ĐỌC “HỒ CHÍ MINH,
NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP”
CỦA MINH VƠ
Nguyễn
Ngọc Bích
Chủ nhật 25-4-2004 vừa qua, nhân
cuộc hội ngộ rất thành công (tại khách sạn
Hilton Southwest ở Houston, Texas) của khoảng 100 cựu
nhân viên thuộc các cơ quan truyền thông VNCH cũ
(Việt Tấn Xă, Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài
Truyền H́nh Sài G̣n), nhà xuất bản Tiếng Quê
Hương của nhà văn Uyên Thao đă ra mắt một
số sách của TQH. Dịp
này ông Nguyễn Ngọc Bích đă nói về cuốn sách
đồ sộ và mới nhất của nhà văn Minh Vơ,
một biên tập viên và b́nh luận gia kỳ cựu
của Đài Phát Thanh Sài G̣n, với nội dung như sau.
Đứng
trên b́nh-diện thuần túy lịch-sử th́ dù ghét hay
thương, ta cũng phải công-nhận là cái bóng của
Hồ Chí Minh đă và đang trải dài trên lịch-sử
đất nước chúng ta gần 3/4 thế-kỷ và nó
vẫn c̣n khả-năng ám-ảnh dân-tộc ta trong một
thời-gian dài hơn nữa.
Bao lâu nữa là điều chúng ta chưa
khẳng-định được trong lúc này song có lẽ
cũng chính v́ lư-do đó mà ta chưa thể, nói như
một vài người, là đă đến lúc ném ông vào trong
thùng rác của lịch-sử.
Cuốn Hồ
Chí Minh, nhận định tổng hợp của Minh Vơ
do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương in ra cách đây
không lâu, cũng v́ vậy mà phải được coi là
một cuốn sách thức thời chứ không phải là một
tác-phẩm mà đôi người, v́ lười biếng
không chịu đọc, đă tưởng là toàn chuyện
“biết rồi, khổ lắm nói măi.”
Cuốn
sách nằm ở một tŕnh-độ trí-thức cao, không
giống như những nỗ lực chủ-quan mà
thỉnh thoảng ta bắt gặp ở hải-ngoại,
nghĩa là cứ nói tràn đi mà không cần để ư xem
điều ta nói có đúng sự thật, có sát
thực-tế hay không. Làm
như thế, chúng ta sẽ mất đi tin cậy của
người khác và thay v́ thuyết phục được
người, lại đâm ra bị người nghi
ngờ sự hiểu biết đích-thực nơi chúng
ta. Cũng tựa như phong
trào nổi lên cách đây một thời, là đ̣i người
khác đạp lên mặt Hồ Chí Minh và xem đó là
bằng-chứng yêu nước, bằng-chứng chống
Cộng số 1—không khác ǵ các chế-độ phong
kiến xưa kia ở Đông-Á đ̣i người dân
phải giẫm lên thánh-giá để chứng minh là ḿnh
không theo tà-đạo. Thử
tưởng tượng, những vị
chủ-trương việc làm này đă tốn biết bao
nhiêu công sức, ngày giờ, giấy mực in tài-liệu,
t́m địa-chỉ rồi viết địa-chỉ
từng người gửi đi, chưa kể c̣n mất
tiền phong-b́, tiền tem, thời-gian ra
bưu-điện v.v. và gặt hái được cái
ǵ? Chúng tôi chắc, nếu
họ thật ḷng với họ th́ kết-quả phải
xem là rất diệu vợi, không thể đi xa lắm
được—cũng tương-tự như việc làm
những bài hát loại “Hồ Chí Minh rớt xuống śnh”
để chỉ tương-đương với
tŕnh-độ ấu-trĩ của trẻ con ngoài
phố. Song nếu ta chọn
con đường ấu-trĩ th́ cũng không thể
đ̣i người khác phục ta được.
Chọn
con đường cực nhọc mà trách nhiệm hơn,
sau khi đă t́m đọc hàng chục cuốn sách (chưa
kể hàng trăm bài báo) mà thế-giới đă viết
về Hồ Chí Minh trong tiếng Việt, tiếng Anh,
tiếng Pháp hoặc dịch từ tiếng Trung-hoa,
tiếng Nga, ông Minh Vơ—tác-giả trước đây của
hai cuốn giá trị Ngô Đ́nh Diệm, Lời khen
tiếng chê (1998, đă tái-bản nhiều lần và
năm ngoái c̣n được dịch sang tiếng Anh) và Phản
Tỉnh Phản Kháng: Thực hay Hư? (1999)—t́m cách
tổng-kết các nhận-định của người
đời, khen có chê có, về con người định-mệnh
mà chẳng may dân-tộc ta đă phải gánh chịu cái
thiên-tài đốn mạt, cũngï như dân-tộc
Đức đă phải chịu bao nhiêu đau
thương và ân oán từ con người Hitler, dân-tộc
Nga từ Stalin và dân-tộc Trung-hoa từ Mao.
Tại sao?
Tại
sao giờ đây vẫn c̣n cần một cuốn sách
đồ sộ như thế này về Hồ? Trước tiên, theo tôi nghĩ,
là do một sự ṭ ṃ khá tự-nhiên ở nơi mỗi
chúng ta. Nước mất,
nhà tan, mất sự nghiệp, mất quê hương,
mất bạn bè, mất anh em, thế nào chẳng có lúc ḷng
ta trùng xuống, muốn hiểu tại sao lại có thể
đă đến một sự đổi đời
như thế này. Ta đi t́m
những nguyên-nhân và một trong những nguyên-nhân trong các
nguyên-nhân trực-tiếp dẫn đến thân-phận
lưu đầy của chúng ta, chắc hẳn phải là
con người xảo quyệt được biết
đến dưới tên Hồ Chí Minh. Cứ riêng sự-kiện ông đă dùng
đến 150 tên khác nhau trong đời ông, theo sự nghiên
cứu của một tác-giả Nga (Anatoli Sokolov, Viện
phương Đông, Viện hàn-lâm khoa-học Nga) đủ
chứng minh tính lươn lẹo, đổi da
đổi màu như tắc kè của con người mà
đến giờ này tên thật là ǵ cũng hăy c̣n có
chỗ ngờ vực: Nguyễn Sinh Cung, thằng Côông, hay
Nguyễn Tất Thành?
Rồi
như một nhà sử-học, chúng ta cũng không thể
bằng ḷng được với những ngày tháng,
dữ-kiện khá mù mờ trong đời của con
người mà đă có lúc hỗn xược tự gọi
ḿnh là “cha già dân tộc.”
Hồ sinh năm nào, đến nay cả
sử-học miền Bắc cũng không dám
khẳng-định dù như đă có lệnh từ trên là
phải ghi thống nhất thành năm 1890. Song Daniel Hémery, sử-gia Pháp,
đă t́m được bộ đời của xă Kim Liên
(làng Sen) để biết đích-xác phải là năm 1891
c̣n chính tay Nguyễn Tất Thành th́ đă ghi 1892 khi xin vào
trường thuộc-địa (bất thành), rồi
lại khai 1895 khi làm giấy tờ đi Nga v.v.; về ngày
sinh th́ như ta biết, trước không có, đến
năm 1946 mới có cái ngày 19-5 để cho trùng với ngày
thành-lập Mặt Trận Việt Minh và đón Pháp vào
Hà-nội. Đến khi
chết th́ cũng lại ông Hồ chọn ngày Độc
Lập 2-9 để mà chết, làm thành ngày “quốc-táng,”
bắt sử-học của CSVN phải man trá trong
nhiều năm khi cho ngày “Bác mất” là ngày hôm sau,
3-9-1969. Mà đấy là ta nói
về một con người đương-thời,
của ngay chính Đảng CS th́ thử hỏi,
sử-học Hà-nội đáng tin cậy đến
độ nào nếu ta càng trở về những thời
xa xưa hơn?
Ngay
như “di-chúc của Bác” cũng bị Lê Duẩn bôi xóa
đi ba chỗ để, thứ nhất, không thiêu “Bác” và
đem rắc tro trên đồi Phú-thọ theo như “Bác” di
ngôn, do chính tay “Bác” viết; thứ hai, khỏi miễn
thuế nông-nghiệp cho dân cày trong ṿng một năm như
“Bác” mong muốn; và, thứ ba, làm tang-lễ rềnh ràng
cũng như xây lăng để thành như một cái
“mả tổ” tốn biết bao nhiêu tiền của cho Nhà
nước hết năm này qua năm khác, lại c̣n di
hậu-họa về sau.
Thật vậy, v́ có ǵ đảm bảo là cái lăng
sẽ không bị dẹp nay mai và xác của “Bác” vất xó
khi đất nước trở lại tự do,
dân-chủ? Có người
như ông Trần Khuê, v́ muốn tránh cho “Bác” cái
số-phận hẩm hiu “người chết hai lần”
đó, đă đề nghị đem chôn cất “Bác”
tử tế nói là để tiết kiệm công-quỹ
cũng như để khỏi phải “động
mả” “Bác” hàng năm khi đem xác “Bác” sang tận Nga đi
ướp lại, th́ giờ đây ngồi tù.
“Kỹ-nghệ
viết về Hồ Chí Minh”
Thành
thử cứ riêng cái chuyện đời của ông Hồ
này, chưa nói đến chuyện gái, cũng đủ ly
kỳ để có thể viết thành tiểu-thuyết
giả-tưởng nhiều chương hồi
rồi. Chẳng thế mà
người ta cũng đă nói đến một
“kỹ-nghệ viết về ông Hồ” mà ở trong nước
cũng phồn thịnh không kém ở hải-ngoại. Nếu ở trong nước
người ta viết bắt đầu từ cái hơi
có thật nhưng bao giờ cũng vẽ thêm râu thêm ria,
hoa lá cành, loại mà tiếng Anh gọi là “hagiography”
(“truyện các ông thánh”), đến chuyện không có thật
như “minh triết Hồ Chí Minh” (tên một cuốn sách),
th́ ở hải-ngoại, sau Hoàng Văn Chí (From Colonialism
to Communism: The Case of North Vietnam, New York: Praeger, 1964,
được dịch sang hơn 10 thứ tiếng,
kể cả tiếng Ả-rập, rồi sau lại
được dịch sang tiếng Việt dưới
tựa-đề Từ Thực-dân đến
Cộng-sản) và Nguyễn Khắc Huyến (Vision
Accomplished? The Enigma of Ho Chi Minh, New York: Macmillan, 1971), chúng
ta có thể thấy, đặc-biệt từ năm 1989,
những quyển như sau:
Trương Như
Tảng, A Vietcong Memoir, Harcourt Brace Jovanovich, 1985.
(Dịch từ tiếng Pháp.)
Cao Thế Dung, Chân
tướng HCM và Cộng Sản VN, Cali: Hưng
Việt, 1988.
Nguyễn Thế Anh và
Vũ Ngự Chiêu, Một ngôi trường khác cho HCM,
Paris: 1989.
Hoàng Hữu Quưnh, Tôi
bỏ Đảng, Paris, 1989.
Kiều Phong, Chân dung
“bác Hồ,” Cali: Bất Khuất, 1989.
Huy Phong và Yến Anh, Exploring
the Hồ Myth, Cali: Thằng Mơ & Mekong Tỵ Nạn,
1989.
Nguyễn Thế Anh, Hành
tŕnh chính trị của HCM, Paris: Nam Á, 1989.
Tôn-thất Thiện, Cái
đúng và cái giả dối về chuyện HCM, Paris: Nam Á,
1989.
Bùi Xuân Quang, Những
điều trông thấy trong cuộc đời HCM, Paris:
Nam Á, 1990.
Lâm Thanh Liêm, Chính sách
cải cách ruộng đất của HCM, sai lầm hay
tội ác. Paris: Nam Á, 1990.
Nguyễn Ngọc Huy,
Vị trí HCM trong diễn tiến của t́nh trạng nhân
quyền tại Việt Nam, Paris: Nam Á, 1990.
(Tất cả những bài trên
đây, in chữ đứng, nằm trong một
tác-phẩm tập-thể mang tên Hồ Chí Minh: Sự
thật về thân thế và sự nghiệp, Bùi Xuân Quang
của nhóm Đường Mới chủ-biên, Paris: Nam Á,
1990.)
Bảo
Đại, Con rồng Việt Nam, Cali: Nguyễn
Phước tộc xb, 1990. (Dịch từ tiếng Pháp Le
Dragon d’Annam, Paris: Ed. Plon, 1980.)
Lê
Hữu Mục, Hồ Chí Minh không phải là tác giả
“Ngục Trung Nhật Kư,” Toronto và Montréal: Văn Bút
Việt Nam Hải Ngoại, 1990.
Nguyễn
Thuyên, Bộ mặt thật của HCM, Úc: Tiếng
Chuông, 1990.
Hoàng
Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, Bắc-kinh,
1991.
Thành Tín
(tức Bùi Tín), Hoa xuyên tuyết, Cali: Nhân Quyền,
1991.
Hồ
Sĩ Khuê, Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt
Trận Giải Phóng, Cali: Văn Nghệ, 1992.
Bùi Tín, Mặt
thật, Cali: Saigon Press, 1993.
Trần
Quốc Vượng, Trong cơi, Cali: Trăm Hoa, 1993.
Chính
Đạo [Vũ Ngự Chiêu], Hồ Chí Minh: Con
người và huyền thoại, TX: Văn Hóa, 1993 và
1997.
Nguyễn
Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội,
Cali: Văn Nghệ, 1995.
Bùi Tín, Về
ba ông thánh, California, 1995.
Bùi Tín, Following
Ho Chi Minh, Luân-đôn: Hurst & Co., 1995.
Hoàng
Quốc Kỳ, Ma đầu Hồ Chí Minh, Cali:
Mặt Trận Quốc Dân, 1995.
Nguyễn
Minh Cần, Công lư đ̣i hỏi, Cali: Văn Nghệ,
1997.
Vũ
Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Cali: Văn Nghệ,
1997.
Lữ
Giang, Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến VN,
Cali: Tác giả xb, 1998.
Bùi Tín, La
face cachée du régime, Paris: Editions Kergour, 1999.
Tưởng
Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc,
Thượng Huyền dịch từ tiếng Trung-quốc
sang tiếng Việt, Cali: Văn Nghệ, 1999.
Việt
Thường, Chuyện thâm cung dưới triều
đại HCM, Cali: Hưng Việt, 2000.
Trần
Độ, Hồi kư II, Cali: Văn Nghệ, 2000.
Nguyễn
Minh Cần, Đảng CSVN qua những biến
động trong phong trào CS Quốc tế, Cali: Tuổi
Xanh, 2001.
Trần
Gia Phụng, Án tích Cộng Sản Việt Nam, Toronto:
Non Nước, 2001.
Việt
Thường, Sự tích con yêu râu xanh ở Việt Nam,
Cali: Quật Khởi, 2002.
Minh Vơ, Tâm
sự Nước Non, Ai giết HCM?, VA: Tiếng Quê
Hương, 2002.
Trần
Gia Phụng, Lột trần huyền thoại HCM / Exposing
the Myth of HCM (Bản dịch tiếng Anh do Timothy
Trần), Hội Chuyên Gia Việt Nam, 2003.
Nguyễn
Phương Minh, HCM, tên phản quốc số 1 của
thời đại, sắp xuất bản.
Hồ
Chí Minh học đối-chiếu
Xem
thế đủ thấy là khác với lối viết
“thánh-truyện” ở trong nước, theo đó “Bác” từ
nhỏ đă không biết lầm lẫn là ǵ, trong đó
phần bịa đặt nắm phần áp-đảo nên
phải bịt miệng những người nói thật
(như Vũ Kim Hạnh của tờ Tuổi Trẻ
năm nào bị mất chức tổng-biên-tập chỉ
v́ nói là Bác có vợ), ngành Hồ Chí Minh học ở
hải-ngoại tỏ ra đa dạng hơn nhiều và do
đó có nhiều khả-năng tiếp cận sự
thật hơn. Không cần phải
dông dài, ta cũng có thể thấy ngay là các tác-giả
được in ở hải-ngoại nói trên gồm
nhiều thành-phần: Từ một Trần Độ hay
Hoàng Văn Hoan mà cho đến chết vẫn c̣n hoàn-toàn
tin tưởng ở “Bác,” chúng ta có những người
xưa ở trong hàng ngũ của ông Hồ nhưng nay
đă vỡ mộng (Bùi Tín, Trương Như Tảng,
Vũ Thư Hiên, Hoàng Hữu Quưnh, Nguyễn Văn Trấn)
đến những người mà uy-tín khoa-học
được xem là cao (như các giáo-sư nổi
tiếng Nguyễn Thế Anh, Bùi Xuân Quang ở Pháp hay G.S.
Nguyễn Ngọc Huy ở Mỹ), những nhà
sử-học được huấn luyện chính-quy (như
Trần Gia Phụng ở Canada hay Vũ Ngự Chiêu, Lê Tùng
Minh ở Mỹ), chưa kể là những người có
nhiều kinh-nghiệm ở ngoài nước (như ông
Nguyễn Minh Cần ở Nga hay Tưởng Vĩnh Kính
ở Đài-loan, Trung-hoa Dân-quốc).
Thành
thử ngay nếu ngôn từ của một vài tác-giả
hải-ngoại thỉnh thoảng có tỏ ra hơi
nặng nề đối với ông Hồ, nói chung
đọc các sách viết ở hải-ngoại về ông,
chúng ta có một cái nh́n chính-xác hơn nhiều—do dựa vào
những nguồn tin phong phú, do có nhiều quan-điểm
khác nhau để ta có thể đối-chiếu, do
được nói thật mà không phải quanh co, do một
không-khí tự do hơn hẳn.
Chẳng thế mà một người như
sử-gia Trần Quốc Vương, khi ở Hoa-kỳ
th́ viết được cuốn Trong cơi, trong đó
có một bài rất nặng kư về Nguyễn Sinh Sắc,
cha của HCM, khi về đến trong nước th́
bị trù ếm, viết những quyển như Văn
hóa Việt Nam, T́m ṭi và suy nghĩ (Hà-nội: Nhà xb Văn
Hóa Dân Tộc, 2000), dầy gần 1000 trang nhưng cứ
dăm ba trang lại phải t́m được cái ǵ
để nói tốt cho ông Hồ—một điều thật
ươn hèn và nhục nhă.
Sự
thực là nhờ vào không-khí tự do hơn mà một
người như G.S. Lê Hữu Mục đă phơi
bầy được những sự gian trá của ông
Hồ Chí Minh trong cuốn Ngục-trung nhật-kư trong
đó một phần không nhỏ có lẽ đă
được ông thuổng từ một bạn tù
người Hoa (v́ nó không ăn khớp với những
chi-tiết trong đời hoạt-động cách mạng
của ông). Cho đến nay,
mấy học-giả ở Hà-nội đă cố gắng
gián-tiếp trả lời những điều thắc
mắc ông Mục nêu ra song vẫn chưa đủ
vững để thuyết phục được
người đọc.
Một
cái nh́n cân nhắc
Như
vậy, một trong lư-do căn-bản cần có một
cuốn như của ông Minh Vơ, cuốn Hồ Chí Minh,
nhận định tổng hợp, chính là để
đọc giùm ta, cả tài-liệu trong nước và ngoài
nước, rồi phân-tích, cân nhắc để giúp ta
đến một nhận-định mà tác-giả cho là
chính-xác hơn cả. Tôi xin
lấy một hai thí-dụ.
Có
người, để chạy tội cho ông Hồ Chí Minh,
cho rằng những quá-lạm của Cải cách ruộng
đất ở miền Bắc là do CS Trung-quốc ép
buộc Việt Nam phải tuân theo và một số
thành-phần thân Trung-quốc trong Đảng CSVN, như
Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt, chẳng hạn,
đă v́ mù quáng theo Tàu mà mang họa trên đại-quy-mô
về cho toàn dân-tộc.
Sau khi
phân-tích các quan-điểm do nhiều người
đưa ra về phần tội của ông Hồ Chí Minh
trong CCRĐ, ông Minh Vơ kết-luận như sau (trang 565):
Trên thực tế,
Cải Cách Ruộng Đất là một bước đi
bắt buộc trong cách mạng vô sản mà HCM đă
trở thành tín đồ thuần thành. Như thế, HCM chỉ thi hành nhiệm vụ
của một tín đồ nên không thể đặt vào
cảnh ngộ bị ép buộc bởi bất kỳ cá
nhân nào.
Tháo gỡ trách nhiệm [cho ông] không c̣n cần
thiết và cũng là vấn đề bất khả,
bởi tất cả đă được quyết
định từ khi [ông] chọn đường. HCM đă chọn con
đường chủ nghĩa CS với cuộc cách
mạng giai cấp diễn biến trường kỳ cho
tới khi tận diệt giai cấp tư bản. CCRĐ chỉ là một bước
đi giai đoạn trên con đường dài thăm
thẳm đó và là một bước đi không thể
tránh.