỉ là Ủy ban
Đoàn kết linh mục tu sĩ yêu nước). Không
phải v́ Đảng nghĩ rằng nắm được
tăng ni là nắm được phật tử. Nhưng
v́ trong một thể chế toàn trị chuyên chính vô
sản, dân chủ tập trung, không thể có một
định chế, một tổ chức xă hội nào
nằm ngoài ṿng tay chính quyền. Đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết là đoàn kết
từng người Việt Nam một với Đảng, thông qua các
định chế xă hội của Đảng, tức
phải ly tán người dân ra khỏi mọi định
chế, mọi cơ cấu, mọi tổ chức có
trước (gia đ́nh, làng mạc, giáo hội, hiệp
hội...) để họ tay không gia nhập, tức
nộp ḿnh cho Đảng hay một tổ chức
ngoại vi của Đảng. Tăng ni th́ có GHPGVN,
phật tử th́ có Đoàn thanh niên công sản, Hội
phụ nữ, Hội nhà văn...
Trong Bản Nhận
Định, Thầy Thích Quảng Độ cho biết,
người cộng sản gọi Công giáo là cứt gà,
lết vào quần áo không thể rửa sach, chỉ có
cắt đi ; c̣n Phật giáo là phân gà, phủi đi là
xong. Phật giáo không có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ bằng Công giáo. Dễ thao túng. Nhưng đấy
là nói về tổ chức. Tăng ni bị thao túng, hẳn
cũng ảnh hưởng đến phật tử
tại gia. Có điều đạo Phật đă thấm
nhuần nếp sống người dân từ mấy ngàn
năm nay, kể cả người dân đảng viên. Thay
đổi ḷng người đâu có phải chuyện ngày
một ngày hai (mà phủi đi được).
(...) Thích Trí Thủ : Ôn
tâm sự với tôi (Đỗ Trung Hiếu) : Thống
nhất kiểu này, tới cũng khó mà lui cũng khó. Tôi
thưa với Ôn :Thực tế diễn ra có thể
tốt hơn. Mấu chốt bây giờ là con người.
Ḿnh phải uyển chuyển. Ôn đồng t́nh. Nhưng
ḷng không vui »
Nhưng
ḷng không vui ! Đọc, thấy thương mến Ôn
Già Lam. (tr. 93-96)
[6] Có người cho đó là hăng máu
tử đạo mà không hiểu rằng đó là khẳng
định và biểu lộ sức mạnh của sự
sống.
[7] Ngược lại, có lẽ chỉ có
mê tín dị đoan mới được Đảng cho
tự do thực sự v́ cái đó tự nó không thể có
sức phản kháng lại Đảng trái lại hoàn toàn
có lợi cho Đảng trong việc mê hoặc ru ngủ
quần chúng.
[8] Coi vụ ḍng Thiên An. Đất đai
của nhà ḍng, người của chính quyền đă mua
đi bán lại cho nhau. Chẳng tài nào đ̣i lại
được. Trừ khi...
[9]Nghị
quyết ra sau thư của Đc
Phạm Minh Mẫn, Tgm Sài G̣n, gửi cho Đại hội
của UBĐKCG. Thê nhưng Đc Mẫn vẫn đi
nước ngoài. Chứng tỏ Đảng tôn trọng
tự do tôn giáo của Đc Mẫn. Cũng như
Đảng đang tôn trọng tư do tôn giáo của
Thầy Huyền Quang.