NHÂN QUYỀN
VIỆT NAM SOS TRONG MỘT THẾ GIỚI BÁ ĐẠO
Lâm Lễ Trinh
Thấm thoát trên một phần tư thế kỷ đă trôi
qua kể từ ngày Việt Nam bị nhuộm đỏ.
Tâm tư của tất cả chúng ta - những
người Việt bỏ xứ đi t́m tự do –
vẫn bàng hoàng về sự sụp đổ mau lẹ và
bất ngờ của khối Sô Viết và chư hầu
tại Đông Âu. Đồng
thời, chúng ta cũng thắc mắc v́ sao tàn dư
của Xă hội chủ nghĩa
tại Đông Á là
bạo quyền CSVN c̣n tồn tại dai dẳng cho
đến nay.
Hoa
kỳ bỏ cấm vận
năm 1994 và b́nh
thường hoá bang giao với Hànội tháng 7,1995. Sau đó, hằng niên, không có khóa
họp nào mà Quốc hội Mỹ không chỉ trích Việt
Nam đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền. Không năm nào
Hành pháp Hoa kỳ, do Bộ Ngoại giao thay mặt, lại
không lên án CSVN về vấn đề này. Liên hiệp
quốc, các hiệp hội báo chí, cơ quan bảo vệ
nhân quyền vv..cũng không ngớùt phản đối và
phê b́nh gắt gao chính sách phi nhân của chính phủ
Hànội. Nhà cầm quyền CS không mấy nao núng, chẳng
những thế, c̣n năïng tay thêm gần đây
đối với các người đối kháng.
Hôm
nay, chúng ta thử phân tách lư do của t́nh trạng này và
đề ra một số phương thức đối
phó. Nhưng trước hết, cần xác định danh
từ “nhân quyền” và thông hiểu, tổng quát,
những loại nhân quyền căn bản và những
bảo đảm quốc
tế.
A- Định nghĩa Nhân Quyền – Quá
tŕnh Liên Hiệp Quốc xây dựng Luật Nhân Quyền
Quần chúng
thường nhầm lẫn Nhân quyền và Dân
quyền, mặt khác lắm
khi lầm tưởng Nhân quyền có thể xung
đột với Chủ quyền Quốc gia.
Nhân
quyền có trước dân quyền và bao quát hơn dân
quyền. Nhân quyềnlà quyền bẩm sinh, do
Tạo hóa ban cho, xuất phát từ giá trị nội
tại của con người. v́ thế có tính cách thiêng
liêng và bất khả chuyển nhượng, không một
chính quyền nào có thể tước đoạt hay
phủ nhận, không một cá nhân nào có thể thủ
đắc nhân quyền
của kẻ khác. Một thí dụ cụ thể: Trong
mộtä xứ, dân quyền của người công dân là đầu phiếu, ứng
cử chức vụ công cử và tham chính. Nhân quyền có
tầm bảo vệ rộng hơn, không cho phép nhà cầm
quyền trong một nước giam cầm vô cớ,
kỳ thị quá đáng hay
đánh đập dă man chẳng những công dân của ḿnh
mà c̣n các ngoại kiều trú ngụ trên lănh thổ
nước ấy.
Từ
thế kỷ 18, một số quốc gia tân tiến đă
có bản Tuyên ngôn Nhân quyền riêng. Đó là trường
hợp của Anh quốc với Luật Nhân Quyền Bill
of Rights năm 1689, Hoa kỳ với bản Tuyên ngôn
Độc lập Declaration of Independence năm
1776 và Pháp, với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Quyền
Công dân năm 1789. Giữa quốc gia và người dân có một khế ước
mặc nhiên - mà Jean Jacques Rousseau mệnh danh contrat social
- căn cứ trên trách vụ
và bổn phận liên đới. Bởøi thế chính
quyền đương nhiệm
không thể trốn tránh bảo vệ nhân
quyền. Nhân quyền là
quyền của dân, không phải của quốc gia. Trong
một nước dân chủ, nhân quyền không đối
chọi với chủ quyền quốc gia. Trái lại,
sự tôn trọng nhân quyền luôn luôn đi đôi với
một thể chế dân chủ chính danh.
Từ những sự tàn sát khủng
khiếp thời Đệ nhị Thế chiến do
Đức Quốc Xă và đồng minh gây ra, đă phát sinh
hai tuyên cáo đức tin (declarations of faith): Hiến
chương Liên Hiệp Quốc (1945) và bản Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền (1948). Có nhu cầu khẩn
thiết đánh thức lương tri của nhân loại.
Nhân quyền đă trở thành một vấn đề toàn
cầu, không c̣n dành riêng cho nộâi bộ quốc gia hay nói
cách khác, nhân quyền được quốc tế hóa. Trong
lúc thế giới điêu tàn đang chú ư ưu tiên
đến vấn đề tái thiết và khủng hoảng hậu
chiến, việc sáng tác và chấp thuận bản
TNQTNQ quả là một kỳ
công, hệ trọng hơn cả bản HCLHQ. Công tác soạn thảo kéo dài
từ 1947 đến 1948 v́ vấp phải nhiều thắc mắc căn
bản khá phức tạp về triết thuyết, xă
hội, pháp lư và chính trị. Thái độ quyết
liệt và kiên tŕ của nhóm phụ trách thực hiện
bản Tuyên ngôn vượt qua mọi trở ngại.
Tại San Francisco, năm 1946, các nhân vật được
bầu vào tiểu ban soạn thảo gồm có bà Éleanore
Roosevelt, phu nhân của Tổng thống Hoa kỳ Franklin D.
Roosevelt, luật sư René Cassin, chủ tịch Tham Chính
Viện Pháp, triết gia Charles Malik gốc Liban, nhà ngoại
giao Trung hoa Peng Chung Cheng và luật gia Gia Nă Đại John
Humphrey, thuộc Đại học McGill. Gs Humphrey lúc đó
vừa 40 tuổi, là thành viên trẻ nhứt, cụt
một cánh tay trong tai nạn xe hơi và đang đứng
đầu phân khoa Nhân quyền tại Văn pḥng Tổng
thư kư LHQ. Được ủy thác đầu năm
1947 tŕnh bày một dự thảo sơ bộ tổng quát,
Gs Humphrey xuất nạp bốn tháng sau một tài liệu
400 trang lược tŕnh những nguyên tắc căn bản
cùng với nhiều trích lục về nhân quyền từ
các hiến pháp và văn kiện pháp lư. Mùa thu 1948, 23 trong tổng số 30 điều
khoản của bản TNQTNQ được chấp
nhận. Tám trong 58 nước thành viên của LHQ không
bỏ thăm., trong đó có Saudi Arabia, Nam Phi và vài
nước thuộc Khối Xô Viết.
Bản
TNQTNQ có tính cách phổ quát
(universal), không phỏng theo một mẫu mực riêng
biệt nào và liệt kê 26 nhân quyền căn bản về
dân sự, chính trị, kinh tế, xă hội và văn hóa giáo
dục. V́ chỉ là một văn kiện tuyên bố ư
định (déclaration d’intention) nên bản TNQTNQ ø không đặt ra những
biện pháp để chế tài sự vi phạm các nhân
quyền vừa kể. Trong điều 56, Hiến chương
LHQ, nêu ra một cách lỏng lẽo nghĩa vụ của
các quốc gia hội viên “đề xướng và
khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền cho tất
cả mọi người, không phân biệt chủng
tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo”.
Phải đợi 28 năm sau, một
số quốc gia mới chịu kết ước (1966) và
phê chuẩn (1976) hai Công ước Quốc tế có hiệu
lực ràng buộc, nghĩa là có giá trị pháp lư cao hơn
hiến pháp và luật pháp quốc gia. Đó là một
mặt, Công ước về những Quyền Kinh tế,
Xă hội và Văn hóa và
mặt khác, Công ước về những Quyền Dân
sự và Chính trị. Về cách thức thi hành, có một
khác biệt giữa hai Công ước: Khi kư Công ước
về Dân quyền và quyền Chính trị, các xứ kết
ước cam kết tự
chế và không vi phạm các quyền này như bắt bớ, giam cầm trái
phép, cấm truyền giáo, hành đạo..vv. Trong Công
ước về Quyền xă hội, kinh tế và văn
hóa, các quốc gia kết ưởc hứa thể hiện các chương tŕnh, kế hoạch do LHQ
đề ra trong lănh vực kinh tài và phát triển.
Ngày nay, LHQ quy tụ trên 185 nước
hội viên. Luật Quốc tế Nhân quyền là một
mạng lưới chằng chịt và gồm có bảøn
TNQTNQ, hai Công ước tế nêu trên và một số Công
ước bổ túc hay khai triển như Công ước
chống nạn diệt chủng (1949), Công ước
về Quy chế Tị nạn (1951), Công ước
chống Kỳ thị Chủng tộc (1965), Công
ước chống Kỳ thị Phụ nữ (1979), Công
ước chống Tra tấn hành hạ (1984), Công
ước về Quyền của Thiếu nhi (1989) v.v...
Như
đă vừa phân tách , những quyền con người
thật là bao quát và đa dạng. Đại cương,
nhân quyền có thể xếp thành ba loại: 1) Quyền
liên hệ đến Thân Thể (quyền sống,
không bị nô lệ, không bị giam cầm trái phép,
quyền được xét xử công khai và công b́nh
trtước Ṭa án..vv..) 2) Quyền
An cư Lạc nghiệp (quyền tự do cư trú và
đi lại, tự do xuất ngoại, quyền sở
hữu, quyền lảm việc và thành lập nghiệp
đoàn, quyền đ́nh công, quyền được
hưởng giáo dục, y tế..vv..) 3) và những quyền Tự do Chính trị và Tự
do Tinh thần (tự do tư tưởng, hội
họp, ra báo, lập hội, tham chính,..vv..)
II – CSVN lộng hành vi phạm nhân quyền. Lư do
của sự phản ứng tiêu cực của Thế
giới
Với mục
đích tuyên truyền, CSVN đă bịp bợm trưng bày trong bản Hiến
pháp năm1992, một “shopping list” khá đầy
đủ về những tự do căn bản mà chúng
không bao giờ thi hành. Các bộ luật H́nh sự và Lao
động của Việt Nam cũng thưà nhận cho vui (nhưng không áp dụng nghiêm
chỉnh) những quyền của bị cáo và các quyền
kinh tế xă hội Là thành
viên của Liên Hiệp Quốc sau năm 1975, chúng vi
phạm dài dài bản Hiến chương LHQ (kư năm 1945)
và bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (thông
qua ngày 10.12.1948).
Với Nhật,
Đại Hàn, Đài Loan và Phi Luật Tân, Việt Nam là
một trong năm nước Đông Á gia nhập hai Công
ước Quốc tế Nhân quyền nhưng – theo lời
của Dương Thu Hương – dến nay CS vẫn “đối
xử man rơ” với dân tộc của ḿnh. Chính
phủ Hànội đă ngáo ngổ coi thường khuyến
cáo của Đại hội Nhân Quyền Vienna (1993)
nhắc nhở “các nước kư kết phải chịu
trách nhiệm quốc tế về những hành động
vi phạm nhân quyền của họ”.ï
Trong nước,
những tháng gần đây, CS đàn áp mạnh hơn những tôn giáo hay cá nhân phê b́nh và
tố giác chính quyền: Ls Lê Chí Quang, Lm Nguyễn Văn Lư
và ba người cháu, Bs Nguyễn Đan Quế, giáo phái Hoà Hăo, đồng bào
Thượng thiểu số, nhà báo Nguyễn Vũ B́nh, tài
tử phim ảnh Đơn Dương, Bs Phạm Hồng
Sơn, Gs Trần Khuê, cựu chiến binh Nguyễn
Khắc Toàn và Trần Dũng Tiến..vv..Thông thường
Công an CS chụp mũ các người này là “gián
điệp, phản động, phá hoại an ninh quốc
gia” trongkhi hành động cuả họ có tính cách
ôn hoà và xây dựng.
Ngoài việc đưa ra một số ít nghi can trước Toà án với
cáo trạng bông lông và bất chấp thủ tục pháp lư,
các Ủy ban Nhân dân Tỉnh c̣n áp dụng vô tội vạ
với các thành phần bất đồng chính kiến
biện pháp quản chế hành chính chiếu theo
Nghị định số 31/CP ngày 14.4.1997. Thời hạn
quản chế kéo dài từ 6 tháng tới 2 năm.
Người bị quản chế phải cư trú ở
một nơi chỉ định, bị bao vây kinh tế,
cô lập với dân chúng và đặt dưới sự quản
lư, giáo dục của nhà chức trách điạ
phương.
Chính phủ
Hànội c̣n xử dụng tùy thích một số biện
pháp khác không kém thâm độc và cay nghiệt để hù dọa hay áp
đảo đối phương như a) Quản thúc tại gia
(nạn nhân thí nghiệm: Thích Huyền Quang, Thích Quảng
Độ, Thích Tuệ sĩ,
Nguyễn Hộ..) b) Quản
chế tư pháp những bị can đă thụ h́nh
(trường hợp Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Đổ
Trung Hiếu, Lê Hồng Hà ...) và
c) Đày đi giáo
huấn tại các Trại
Cải tạo (nạn nhân: Đoàn Viết Hoạt,
Nguyễn Đan Quế, Trần Danh San, các quân cán chính
Việt Nam Cọng ḥa...) Gs Nguyễn Đ́nh Huy, 71 tuổi,
cựu kư giả và sáng lập viên Phong trào Thống Nhất
Dân tộc và Xây dựng Dân chủ Việt Nam, bị giam
suốt 26 năm qua. Ông được tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporters Sans Frontières) xem như
một trong những tù lương tâm tiêu biểu nhứt
thế giới.
Nhà cầm quyền
VN vẫn giả điếc
trước những phản đối, can thiệp
và khiếu nại của Hộâi Ân xá Quốc tế, Asia
Watch, các tổ chức NGOs, cơ quan tư nhân và chính
phủ đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền....CSVN vi
phạm nhân quyền như cơm bửa. Phản ứng
rầm rộ, tùy lúc và thiếu kế họach
trường kỳ của cộng đồng
người Việt hải ngoại không gặt hái kết
quả thiết thực. Đối với Thế giới
Tự do hiện phải đương đầu với
những mối lo trọng đại như kinh tế xuống
dốc, nội bộ bất ổn, nạn khủng
bố tràn lan, chiến tranh
đe dọa, bệnh AIDS gia tăng..., nhân quyền không c̣n được chú tâm hàng
đầu. Đặc biệt tại Việt Nam, chính
phủ bưng bít tin tức, tuyên truyền lạc
hướng, cô lập sít sao các nhóm đối kháng, cắt
điện thoại, tịch thu máy điện thư,
cấm xuất ngoại..vv... Quần chúng vật lộn
vất vả với miếng cơm, manh áo hằøng ngày,
không c̣n thời giờ và tâm
trí nghĩ đến nhân
quyền và chính trị. Mặt khác, CS không ngán sự
chống đối lẻ tẻ, rời rạc, kém tổ
chức và thiếu lănh đạo ở bên trong và ngoài
nước. Khoán trắng cho siêu cường Hoa kỳ gây
áp lực trong lănh vực nhân quyền là ‘bán lúa giống”.
Thật vậy, Dân chủ và Nhân quyền từ lâu và trong
nhiều trường hợp, là hai vơ khí mặc cả
của Hoa Thịnh Đốn để xây dựng bá
quyền. Để tham chiến tại Kosovo và triệt
hạ nhà độc tài Milosevic,
Mỹ đă nêu một quyền mới: “quyền
can thiệp v́ lư do nhân đạo”. Nhưng Hoa Thịnh
Đốn làm ngơ để Nga và Tàu tàn sát lương
dân tại Chechnya và Tân Cương. Trong hiện tại,
bất cứ chính thể chuyên chế nào ủng hộ đường lối chốàng
khủng bố và kế hoạch “tiên vi thủ, hậu
vi cường” (preventive strike) của Mỹ th́
được Mỹ dễ dải, nương tay.
Điều oái oăm là chính phủ Hànội công khai khủng bố dân Việt
nhưng không ngượng miệng lên án khủng bố.
Trong khi đó, cánh chống
Mỹ, đa số thuộc khối Á rập, lại
tố ngược Hoa kỳ khủng bố các nước
thế cô.
III – Thử
đề nghị vài biện pháp đối phó
Tổng thống
Abraham Lincoln có nói: “ Nếu v́ tham sinh huư tử, một
quốc gia chấp nhận hy sinh một ít tự do
để hưởng chút đỉnh an ninh th́ quốc gia
ấy không đáng được hưởng tự do.”
Trong công việc đấu tranh cho Dân chủ và Nhân
quyền tại Việt Nam, người dân Việt,
bởi thế, phải gánh vai tṛ chủ động. Không
bi quan quá đáng, không lạc quan tếu, không ngây ngô
vọng ngoại. Phải khách quan nhận thức thời
thế để hành động đúng mức, dựa vào
sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Hơn một
thập niên, CSVN hứa hẹn “đổi mới”
nhưng thực tế, đến nay họ chỉ
đổi ghế. VN hiện sống èo ọt với hai di
sản: di sản ngoại bang Mác-Lê-Mao không nuốt trôi,
không tiêu hoá nổi. Và một di sản nội hoá, đó là
chế độ tham nhũng bất trị do Hồ khai
sinh.
Nhóm mafia cầm
quyền phải chọn lựa: Theo Hoa kỳ (nghĩa là
nghiêm chỉnh thi hành Hiệp ước Thương
mải đă kư kết) th́ ră
Đảng, c̣n theo Trung Hoa th́
mất đất. Để tồn tại, Chính Trị
Bộ đă u tối chọn giải pháp thứ hai
bằng cách kư lén nhượng môt phần lănh thổ và vùng
biển cho Bắc kinh.
CSVN chủ
xướng hoà giải, hoà hơp dân tộc, giao lưu
văn hóa. Không thể
chấp nhận chính sách một chiều, bịp bợm,
tuyên truyền phỉnh gạt này được. Thật
vậy, CS không quyết tâm hoá giải, chỉ muốn
hợp nhất và ù ĺ từ
chối đa nguyên. Xă hội chủ nghĩa không thể
tránh bị Lịch sử đào thải. Nếu không
bằng Cách mạng đổ máu (revolution) th́ cũng
bằng áp lực giải thể của Thế giới (evolution).
Vấn đề chính yếu hiện tại không phải
là “CS chừng nào sụp đổ? “ mà là “cánh chủ
trương dân chủ hóa đất nước có sẳn
sàng thay thế hay không?
với một chính thể ra
sao? và đang làm ǵ để
rút ngắn ngày ra đi của CS?”
Trong phạm vi
đấu tranh cho Nhân quyền, cần có sáng kiến và
nhận xét thực tế để thay đổi
chiến lược và biện pháp, tùy giai đọan, nhu
cầu và phương tiện. Cần phân biệt khả
thi và bất khả thi, đồng thời đặt
thứ tự ưu tiên thi hành các kế hoạch. Sau đây
chúng tôi xin mạo muội đề nghị, một cách
đại cương và không
giới hạn, vài công tác
khẩn yếu:
1- Bằng kỹû thuật, phá hủy
“bức tường lửa” được Hànội
dựng lên trên internet để chận các tin tức và tài
liệu về dân chủ và nhân quyền do hải ngoại
phổ biến ào ạt vào quốc nội. Đến nay,
có nhiều phí phạm v́ đường lối đánh vơ
tự do. Cầân thống nhất và kế hoạch hoá tùy
phần chuyên môn và phương tiện. Chọn kỷ các
đề tài tuyên truyền hấp dẫn, thic1h hợp,
đánh trúng đích và phản
ứng nhạy bén. Mở thêm nhiều đài ra-dô và
truyền h́nh hướng về VN. Xử dụng triệt
để và tối đa các điện thoại cầm
tay (cell phones) để tránh sự kiểm soát bên trong.
Tạo nhịp cầu khắng khít và mau lẹ giữa
thính giả nội địa và quốc ngoại, nhắm
vào đại chúng, đặc biệt phần tử đối kháng trong hàng ngũ CS. Bằng mọi cách, xây dựng một
khối cảm t́nh trong giới truyền thông quốc
tế, biến họ thành đồng minh.
2- Củng cố khối áp lực chính
trị (lobby) tại hải ngoại. Lâp hội cử tri
gốc Việt tại các địa phương, cổ
động ghi danh đi bầu, thuyết tŕnh và cung
cấp tài liệu về VN, tổ chức tiếp xúc thường
xuyên với các dân biểu, nghị sĩ, nghị viên thành
phố...Khuyến khích và ủng hộ thành phần gốc
Việt có khả năng ra ứng cử . Tham gia tích cực
những buổi hội thảo về VN tại các
Đại học hay Trung tâm Nghiên Cứu. Tự nguyện
đông đảo trong các hoạt động xă hội,
văn hoá, giáo dục, tôn giáo và từ thiện công cọng
để xác nhận sự hiện diện của
khối người Việt. Một cộng đồng VN
xứng đáng với danh xưng, bầu bán dân chủ,
đoàn kết chặt chẻ, với những gương
mặt có uy tín trong Ban chấp hành, sẽ dể dàng gây
quỹ để hoạt động và bắt tay trong
vấn đề lobby với các cộng đồng
sắc tộc thiểu số khác. Khi chấn chỉnh xong
các cộng đồng tiểu bang và khu vực, cần
nghỉ dến cách thức liên kết thành một mạng
lưới có tổ chức quy củ, nhắm mục phiêu
đấu tranh cao hơn.
3- Việc đưa tội ác CSVN ra
trước Toà H́nh sự Quốc tế là một công tác
cần nghiên cứu kỷ về nhiều phương
diện khá phức tạp: tư cách khởi tố,
tộâi danh áp dụng, tài liệu xuất nạp, chi phí tài
chính, thủ tục tố tụng, thời điểm vô
đơn, dư âm chính trị...Cộng đồng
của chúng ta không thiếu những luật gia
gỉỏi và đầy thiện chí. Cần lập
gấp một ủy ban để khảo sát tường
tận hầu có một quyết định sáng suốt và
khả thi
****
Trên đây chỉ là
vài ư kiến thô thiển phác
hoạ trong một buổi nóí chuyện ngắn
ngủi. C̣n nhiều biện pháp khác có thể hay hơn.
Chung quy, thực hiện thành công hay không tùy thuộc mật
thiết đến ư chí đoàn kết của mọi người để hành
động chung. Đoàn kết, trong nhiều năm nay, là
vấn đề gay go then chốt. Nói dễ, làm khó. Tuy
nhiên đoàn kết sẽ không nan giải nếu tất
cả quyết tâm đặt sự tồn vong của
đất nước trên tị hiềm và dị biệt
cá nhân; nếu số đông t́nh nguyện làm cái đuôi thay
v́ mổi người đều dành làm cái đầu; nếu chúng ta nói it hơn ,
chịu khó lắng nghe và hành động, thay v́ phê b́nh và chỉ trích tiêu cực.
CSVN gian ác , khởi đầu cuộc chiến, chỉ là
thiểu số. Chúng biết kết bè, kết đảng
để tiếm quyền và áp đảo đa số.
Tại sao người Việt quốc gia, thường
tuyên bố là nắm chính nghĩa trong tay, lại không
thể hợp quần để đưa xứ sở ra
khỏi cái nhục mạc xít và vũng lầy chậm
tiến? V́ chia rẻ, chúng ta đă tạo sức mạnh
cho CS và giúp chúng sống cầm hơi. Phải chăng chính chúng ta đă làm cho chúng ta
mất nước?
Đoàn kết
giữa người Việt trong, ngoài sẽ xóa bỏ “ hội chứng
chờ đợi”: Già
đợi trẻ và trẻ chờ già “nâng cao ngọn đuốc”; tiền tuyến và
hậu phương chờ lẫn nhau “phất cờ
khởi nghĩa”. Trông chờ ṃn mỏi, để rồi
xoay qua ước mơ
đồng minh đế quốc “bực đèn xanh”.
Từ vọng ngoại đến vong bổn
chỉ có một bước!
Đoàn kết cũng sẽ chấm dứt cái
“dị ứng tổ chức” một cơ chế
thống nhất cho phe đấu tranh dân chủ, nhân
quyền tại VN. Chúng ta
cần một cơ chế danh chính, ngôn thuận, có cán bộ, kỷ luật , kế hoạch, chính sách và uy
thế quốc tế để đối đầu
hữu hiệu với CS. Một cơ chế khảơ
dĩ cuốn hút
được đa số thầm lặng, thay v́
buông tay cho các tên
đầu cơ và phiêu lưu hoạt náo chính trường, làm tṛ cười
cho thiên hạ.
Yeltsin, người
thay đổi bộ mặt của Nga Sô, trưởng
thành trong cái ḷ mạc xít, đă lên tiếng cảnh giác
thế giới: “Cộng sản không bao giờ sửa đổi.
Chúng chỉ có thể bị thay thế mà thôi”. Học
giả Pháp Jean Francois Revel khẳng định dứt khoát
hơn: « Cách hay nhất để canh tân Xă hội
chủ nghĩa là tẩy xoá nó đi ».
Xin cám ơn sự chú ư của Quư vị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Universal Declaration of Human Rights (december 10,
1948)
2. International Covenant on Civil and Political
Rights (1966)
3. International Covenant on Economic, Social and
Cultural Rights (1966)
4. Dự thảo Hiến pháp VN, của
Đào Tăng Dực, nxb Việt Luận Australia, 2001
5. Human Rights Handbook, 1998 by Nguyễn Hữu
Thống, nxb Hương Quê, Californie
6. bài “Nhân quyền, điều kiện
tiên quyết để phát triển Dân chủ tại
Việt Nam” của TS Phạm Văn Song, Paris (2002)
7.
Các bài của LS Lâm Lễ Trinh trong các báo: « Droits de
l’Homme:La Politique déconcertante des États-Unis” (2001); « Les
Droits de l’Homme sont Universels » (1999) ; « Quyền
can thiệp v́ Nhân đạo, một sáo ngữ ? »
(2001) ; « Sau ngày 11.9, Dân chủ và Nhân Quyền
sẽ bị thử thách nặng hơn »
(2001) ; « Nhân quyền, Cuộc cách mạng cứu
rổi thời đại » (1998) ; « Nhân
quyền và Bá đạo » (1999) ; « Đồng bào của chúng tôi
không bao giờ khuất phục ». diễn văn ngày
10.5, 2002 tại Thượng viện Hoa kỳ nhân ngày
Lễ Nhân Quyền VN.