26 Năm giam giữ và
quản thúc
Sakharov của Việt
Nam
Luật Sư
Nguyễn Hữu Thống
Trong 26 năm qua, từ
1978 đến 2004, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
mệnh danh là Sakharov của Việt Nam, đă bị nhà
cầm quyền Hà Nội bắt giam 3 lần: lần thứ
nhất 10 năm từ 1978, lần thứ hai 8 năm
từ 1990, và tháng 3-2003 lại bị bắt giam lần
thứ ba và bị kết án 30 tháng tù ngày 29-7-2004. Với 20 năm thụ h́nh và 6
năm quản thúc, Bác Sĩ Quế không được
thở hít không khí tự do từ trên một phần tư
thế kỷ. Đây là thời gian thử thách sự can
trường và ḷng trung kiên của người sĩ phu uy
vũ bất năng khuất.
Bắt
giam 10 năm lần thứ nhất
Năm
1978 Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thành lập Mặt
Trận Dân Tộc Tiến Bộ nhằm giải thể
chế độ độc tài đảng trị. Ông bị công an bắt giữ
về tội “tuyên truyền chống chế độ xă
hội chủ nghĩa” và bị giam giư ơ10 năm trong
các trại cải tạo. Năm 1988 ông được
phóng thích do sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc
Tế mà ông làø đại diện chính thức tại
Việt Nam.
Không
có sự chối căi là từ 1978 đến 1988, Bác Sĩ
Quế đă bị bắt giam tại các trại lao
động khổ sai, mặc dầu ông không bị truy
tố ra ṭa và không bị kết án.
Chiếu
Điều 14 Công Ước về Những Quyền Dân
Sự và Chính Trị (CUDSCT) “bị
cáo có quyền được suy đoán là vô tội
cho đến khi bị chứng minh là có tội theo
luật”. Là một quốc
gia hội viên Liên Hiệp Quốc đă gia nhập CUDSCT
năm 1982, Việt Nam có nghĩa vụ phải tôn trọng
quyền của bị cáo được suy đoán là vô
tội.
Hơn nữa,
Hiến Pháp Việt Nam cũng minh thị cam kết tôn
trọng quyền suy đoán vô tội của bị cáo trong
Điều 72: “Không ai bị
coi là có tội và phải chịu h́nh phạt khi chưa có
bản án kết tội của ṭa án đă có hiệu
lực pháp luật.”
V́ không
có ṭa án nào truy tố và kết án Bác Sĩ Quế về
tội tuyên truyền chống chế độ, nên sự
bắt giữ và giam cầm ông trong 10 năm từ 1978
đến 1988, phải bị coi là độc đoán
(arbitrary arrest and detention) Chiếu
Điều 71 Hiến Pháp và Điều 9 CUDSCT “công dân có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, có
quyền tự do thân thể, an ninh thân thể và không
bị bắt giam độc đoán”.
Bắt giam 8 năm
lần thứ hai.
Tháng 5,
1990 Bác Sĩ Quế phổ biến Lời Kêu Gọi
của Cao Trào Nhân Bản đ̣i thực thi quyền dân
tộc tự quyết và thiết lập dân chủ pháp
trị.
Một tháng sau ông bị bắt giữ
và truy tố về tội phản nghịch hay “hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”
với h́nh phạt từ 12 năm đến tử h́nh.
Về phương diện pháp lư
phổ biến lời kêu gọi đ̣i thiết lập
chế độ tự do dân chủ không phải là hành
động nhằm lật đổ chính quyền. Không ai có thể lật
đổ chính quyền đơn thuần bằng
những lời kêu gọi.
Giữa thế kỷ 19 Các Mác công bố Bản Tuyên
Ngôn Đảng Cộng Sản, kêu gọi vô sản toàn
thế giới đứng lên dùng vơ trang lật đổ
chế độ tư bản.
Vậy mà Ṭa Án Luân Đôn cũng không truy tố ông ta
về tội âm mưu lật đổ chính quyền
tư bản.
Khi
phổ biến lời kêu gọi đ̣i tự do dân
chủ, Bác Sĩ Quế chỉ hành sử quyền đạo đạt thỉnh
nguyện lên nhà cầm quyền để yêu cầu
sửa đổi đường lối và chính sách
quốc gia. Đó là quyền tham gia chính quyền
được quy định trong Điều 53 Hiến
Pháp và Điều 25 Công Ước Dân Sự Chính Trị:
“Ai cũng có quyền tham gia
chính quyền của quốc gia ḿnh”. Tham gia chính quyền trực
tiếp bằng cách ứng cử vào các chức vụ công
cử, gián tiếp bằng cách bầu lên các đại
biểu, hoặc bằng cách đạo đạt
thỉnh nguyện yêu cầu nhà cầm quyền sửa
đổi đường lối và chính sách quốc gia.
Do đó
bắt giam Bác Sĩ Quế về việc đạo
đạt thỉnh nguyện lên nhà cầm quyền là
độc đoán.
Nó c̣n độc đoán v́ vi phạm
Điều 69 Hiến Pháp và Điều 19 CUDSCT theo đó “Mọi
người đều có quyền
tự do thông tin và tự do phát biểu, quyền này
bao gồm quyền tự do phổ biến các tin tức ư
kiến bằng mọi phương tiện truyền thông,
không kể biên giới quốc gia”, dầu rằng
những ư kiến này khác biệt với ư kiến của
nhà nước, hay những tin tức này bất lợi cho
nhà cầm quyền.
Với
sự quy định tội trạng (tuyên truyền
chống chế độ, phản nghịch hay gián
điệp) quá bao quát và mơ hồ và sự giải thích
h́nh luật quá rộng răi, ṭa án đă bắt giam và kết
án oan uổng những công dân lương thiện muốn
đ̣i cải thiện đường lối và chính sách
quốc gia.
Hành
động này vi phạm Điều 15 CUDSCT theo đó “không
ai có thể bị kết án về một tội h́nh
sự do những điều ḿnh đă làm, nếu
những điều này không cấu thành tội h́nh sự
chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc
tế”, luật pháp quốc tế là những nguyên
tắc pháp lư phổ biến được thừa
nhận bởi cộng đồng các quốc gia. Những nguyên tắc này
được quy định thành văn trong Luật
Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm những điều
khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước
Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự Chính
Trị, và Công Ước Quốc Tế về Những
Quyền Kinh Tế Xă Hội Văn Hóa, cũng như trong các
công ước bổ túc và khai triển.
Chiếu theo Luật Quốc Tế Nhân
Quyền, Bác Sĩ Quế không phạm tội ǵ trong
việc phổ biến Lời Kêu Gọi năm 1990. Do đó sự bắt giam ông
lần thứ hai trong 8 năm, từ 1990 đến 1998,
phải bị coi là độc đoán.
Thực ra Bác Sĩ Quế đă bị
kết án 20 năm tù và 5 năm quản chế ngày
29-11-1991. Một tháng sau
Hội Ân Xá Quốc Tế đệ đơn khiếu
tố chính phủ Hà Nội về sự bắt giam
độc đoán này. Và ngày
30-4-1993, Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc qua
Khối Công Tác về Giam Giữ Đôäc Đoán đă tuyên
Nghị Quyết lên án nhà cầm quyền Hà Nội đă
bắt giam độc đoán Bác Sĩ Nguyễn Đan
Quế.
Đến năm 1998, cùng với
một số tù nhân lương tâm khác, Bác Sĩ Quế
được ân giảm h́nh phạt và phóng thích
trước thời hạn.
Ông đă khước từ xuất ngoại sang Hoa
Kỳ. Theo ông đây chỉ là
một biện pháp lưu đầy để tước
đoạt tự do.
Bắt
giữ và kết án 30 tháng lần thứ 3.
Ngày 17-3-2003, Bác Sĩ Quế gửi văn
thư cho Chiùnh Phủ Hoa Kỳ và các tổ chức nhân
quyền quốc tế, tố giác chính phủ Hà Nội
nắm giữ độc quyền thông tin và độc
quyền báo chí.
Ông bị bắt giữ và truy
tố về tội gián điệp mà h́nh phạt có
thể đến tử
h́nh.
Theo
luật pháp phổ thông, tội gián điệp chỉ
cấu thành khi bị can cung cấp cho ngoại bang
những tin tức tài liệu liên quan tới an ninh
quốc gia, như bí mật quân sự, bí mật quốc
pḥng, bí mật nguyên tư,û để ngoại bang sử
dụng chống lại quốc gia và gây nguy hại cho
quốc gia.
Do sự quy định tội danh
cưỡng ép lố bịch này, và v́ những lư do thầm
kín khác, công tố viện đă cải tội danh, từ
gián điệp thành “lợi dụng quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Và
ngày 29-7-2004 vừa qua, Ṭa Án Saigon đă kết án Bác sĩ
Quế 30 tháng tù về tội này.
Đây
là một tội giả tạo không thấy trong các
bộ h́nh luật của các quốc gia dân chủ trên
thế giới.
Hơn
nữa tại Việt Nam ngày nay, v́ không có tự do dân
chủ nên không ai có cơ hội để lợi dụng
quyền tự do dân chủ.
Theo
nghĩa thông thường và nghĩa pháp lư, lợi dụng
phải được hiểu là hưởng dụng,
sử dụng hay hành sử (use, exercise). Do đó lợi dụng quyền
tự do dân chủ không phải là một tội h́nh sự.
Đây chỉ là việc hành sử hợp pháp
những quyền tự do dân chủ đă được
thừøa nhận bởi hiến pháp quốc gia và công ước
quốc tế:
a) Về
mặt văn hóa giáo dục, nếu có điều kiện,
sinh viên có thể lợi
dụng quyền tự
do đi lại, tự do xuất ngoại và hồi
hương để xuất dương du học, trau
giồi các kiến thức khoa học kỹ thuật
để một mai trở về kiến thiết
quốc gia.
b) Về
mặt chính trị, cử tri có thể lợi dụng quyền
tự do bầu cư,û dùng
lá phiếu để
truất phế hay lật đổ (trong ṿng ôn ḥa và
hợp pháp) các chính phủ độc tài, tham nhũng,
bất công hay bất lực.
c) Về mặt chủ quyền
lănh thổ chúng ta c̣n nghe tiếng thét của Phạm
Quế Dương trong phiên xử ngày 14-7-2004: “ Chúng tôi
không lợi dụng tự do dân chủ, chỉ dùng tự
do dân chủ dể đ̣i lại sự toàn vẹn lănh
thổ và lănh hải cho đất nước”.
Trong
những trường hợp kể trên, lợi dụng hay
sử dụng các quyền tự do dân chủ không những
là quyền lợi chính đáng, mà c̣n là nghĩa vụ cao quư
của công dân.
Trong
chiến dịch gia tăng đàn áp để củng
cố chính quyền, Đảng Cộng Sản đă
bịa đặt những tội trạng giả tạo
như tội lợi dụng quyền tự do dân chủ
để tước đoạt việc hành sử
những quyền tự do dân chủ của người
dân. Đây là một tội tổng quát mệnh danh là
tội Dùng Dân Chủ Chống Đảng.
Trong
thời gian vừa qua, trước áp lực quốc
tế và quốc nội, họï đă cải tội danh
gián điệp thành tội lợi dụng quyền tự
do dân chủ. Mục đích để giảm án cho 3
người cháu của Linh Mục Nguyễn Văn Lư là
Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường và
Nguyễn Thi Hoa, cũng
như 3 nhà cách mạng lăo thành Trần Dũng Tiến,
Trần Khuê và Phạm Quế Dương. Ba vị này
đă được phóng thích vài ba tuần sau phiên xử.
Riêng
trong vụ án Nguyễn Đan Quế họ đă tuyên
phạt 30 tháng tù trong khi ông
mới thụ h́nh được 16 tháng. Họ muốn kéo dài thời gian
giam giữ để làm áp lực và tạo phương
tiện trao đổi. Đổi sự phóng thích lấy
những thành quả chính trị. Chẳng hạn như
việc Hoa Kỳ yểm trợ Việt Nam gia nhập
Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế vào cuối
năm tới. Hay mậu dịch với tân tổng
thống Hoa Kỳ (nếu có) để tŕ hoăn, nhận ch́m
hay phúc nghị Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam
vừa được Hạ Nghị Viện thông qua.
Đối
với người Cộng Sản bất cứ hành vi nào
cũng có tính cách chính trị. Kư hiệp ước
ngoại giao hay tuyên bản án tư pháp cũng đều
vụ vào việc tranh thủ những mục tiêu chính
trị.
Bất
chấp Tín Nghĩa và Công Lư, phương châm hành
động của họ là cứu cánh biện minh cho
phương tiện.
Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG
Tháng 7-2004