Bài bào chữa về vụ án xét xử cựu phóng viên nguyên đại
tá quân đội
Phạm Quế Dương bị quy
kết tội danh gián điệp
Cộng
hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc
lập Tự do Hạnh phúc
Nhà văn Hoàng Tiến
Chiểu theo pháp
luật hiện hành Điều 56 Khoản 1/c Bộ
luật TTHS sửa đổi của nước CHXHCNVN,
gia đ́nh ông Phạm Quế Dương nguyên đại tá
QĐNDVN, nguyên tổng biên tập tạp chí Lịch sử
quân sự , có mời tôi làm bào chữa viên nhân dân cho vụ
sơ thẩm xét xử ông Phạm Quế Dương
với tội danh gián điệp sẽ diễn ra vào ngày tháng
năm 2004 tại toà án nhân dân thành phố Hà
Nội.
Cũng chiểu
theo Hiến pháp và luật pháp sửa đổi nhà
nước CHXHXNVN, tôi chấp nhận lời mời.
Tôi là Hoàng
Tiến, nhà văn, công dân nước CHXHCNVN, chứng minh
thư số 010455893, hộ khẩu thường trú Nhà A 11
Pḥng 420 Thanh Xuân Bắc Hà Nội.
Để
thực hiện quyền bào chữa trước toà công
khai, dân chủ và công bằng như đă ghi trong luật,
để chứng tỏ việc thượng tôn luật
pháp của ngành toà án từng tỏ ra yếu kém lâu nay, tôi
đề nghị lần này toà án Hà Nội hăy mở phiên
toà công khai như luật định, cho mọi
người vào dự tự do, lấy tranh luận thay
hỏi đáp, theo tinh thần cải tổ tư pháp
như báo chí đưa tin, tạo điều kiện
để tôi được tham dự phiên toà góp phần
bào chữa cho thân chủ tôi là ông Phạm Quế Dương
theo đúng luật.
Chiếu theo
luật định Điều 58 Khoản 3/a Bộ
luật TTHS sửa đổi, người bào chữa có
nghĩa vụ: "sử dụng mọi biện pháp do
pháp luật quy định để làm sáng tỏ những
t́nh tiết xác định người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo vô tội", tôi xin gửi
đến quư toà bài bào chữa như sau:
Trước
hết xin nói sơ qua về thân chủ của tôi
để hội đồng xét xử (HĐXX) cùng rơ.
Đại tá nhà báo Phạm Quế Dương là
người tham gia quân đội khá sớm, từ năm
1945. Ông là bậc lăo thành tiền khởi nghĩa,
được hưởng phụ cấp tiền khởi
nghĩa hàng tháng. Ông đă từng làm chính ủy sư
đoàn. từng đảm nhận trọng trách tổng
biên tập tạp chí Lịch sử quân sự. Ông c̣n là
một thương binh. Khi về nghỉ hưu ông tham gia
công tác xă hội trong câu lạc bộ các ḍng họ Việt
Nam của tổ chức UNESCO. Ông đă có thời giờ
trở về nơi quê hương bản quán là làng Tía
ở Hà Tây (tên chữ là Tử Dương) và nhận ra
nhiều điều mất mát đau ḷng suốt thời
gian xa quê tham gia cách mạng, nhất là những nơi
thờ cúng và những di tích lịch sử bị xâm
phạm nặng nề. Ông là trưởng ban liên lạc
đồng hương người làng Tía ở Hà Nội.
Ông đă tham gia khôi phục lại cái mà chúng ta
thường gọi là những vật thể mang bản
sắc truyền thống dân tộc Việt Nam.
Ông đă xót xa
việc đ́nh làng Tử Dương bị xâm phạm ngay
trong ḷng Hà Nội ở giữa phố Hàng Buồm. Đây
là ngôi vọng đ́nh của dân làng Tử Dương ra làm
ăn ở Thăng Long Kẻ Chợ từ xửa từ
xưa, hiện vẫn c̣n những giấy tờ chứng minh
sự sở hữu thuộc dân làng. Cuộc đấu
tranh kéo dài hàng chục năm cho đến tận hôm nay.
Không biết là chính quyền bất lực, hay có sự tiêu
cực ǵ ngầm, mà cứ lằng nhằng không ngă ngũ.
Ông đă khởi kiện, nếu trong nước không
giải quyết được, ông sẽ kiện ra quốc
tế. Ông c̣n xót xa về đền thờ chính họ
Phạm của ông, cụ Phạm Nhữ Tăng, một
danh tướng đời Lê, bị xâm phạm trong
biến động cải cách ruộng đất.
Người chiếm giữ ngôi nhà thờ biến thành nhà
ở lại là người có chân trong Đảng ủy
xă. Nên việc giải quyết cũng cứ lằng
nhằng. Ông c̣n tham gia xây dựng mộ thờ cụ Lê
Văn Thịnh vị tiến sĩ đầu tiên của
khoa bảng Việt Nam thời Lư, đă chịu cái án oan khuất
bị chết thảm thương. Ông tham gia giữ
lại chùa Một Cột (tức chùa Diên Hựu) không
bị lấn chiếm bởi công việc xây bảo tàng
Hồ Chí Minh. Ông đóng góp xây dựng miếu thờ bà
Nguyễn Thị Lộ người thiếp yêu của
Nguyễn Trăi chịu cái án vườn vải tru di tam
tộc; miếu dựng ở ven đê sông Hồng
thuộc xă Khuyến Lương.
Kể các
điều trên để ta thấy, một con
người như ông Phạm Quế Duơng, suốt
thời trai trẻ cầm súng bảo vệ tổ
quốc, hết chống Pháp, chống Mỹ, lại
chống Tàu xâm phạm biên giới 6 tỉnh phía Bắc;
về già ông lại hết ḿnh với công việc chung
đ́nh, chùa, miếu, nhà thờ tổ bị xâm phạm.
Những con người như ông Dương sống v́
nước v́ dân, chứ không thể làm điều ǵ
phản dân hại nước, không thể bao giờ làm
gián điệp.
Làm gián
điệp là những kẻ bán bí mật nhà nước
cho ngoại bang, để kiếm tiền làm giàu một
cách không vất vả, nhằm hưởng thụ một
đời sống vật chất xa hoa thừa thăi. C̣n
đại tá nhà báo Phạm Quế Dương sống
rất giản dị. Nhà ông ở đúng tiêu chuẩn nhà
phân phối theo quân hàm sĩ quan trong khu tập thể quân
đội 37 Lư Nam Đế. Không có biệt thự trang
trại ǵ hơn. Chung quanh người ta cải tạo xây
dựng lên tầng ầm ầm, c̣n nhà ông Dương,
trần nhà cũ kỹ có lần sập xuống làm bà
Dương và cháu ngoại hút chết. Đồ
đạc trong nhà tuyềnh toàng không lộng lẫy
đắt tiền như ai. Ăn uống thanh đạm.
Ông không nghiện bia, không nghiện rượu, không chơi
bời. Không đi xe máy. Không sắm ô tô. Ông sống cởi
mở, rất được cảm t́nh cùa bà con khu
tập thể. Ông sẵn ḷng giúp đỡ những
người khốn khó t́m đến với ông, chia sẻ
với họ đồng lương cuối cùng trong tháng.
Những con
người như thế mà làm gián điệp
được sao? Đồng tiền gián điệp
họ kiếm được để làm cái ǵ? Những
ai, dù gặp ông Dương có một lần, thảy
đều quư mến ông, kính trọng ông. Không có một
luận cứ tâm lư nào về tinh thần lẫn vật
chất thúc đẩy ông Dương đến với
tội danh gián điệp.
Người ta
muốn kết tội ông với tội danh gián
điệp để làm mọi người khiếp
sợ, gây sự hiểu lầm ông, nhằm một mục
đích khác. Đó là những việc ông Dương đă
làm, tuy không vi phạm luật pháp, nhưng lănh đạo
rất ngại, rất sợ, và họ muốn trừng
phạt ông.
Vậy ông
Dương đă làm những việc ǵ?
1). Ông Phạm
Quế Dương đă viết đơn xin ra khỏi
Đảng để phản đối việc
Đảng khai trừ tướng Trần Độ.
Một con người như tướng quân Trần
Độ mà bị khai trừ khỏi Đảng th́ cái
Đảng này biến chất rồi, không c̣n là
Đảng của Hồ Chí Minh nữa. Lâu nay Đảng
đă làm nhiều việc mất niềm tin trong nhân dân.
Nhân dân xa lánh Đảng. Ông đă phát biểu một câu
xanh rờn, mà những người có chức có quyền
rất lo sợ: "Đảng đă khai trừ ông
Trần Độ th́ nhân dân sẽ khai trừ
Đảng." Và ông viết đơn xin ra khỏi
Đảng.
Lời ông nói
đă chứng nghiệm. Nhân dân ngày càng xa lánh Đảng.
Những đảng viên có chức có quyền ngày càng
tệ hại, tham ô, quan liêu, hủ hoá, lăng phí, sống phè
phỡn trên cuộc sống c̣n đầy vất vả
của nhân dân. Một bữa nhậu của các quan
chức tốn kém hàng chục triệu đồng. Họ
xây biệt thự, lập trang trại, sắm ô tô Nhật
xịn, ô tô Mỹ xịn, đi săn và chơi gôn. Trong
khi đó th́ báo chí hô hào cứu đói cho vùng sâu vùng xa, hô hào
quỹ giúp đỡ người nghèo tận thu từ 2
chục ngàn, 5 chục ngàn của các cháu học sinh xin cha
mẹ để đóng góp. Nạn tham nhũng ngày càng phát
triển, đă trở thành quốc nạn, không tài nào
chống được. Mà chống làm sao được,
v́ chính những người có chức có quyền lại
tham nhũng. Không nhẽ ḿnh lại chống ḿnh. Chỉ có
nhân dân, những người không ngồi ghế chức
quyền mới chống được tham nhũng mà thôi.
Do đó ông Dương đă đi đến việc
thứ hai.
2). Việc làm
đơn xin thành lập Hội nhân dân Việt Nam giúp
Đảng và Nhà nước chống tham nhũng gọi
tắt là Hội nhân dân chống tham nhũng. Đáng ra th́
Đảng và Nhà nước phải hoan nghênh việc làm
này. Nhưng công an lại mở một đợt khủng
bố bắt những người làm đơn lên xét
hỏi. Vậy ai vi phạm luật pháp? Việc ông
Dương cùng một số các cựu chiến binh làm
đơn xin thành lập Hội là thực hiện
quyền công dân đă được ghi rơ ràng trong Hiến
pháp và luật pháp, và nhất là hưởng ứng lời
kêu gọi hùng hồn chống tham nhũng của tổng
bí thư Nông Đức Mạnh khi vừa nhậm chức.
C̣n việc cho hay không cho là quyền của Đảng và
Nhà nước. Đảng và Nhà nước cho th́ chứng
tỏ là muốn chống tham nhũng thật. Không cho là
chỉ chống giả vờ, chống cửa miệng
thôi.
Lá đơn
đă làm xong nhiệm vụ của nó. Quả thật cho
đến hôm nay không thấy tuyên truyền ầm ĩ
chống tham nhũng nữa. C̣n tham nhũng th́ cứ phát
triển ra mọi ngành mọi cấp, ngang nhiên ở mọi
nơi mọi chốn, ai ai cũng nh́n thấy (lương
bổng như thế th́ làm sao các quan chức xây nhiều
biệt thự, lập trang trại, sắm xe hơi
nhiều đến thế?! lại trong một thời
gian kỷ lục đến thế?! chỉ vài ba năm
sau khi lên chức vụ này nọ. Có quyền tất có
tiền. Vậy tiền lấy ở đâu?), nhưng
mọi người chỉ khoanh tay đứng nh́n, mở
to mắt trông, v́ dân th́ không được phép chống.
3). Việc ông
Dương kư tên tập thể gửi lănh đạo
Đảng và Nhà nước tố cáo về vi phạm dân
chủ, vi phạm quyền công dân và quyền con
người ở nước ta. Lá đơn gửi ngày
6-7-2002 đă đưa ra những chứng cớ hết
sức rơ ràng:
· Việc bắt
cựu chiến binh Vũ Cao Quận trên đường
từ Hà Nội về Hải Pḥng ngay sau khi ông Nông
Đức Mạnh nhậm chức tổng bí thư
được hai hôm.
· Công an thành
phố HCM chặn bắt thu giữ bản thảo của
tướng quân Trần Độ trên đường
phố Sài G̣n.
· Công an thành
phố Hà Nội bắt xét hỏi các ông Phạm Quế Dương,
Trần Khuê, Hoàng Minh Chính cùng gần 20 người khác
bị sách nhiễu vào ngày 5-9-2001 làm náo động cả Hà
Nội, sau lá đơn xin thành lập Hội nhân dân
chống tham nhũng gửi ngày 3-9-2001.
· Tổ chức
đấu tố (như đấu tố hồi Cải
cách ruộng đất) khắp các khối dân cư nơi
cư trú của các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế
Dương, Lê Chí Quang ... suốt tháng 9 và tháng 10 năm 2001
· Bắt nhà thơ
Bùi Minh Quốc trên đường về Đà Lạt, sau
một chuyến đi t́m hiểu vấn đề biên
giới Việt-Trung cuối năm 2001. Nhà thơ bị quản
chế tại gia 2 năm. Cùng cảnh bị quản
chế c̣n có nhà nghiên cứu văn hoá Trần Khuê và
tiến sĩ sinh vật học Hà Sĩ Phu.
· Tháng 1-2002 thứ
trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin Phan Khắc Hải kư
quyết định truy t́m và tiêu hủy một số sách
của những người dân chủ.
· Bắt giam
một loạt những trí thức trẻ vu cho họ
tội danh gián điệp như luật gia Lê Chí Quang,
cựu chiến binh nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, bác sĩ
Phạm Hồng Sơn, (hồi này cựu phóng viên tạp
chí Cộng Sản Nguyễn Vũ B́nh chưa bị
bắt).
· Cắt
điện thoại gia đ́nh các ông Hoàng Minh Chính, Phạm
Quế Dương, Hoàng Tiến, Trần Khuê, Trần
Dũng Tiến, Hà Sĩ Phu,
Bùi Minh Quốc, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ B́nh. Nguyễn
Đan Quế ... ...
· Sách nhiễu giam
cầm hàng loạt tín đồ và các chức sắc tôn
giáo. ... ...
Kính thưa
Hội đồng xét xử,
Những việc
làm vừa kể trên của thân chủ tôi, ông Phạm
Quế Dương, không vi phạm luật pháp. Dù nó có
thể làm các nhà lănh đạo không hài ḷng, thậm chí lo
sợ và tức tối. Nhưng nó không vi phạm luật.
Nói gọn
lại, nó chỉ là những quan điểm khác với lănh
đạo, có thể là trái ư lănh đạo. Nhưng có quan
điểm khác nhau, trái ư nhau, không phải là một
tội. Điều 19 của đạo luật quốc
tế về quyền con người, cũng như
điều 69 của Hiến pháp Việt Nam về
quyền công dân đă nói rơ điều này.
Xin
được trích dẫn:
Điều 19
Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị, mà Việt Nam chúng ta tham gia kư kết ngày
24-9-1982, đă ghi nhận:
"Mọi
người đều có quyền giữ quan điểm
của ḿnh mà không bị ai can thiệp vào. Mọi
người đều có quyền tự do ngôn luận.
Quyền này bao gồm cả quyền tự do t́m kiếm,
nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ư
kiến, không phân biệt ranh giới quốc gia, h́nh
thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản
viết, bản in, hoặc bằng h́nh thức nghệ
thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện
đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn
của họ."
Điều 69
Hiến pháp Việt Nam ghi:
"Công dân có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền
được thông tin; có quyền hội họp, lập
hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật."
Điều 53
Hiến pháp Việt Nam c̣n ghi:
"Công dân có
quyền tham gia quản lư Nhà nước và xă hội, tham
gia thảo luận các vấn đề chung của cả
nước và địa phương, kiến nghị
với sơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà
nước trưng cầu ư dân."
Dựa theo
những điều luật trên th́ việc xin ra khỏi
Đảng, việc xin thành lập Hội nhân dân chống
tham nhũng, việc viết đơn kiến nghị
với Nhà nước của thân chủ tôi, những
việc làm ấy đều không phạm tội.
Bây giờ nói
đến việc quan hệ với nước ngoài và
nhận tiền của nước ngoài của thân chủ
tôi, mà do đấy, bản cáo trạng kết tội thân
chủ tôi làm gián điệp.
Trước hết
xin được bàn rơ về tội danh gián điệp.
Tội danh gián
điệp theo luật pháp Việt Nam quy định là
phải có yếu tố nước ngoài. Điều đó
cũng đồng nhất với quan niệm thông thường
của quốc tế về tội danh gián điệp.
Điều 80
BLHS Việt Nam ghi: "Người phạm tội gián
điệp là người cung cấp bí mật Nhà
nước cho nước ngoài hoặc cung cấp tin
tức tài liệu khác nhằm mục đích để
nước ngoài sử dụng chống nước CHXHCN
Việt Nam."
Định
nghĩa về gián điệp trong cuốn Từ
điển cô đọng tiếng Anh của Canađa
(Compact dictionary of Canadian English) là: "một nhân viên bí
mật được một chính phủ sử dụng
để thu thập tin tức về một chính phủ
khác." (Spy: a secret agent employed by a governement to get information
about another governement).
Cuốn Thuật
ngữ pháp lư phổ thông của Nhà xuất bản Pháp lư
dịch từ tiếng Nga (một công tŕnh tập thể
do các nhà luật học Liên Xô soạn) giải thích gián
điệp là lấy cắp hoặc thu thập những bí
mật nhà nước hoặc bí mật quân sự
chuyển cho nước ngoài hoặc chuyển cho một
tổ chức nước ngoài.
Từ
điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa từ
gián điệp: cung cấp bí mật quốc gia cho
nước ngoài, cung cấp tin tức tài liệu cho
nước ngoài.
Đọc
những cuốn sách Giáo tŕnh luật h́nh sự Việt Nam
của trường Đại học luật Hà Nội,
cuốn B́nh luận khoa học Bộ luật h́nh sự của
Viện nghiên cứu khoa học pháp lư, đều giải
thích rơ tội gián điệp là làm theo sự chỉ
đạo của nước ngoài.
Tóm lại,
tội danh gián điệp phải có yếu tố: làm tay
sai cho nước ngoài, làm theo sự chỉ đạo
của nước ngoài.
Vậy cáo
trạng muốn kết tội thân chủ tôi làm gián điệp,
th́ phải chỉ rơ ra ông Phạm Quế Dương làm
gián điệp cho nước ngoài nào? Nước Mỹ,
nước Anh, nước Pháp, hay nước Đức,
nước Nga, nước Trung Quốc?...Không thể là
nước ngoài chung chung, mơ hồ, không có xuất
xứ.
Thứ hai,
họ đă giao những nhiệm vụ ǵ? Và ông
Dương đă thực hiện những nhiệm vụ
ấy ra làm sao? Tác hại đến an ninh quốc gia
như thế nào?
Thứ ba, họ
đă trả công ông Dương bao nhiêu tiền? Ông
Dương nhận ở đâu? Bao nhiêu lần?
Muốn kết
tội một người vào tội danh quá nguy hiểm
này, khung h́nh phạt từ 12 năm tù đến chung thân,
có thể dẫn đến tử h́nh, th́ không thể làm
bừa, không thể làm liều, càng không thể mơ
hồ.
Bản cáo
trạng không tŕnh ra được những tang chứng,
vật chứng cùng những chứng lư kết tội thân
chủ tôi làm gián điệp, th́ xin HĐXX bác bỏ.
C̣n việc quan
hệ với Việt kiều ở nước ngoài càng
không thể thành một tội danh, chứ chưa cần
nói tới tội danh gián điệp. Do điều
kiện lịch sử người Việt Nam phải di
tản ra nước ngoài khá nhiều. Ruột thịt
với nhau, họ hàng với nhau, bè bạn với nhau,
thư từ điện thoại là chuyện b́nh
thường. Vài năm nay xuất cảnh, nhập
cảnh dễ dàng hơn, đi lại thăm nhau cũng
là chuyện b́nh thường. Giúp đỡ nhau thành lẽ
đương nhiên. Việt kiều không phải là
người nước ngoài. Họ sinh sống ở
nước ngoài, nhưng họ vẫn là ḍng giống con
Rồng cháu Lạc.
Không có
điều luật nào cấm nhận tiền của
Việt kiều hay của người nước ngoài.
Điều này Ban Tư tưởng-Văn hoá đă làm
một việc rất đáng chê trách, là vi phạm luật
pháp. Đảng đă đặt ra luật pháp th́
Đảng phải gương mẫu tuân theo mới
đúng. Điều 72 Hiến pháp Nước CHXHCNVN ghi:
"Không ai bị coi là có tội và phải chịu h́nh
phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án
đă có hiệu lực pháp luật." Bản thông báo
của Ban Tư tưởng-Văn hoá gửi đến
khắp các chi bộ trong toàn quốc, có nghĩa là công
bố với toàn dân, loan tin ông Dương làm gián
điệp, nhận tiền của nước ngoài
mấy chục ngàn đô. Trong khi toà án chưa xét xử.
Nếu pháp
luật nghiêm minh có thể khởi tố việc vi
phạm pháp luật của Ban Tư tưởng-Văn hoá
Trung ương, về sự coi thường luật pháp,
về sự kết tội bừa băi người dân, vi
phạm quyền công dân, vi phạm quyền con
người.
Việc ông
Dương nhận mấy chục ngàn đô đâu
bằng ông Đỗ Mười, cựu tổng bí thư
Đảng, nhận hẳn một triệu đô tiền
biếu của tư bản Hàn quốc. Luật pháp nghiêm
minh th́ không có phân biệt. Mọi người đều
b́nh đẳng trước pháp luật.
Cái quan trọng
là số tiền đó dùng làm ǵ? Như trên tôi đă tŕnh
bày, ông Dương không phải là người ăn chơi
hưởng thụ. Ông không dùng tiền để xây dựng
biệt thự, mua sắm ô tô. Đến nỗi trần
nhà ông sập tư chết bà Dương và cháu ngoại. Theo
chỗ chúng tôi biết, ông gửi tiền đóng góp tu
bổ đ́nh chùa hay những di tích văn hoá bị hư
hại. Ông tích góp để đi kiện lấy lại đ́nh
Tử Dương cho dân làng. Kiện trong nước không
xong th́ ông kiện ra quốc tế. Bản thân ông có 7.000
đô tiền giải thưởng của tổ chức
nhân quyền Human Rights Watch. Ông không dám tiêu pha, dành tiền
ấy cho việc kiện tụng. Ông c̣n kêu gọi
những Việt kiều họ Phạm hiện di trú ở
các nước trên thế giới gửi tiền về xây
dựng lại nhà thờ tổ cụ Phạm Nhữ
Tăng, một danh tướng thời Lê, hiện đang
mất nơi thờ tự.
Những việc
ông Dương đă làm hay dự định làm đó không
hề vi phạm luật pháp. Những đồng tiền
ông Dương đă tiêu hoặc sẽ tiêu đều nhằm
mang lại ích lợi cho mọi người, cho dân làng, cho
ḍng họ, không có tơ hào cho gia đ́nh cho cá nhân dù chỉ
một đồng.
Không như
những ai kia, lợi dụng chức vụ tham nhũng
tham ô hàng tỉ đồng hàng chục tỉ đồng,
xây biệt thự, sắm ô tô, ăn chơi phè phỡn, mà
pháp luật ngoảnh mặt làm ngơ không sờ mó
đến.
Kính thưa
HĐXX,
Toà án là phải
xử theo luật pháp. Điều này là hiển nhiên ở
một đất nước có luật pháp. Không xử
theo luật pháp th́ cần toà án làm ǵ? Trong một xă hội
đông đúc dân cư tất phải có quy ước
đặt ra để mọi người không
được vi phạm. Người nào vi phạm th́
phải đưa ra toà xét xử. Toà xét xử dựa vào
cái ǵ? Dựa vào những quy ước đă
được đặt ra gọi là luật pháp. Không vi
phạm luật pháp th́ không sợ ǵ cả. Không ai có
quyền động chạm đến ḿnh. Người
dân có quyền làm tất cả mọi thứ trừ
những thứ luật pháp ghi cấm.
Rất đáng
tiếc là nhiều vụ án ở nước ta, nhất là
những vụ án về quan điểm tư tưởng,
thường là xử theo lệnh trên chứ không xử
theo luật pháp.
Không kể
những vụ án đă đi vào lịch sử làm đen
ng̣m lịch sử, như những toà án đặc biệt
hồi cải cách ruộng đất 1953-1954, vụ án Nhân
văn-Giai phẩm 1957
vụ Xét lại-Chống Đảng 1967, bắt là
bắt, giết là giết, tù đày là tù đày, không có
luật sư bào chữa, thậm chí không cần xét xử,
đă gây oan khuất cho biết bao nhiêu người
Chỉ kể ngay những vụ án xét xử
những người lên tiếng về dân chủ
khoảng mươi năm trở lại đây: vụ
xử ông Hoàng Minh Chính và ông Đỗ Trung Hiếu, vụ
xử ông Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiên Giang,
vụ xử ông Nguyễn Đan Quế, vụ xử ông
Đoàn Viết Hoạt, vụ xử luật gia Lê Chí Quang,
vụ xử cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn,
vụ xử bác sĩ Phạm Hồng Sơn, vụ xử
quyết tử quân Trần Dũng Tiến, gần đây
vụ xử cựu phóng viên tạp chí Cộng Sản
Nguyễn Vũ B́nh, và bây giờ là vụ xử đại
tá nhà báo Phạm Quế Dương làm gián điệp.
Những vụ
án này đă gây mất niềm tin trong nhân dân, mất
niềm tin vào luật pháp, nó chỉ chứng tỏ sự
tàn bạo. Nó làm nước ta bị thế giới lên án
vi phạm nhân quyền, không có tự do dân chủ. Chúng ta có
nên tiếp tục những vụ án như thế ở
đất nước ta không?
Là một
người ở cương vị bào chữa viên nhân dân
theo đúng luật định, tôi tha thiết mong các
vị trong HĐXX vụ án ông Phạm Quế Dương,
hăy nêu gương có một lần thượng tôn luật
pháp, mà xét xử chỉ căn cứ vào luật pháp, không
chịu một sức ép nào hết, dù ở trên dù ở
dưới.
Nếu chỉ
căn cứ vào luật pháp hiện hành ở nước
ta, cũng như luật pháp quốc tế về quyền
con người, th́, chúng tôi đủ cơ sở
để khẳng định rằng: thân chủ tôi, ông
Phạm Quế Dương không vi phạm bất cứ một
điều khoản nào. Nhất là tội gián điệp
càng không có lư do cấu thành tội phạm.
Tôi đề
nghị HĐXX, với lương tâm ngồi ghế quan
toà, chỉ dựa theo luật pháp th́ cũng chỉ có
một hướng xét xử: tha bổng, v́ thân chủ tôi
vô tội.
Những ngựi
như ông Phạm Quế Dương là những
người yêu nước. Trừng phạt những
người yêu nước là một tội ác. Nếu
cứ xét xử cho thoả ḷng tức tối của
lệnh trên, th́ người viết bài bào chữa này xin
chịu h́nh phạt cùng ông Phạm Quế Dương.
Người Việt Nam coi trọng đạo lư, tôi xin dâng
thân xác ḿnh để cảnh tỉnh những nhà cầm
quyền đừng nên làm điều thất nhân tâm quá
đáng.
Rất mong
HĐXX suy xét và phán quyết.
Hà Nội ngày 15 tháng 2 năm 2004
Bào chữa viên nhân dân
Nhà văn Hoàng Tiến
Địa chỉ: Nhà A 11
Pḥng 420
Thanh Xuân Bắc-Hà Nội
Nơi gửi:
+Tổng bí thư Đảng CSVN+Thủ tướng
Chính phủ
+Chủ tịch Nước+Chủ tịch Quốc
hội+Viện KSND
tối cao+Toà án ND tối cao+Mặt trận Tổ
quốc VN
+Hội Cựu chiến binh VN+Các cơ quan thông
tấn
và báo chí+Những ai quan tâm đến vụ án à