Những Vi
Phạm Luật Pháp Trong Vụ Án Nguyễn Vũ Bình
LS. Nguyễn Hữu Thống
Nguyễn Vũ
Bình 35 tuổi, tốt nghiệp khoa Kinh Tế Chính Trị
Trường Đại Học Hà Nội, nguyên biên tập
viên Tạp Chí Cộng Sản đã bị Tòa Án Hà Nội
kết án 7 năm tù và 3 năm quản chế về
tội gián điệp trong một phiên xử kín và chớp
nhoáng ngày 31-12-2003.
Cũng như
bản án Nguyễn Khắc Toàn ngày 20-12-2002 và bản án
Phạm Hồng Sơn ngày 18-6-2003, bản án gián
điệp Nguyễn Vũ Bình đã vi phạm nghiêm
trọng luật pháp và hiến pháp quốc gia cũng
như các công ước quốc tế mà Việt Nam đã
ký kết tham gia. Ngoài ra, với bản án này nhà cầm
quyền Hà Nội đã vi phạm và tước
đoạt của bị can những quyền tự do
căn bản, như tự do phát biểu, tự do thông
tin, tự do thân thể, tự do lập hội, tự do
lập đảng, quyền tham gia quản lý nhà
nước và quyền tố cáo những hành vi lạm
quyền của nhà nước.
I- Trần
Thuật Nội Vụ
Theo bản cáo
trạng Nguyễn Vũ Bình bị trách cứ về
những hành vi sau đây:
Ngày 2-9-2000
bị can đệ đơn xin thành lập Đảng
Tự Do Dân Chủ kèm theo bài nhận định
"Việt Nam và con đường phục hưng
đất nước". Theo tác giả, Việt Nam
hiện nay đang đứng trước một cuộc
khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế
và xã hội. Trong tương lai không xa sẽ có cuộc thay
đổi về chế độ xã hội. Do đó,
sự có mặt của một chính đảng đối
lập là yêu cầu tất yếu để giảm
thiểu những tổn thất của nhân dân trong quá trình
thay đổi. Vì tương lai của đất
nước và lợi ích của dân tộc, tác giả xin
thành lập Đảng Tự Do Dân Chủ.
Khoảng 2
năm sau, ngày 19-7-2002, theo lời yêu cầu của bà Loretta
Sanchez, Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ, Nguyễn Vũ
Bình đã viết một bản Điều Trần về
tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, tường
trình về những vụ đàn áp nhân quyền mới
nhất tại Việt Nam. Thực ra tác giả chỉ sao
chép bản Kiến Nghị Tập Thể ngày 6-7-2002
của gần 20 chiến sĩ Dân Chủ, thuộc các thành
phần cách mạng lão thành, cựu chiến binh và trí
thức văn nghệ sĩ gửi phe lãnh đạo
Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ và Quốc Hội.
Vì không nhận được phúc đáp, sau một
thời gian, phe Dân Chủ đã chuyển bản Kiến
Nghị Tập Thể lên internet để phổ biến
cho cộng đồng nhân loại văn minh.
Những vi
phạm nhân quyền điển hình trong bản
Điều Trần ngày
19-7-2002 liên quan
đến vụ bắt giam ông Vũ Cao Quận vì
những bài viết của ông về nhân quyền; vụ
cướp đoạt bản ghi chép những cảm
nhận của Tướng Trần Độ; vụ các
ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Hoàng Minh Chính
cùng khoảng 20 chiến sĩ Dân Chủ bị bắt
bớ hay sách nhiễu khi nộp đơn xin thành lập
Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng; những vụ
đấu tố các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế
Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lê Chí Quang; vụ chặn
bắt và quản thúc nhà thơ Bùi Minh Quốc sau chuyến
đi tìm hiểu về vụ nhượng đất biên
giới Bắc Việt; vụ Bộ Văn Hóa và Thông Tin
truy tầm và tiêu hủy một số sách của những
người Dân Chủ; vụ bắt giam độc
đoán các chiến sĩ trẻ trong nhóm Dân Chủ như Nguyễn
Khắc Toàn, Lê Chí Quang và Phạm Hồng Sơn; vụ
cắt điện thoại của các ông Hoàng Minh Chính,
Phạm Quế Dương, Hoàng Tiến, Trần Khuê,
Trần Dũng Tiến, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Đan
Quế, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Vũ
Bình; vụ sách nhiễu và bắt giam các tín đồ và các
nhà lãnh đạo các tôn giáo...
Trong phần
kết luận Nguyễn Vũ Bình đề nghị
một số biện pháp khả dĩ có thể hạn
chế, ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ tình
trạng vi phạm nhân quyền. Ngoài ra anh còn bầy tỏ
sự cảm kích đối với các vi. Dân Biểu
Quốc Hội Hoa Kỳ trong việc thông qua Dự
Luật Nhân Quyền cho Việt Nam với 410 phiếu
thuận và 1 phiếu chống.
II- Tranh
Luận Pháp Lý
Trong chế
độ dân chủ pháp trị các yếu tố cấu
thành tội gián điệp phải được luật
pháp quy định minh bạch, không quá bao quát và không mơ
hồ. Tòa án phải áp dụng luật pháp không
cưỡng ép, phải giải thích hình luật chặt
chẽ và không xuyên tạc.
Chiếu
Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những
Quyền Dân Sự và Chính Trị: "Không ai có thể
bị kết án về một tội hình sự do những
điều mình đã làm, nếu những điều
ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo
luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế
hiện hành. Luật pháp quốc tế là những nguyên tắc
luật pháp tổng quát được thừa nhận
bởi cộng đồng các quốc gia".
Theo luật pháp
phổ thông và hình luật đối chiếu, tại các
quốc gia dân chủ văn minh, muốn cấu thành
tội gián điệp phải hội đủ 4 yếu
tố:
1) Cung cấp
các tin tức tài liệu liên quan đến an ninh quốc
gia (như các bí mật quân sự, bí mật quốc phòng, bí
mật nguyên tử)
2) Cho
nước ngoài (cho một ngoại bang thù địch)
3) Để
nước này sử dụng chống lại quốc gia
4) Và gây nguy
hại cho quốc gia
Đạo
Luật Gián Điệp Hoa Kỳ quy định tội gián
điệp với đầy đủ 4 yếu tố
tội trạng ghi trên:
Điều 793
phạt tối đa 10 năm tù tội gián điệp
bằng cách cung cấp các tin tức tài liệu về an
ninh quốc phòng cho nước ngoài để nước
này sử dụng chống lại quốc gia và gây nguy
hại cho quốc gia.
Điều 794
phạt đến tử hình tội gián điệp trong
thời chiến tranh, hay trong trường hợp bị
can cung cấp cho nước ngoài các tin tức tài liệu tối
quan trọng về an ninh quốc phòng như các bí mật
trong việc chế tạo và điều hành võ khí nguyên
tử. Sở dĩ quốc gia phải chế tài nghiêm
khắc tội gián điệp, vì trong thời chiến
tranh, quốc gia đang phải chiến đấu cho
sự sống còn của mình. Hơn nữa các bí mật
nguyên tử cung cấp cho ngoại bang, có thể
được ngoại bang sử dụng, đe dọa
đời sống của hàng triệu đồng bào. Vì an
ninh của quốc dân và sự tồn vong của
đất nước, quốc gia phải chế tài
tội gián điệp bằng hình phạt đến
tử hình. Đây là một biện pháp tự vệ chính
đáng.
Tại Việt
Nam, do sự quy định các yếu tố tội
trạng quá bao quát và mơ hồ, Điều 80 Hình
Luật đã vi phạm luật pháp quốc gia và những
nguyên tắc luật pháp phổ thông, đồng thời vi
phạm hiến pháp quốc gia và các công ước quốc
tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia.
A. Vi Phạm
Luật Pháp Quốc Gia Và Những Nguyên Tắc Luật Pháp
Phổ Thông
Trong Bộ
Luật Hình Sự ban hành năm 1997, Điều 80 nằm
trong Phần Các Tội Phạm, Chương 1 Mục A nói
về "Các Tội Đặc Biệt Nguy Hiểm Xâm Phạm
An Ninh Quốc Gia". Cũng như tội phản
quốc và tội phản nghịch (hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền), tội gián
điệp có thể phạt đến tử hình. Do
đó muốn cấu thành tội gián điệp phải có
yếu tố xâm phạm an ninh quốc gia. Chẳng hạn
như cung cấp cho ngoại bang những bí mật quân
sự (liên quan đến an ninh quốc gia) để
ngoại bang sử dụng chống lại quốc gia và
gây nguy hại cho quốc gia. Theo luật pháp phổ thông
nếu đương sự chỉ cung cấp cho nước
ngoài những tin tức tài liệu không phải là bí mật
quốc phòng hay không liên quan đến an ninh quốc gia thì
không phạm tội gián điệp.
Điều 80
Khoản 1 Điểm C Hình Luật phạt từ 12 năm
tù đến tử hình:
1) Hành vi cung
cấp các bí mật Nhà Nước cho nước ngoài, 2)
hành vi cung cấp các tin tức tài liệu khác (không thuộc
bí mật Nhà Nước) cho nước ngoài, để nước
này sử dụng chống Nhà Nước Việt Nam.
1) Như
vậy Điều 80 đã không quy định yếu
tố xâm phạm an ninh quốc gia trong tội gián
điệp. Do đó nó đi trái với tinh thần và
bản văn của chương nói về các tội
đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc
gia. Vì chỉ trong trường hợp có sự nguy hiểm
đặc biệt xâm phạm an ninh quốc gia, luật
pháp mới có thể quy định, và tòa án mới có
thể tuyên hình phạt tử hình cho tội gián
điệp.
Dầu là bí
mật Nhà Nước, những tin tức cung cấp cho
nước ngoài, nếu không liên quan đến an ninh
quốc gia, cũng không phải là yếu tố cấu
thành tội gián điệp.
Chỉ riêng
về điểm này Điều 80 Hình Luật đã vi
luật vì đi trái tinh thần và bản văn luật
pháp nơi chương nói về các tội xâm phạm an
ninh quốc gia (nay là Chương 11 Bộ Luật Hình
Sự 1999).
Sở dĩ có
sự vi luật vì nhà làm luật đã quy định
những yếu tố tội trạng quá bao quát và mơ
hồ. Thay vì đòi phải có yếu tố xâm phạm an
ninh quốc gia, Điều 80 chỉ đề cập
đến hành vi cung cấp cho nước ngoài những bí
mật Nhà Nước hay những tin tức tài liệu
khác, để nước này sử dụng chống
lại Nhà Nước Việt Nam.
2) Yếu
tố chống lại Nhà Nước cũng quá bao quát và
mơ hồ. Nó có thể chỉ là một bài viết phê
phán chủ thuyết Mác Lê, hay phê phán chính sách kinh tế nhà
nước không liên quan đến an ninh quốc gia. Theo
luật pháp phổ thông ngoài yếu tố chống lại
Nhà Nước phải có yếu tố gây nguy hại cho Nhà
Nước.
3) Trong chế
độ độc tài Cộng Sản, đảng lãnh
đạo nhà nước. Do đó bí mật của
đảng cũng là bí mật Nhà Nước, dầu
rằng bí mật này chỉ che dấu nhữngĩ hành vi
tham nhũngĩ lạm quyền của phe lãnh đạo,
hay những tranh chấp nội bộ trong đảng. Vì
vậy bí mật Nhà Nước không nhất thiết là bí
mật quốc phòng cần phải bảo vệ.
Vả lại
bí mật Nhà Nước đã được giải thích
tùy tiện. Trong vụ án Hà Sĩ Phu năm 1996, bản phúc
trình của Võ Văn Kiệt gửi Trung Ương Đảng
Bộ đã được coi là bí mật Nhà Nước.
Cho đến cuối năm 2001, Hiệp Ước Biên
Giới Việt Trung (1999) và Hiệp Ước Vịnh
Bắc Bộ (2000) ký kết lén lút cũng được
coi là mật ước hay bí mật Nhà Nước.
4) Những tin
tức tài liệu khác có tính quá bao quát, vì liên hệ
đến tất cả các sinh hoạt quốc gia về
tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục v...v...
Thí dụ khi
một ký giả phổ biến cho chính giới Hoa Kỳ
những tin tức liên quan đến việc nhà cầm
quyền Hà Nội vi phạm nhân quyền (như đàn áp đối
lập, đàn áp tôn giáo), để Hoa Kỳ sử
dụng tại Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Hội, thì
người ký giả này có thể bị tòa án Việt Nam
kết án tử hình về tội gián điệp!
Đó chính là
trường hợp của Nguyễn Vũ Bình.
5) Nếu
quốc hội đã soạn thảo Điều 80 vi
luật bằng cách quy định các yếu tố tội
trạng quá bao quát và mơ hồ, thì tòa án đã áp dụng
luật pháp tùy tiện và giải thích luật pháp xuyên
tạc để tuyên những bản án tiền chế
theo chỉ thị của đảng Cộng Sản.
Thay vì phải
có sự cung cấp tin tức tài liệu cho nước
ngoài, tòa án đã phạt bị can chỉ vì đã cung
cấp tin tức tài liệu ra nước ngoài cho một
số "phần tử phản động".
6) Thông
thường công tác gián điệp nhằm lén lút, giấu
giếm cung cấp cho một quốc gia thù địch các
bí mật quốc phòng liên quan đến sự an ninh và
phòng thủ quốc gia. Không ai làm gián điệp mà lại
công khai phổ biến những tin tức, tài liệu tình
báo trên internet cho hàng triệu người hay biết!
B. Vi Phạm
Hiến Pháp Quốc Gia Và Công Ước Quốc Tế
Khi gửi
Bản Điều Trần cho Quốc Hội Hoa Kỳ,
Nguyễn Vũ Bình chỉ hành sử những dân quyền
và nhân quyền ghi trong Hiến Pháp Quốc Gia và Công
Ứớc Quốc Tế. Đó là quyền tự do phát
biểu và tự do thông tin được long trọng xác
nhận nơi điều 69 Hiến pháp Việt Nam và
Điều 19 Công Ứớc Quốc Tế về
Những Quyền Dân Sự và Chính Trị.
Năm 1977,
Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc nên có nghĩa
vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền (1948), và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền (1998).
Năm 1982
Việt Nam ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế
về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị. Công
Ước Quốc Tế này đã được quốc
hội phê chuẩn nên có giá trị là một hiệp
ước quốc tế, và có hiệu lực cao hơn
hiến pháp và luật pháp quốc gia.
1) Điều
19 Công Ước Quốc Tế bảo đảm cho
mọi người "quyền được tự do
phát biểu, tự do phổ biến các tin tức, ý
kiến bằng mọi phương tiện truyền thông,
không kể biên giới quốc gia. Việc hành sử
quyền tự do phát biểu chỉ bị giới hạn
bởi luật pháp, vì nhu cầu bảo vệ an ninh
quốc gia".
Vì không quy
định yếu tố xâm phạm an ninh quốc gia trong
tội gián điệp, điều 80 Hình Luật đã vi
phạm Hiến Pháp Quốc Gia (Điều 69) và vi phạm
Công Ước Quốc Tế (Điều 19).
2) Trong các
quốc gia dân chủ, tòa án được thiết lập
để ban phát công lý cho người dân, và luật pháp
được ban hành để bảo vệ sinh mạng,
tự do, danh dự và tài sản cho mọi người.
Tại Việt Nam ngày nay, quốc hội thông qua những
điều luật không minh bạch, và tòa án xét xử không
công minh. Do đó quyền tự do thân thể và an ninh thân
thể của người dân quy định trong
Điều 71 Hiến Pháp Quốc Gia và Điều 9 Công
Ước Quốc Tế, đã bị vi phạm thô
bạo.
3) Phụ
Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998) (ban hành nhân
dịp kỷ niệm 50 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền) trong Phần Mở Đầu đã xác nhận
nhu cầu "hợp tác giữa các quốc gia nhằm góp
phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm nhân
quyền và những quyền tự do căn bản của
người dân. Vì quốc gia có trách nhiệm tiên khởi
phải đề xướng và bảo vệ nhân
quyền và những quyền tự do căn bản."
Điều 6
Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền thừa
nhận cho mọi người quyền tự do công
bố, phổ biến và thông tri cho người khác (và cho
nước ngoài), những tin tức ý kiến về nhân
quyền và vi phạm nhân quyền.
Do đó
quyền của Nguyễn Vũ Bình trong việc cung cấp
cho Quốc Hội Hoa Kỳ bản Điều Trần
về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, đã
được Liên Hiệp Quốc thừa nhận và
bảo vệ.
4) Bản cáo
trạng trách cứ Nguyễn Vũ Bình đã viết
một số bài có tác dụng chống phá Nhà Nước,
như bài "Việt Nam và con đường phục
hưng đất nước", "Thư gửi
Bộ Chính Trị một số vấn đề giải
trình bổ sung và kiến nghị", và đặc
biệt là bản "Điều Trần về tình
trạng nhân quyền tại Việt Nam".
Về mặt
pháp lý những bài viết này, dầu mang nội dung
chống đối chính quyền, vẫn được
bảo vệ bởi Hiến Pháp Quốc Gia (Điều
69) bởi Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền (Điều 6), và bởi Công Ước Dân Sự
Chính Trị (Điều 19).
Hơn nữa
khi phổ biến các bài viết, Nguyễn Vũ Bình
chỉ hành sử hợp pháp quyền tham gia chính quyền
được thừa nhận trong Điều 53 Hiến
Pháp và Điều 25 Công Ước Dân Sự Chính Trị.
Tham gia chính
quyền có thể trực tiếp bằng cách ứng
cử vào các chức vụ công cử, gián tiếp bằng
cách bầu lên các đại biểu dân cử, hay gửi
thỉnh nguyện lên nhà cầm quyền yêu cầu sửa
đổi đường lối chính sách quốc gia.
Điều 53 Hiến Pháp bảo đảm cho công dân
quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền tham gia
thảo luận về các vấn đề chung của
đất nước, cũng như quyền lập
kiến nghị với nhà cầm quyền.
5) Ngoài ra
chiếu Điều 74 Hiến Pháp và Điều 2 Công
Ước Dân Sự
Chính Trị công
dân có quyền khiếu nại, khiếu kiện và tố
cáo các nhân viên hay cơ quan Nhà Nước về những
hành vi lạm quyền để đòi bồi
thường thiệt hại.
Do đó tố
cáo những vi phạm nhân quyền trước Tòa Án
Việt Nam, trước Quốc Hội Việt Nam hay
trước Quốc Hội Hoa Kỳ, không phải là hành vi
phạm pháp và lẽ tất nhiên không phải là hành vi gián
địê.p.
Về mặt
chính trị và ngoại giao, Hoa Kỳ không phải là một
nước thù địch với Việt Nam. Từ năm
1977 Hoa Kỳ đã không sử dụng quyền phủ
quyết để ngăn cản Việt Nam gia nhập
Liên Hiệp Quốc. Hoa Kỳ đã đơn phương
bãi bỏ cấm vận và thiết lập bang giao với
Việt Nam. Mới đây Hoa Kỳ đã dành cho Việt Nam
quy chế tối huệ quốc và đã ký Hiệp
Ước Thương Mãi với Việt Nam để
tạo cơ hội cho Việt Nam phát triển.
6) Tham gia
Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng với Phạm Quế
Dương và Trần Khuê, hay đệ đơn xin thành
lập Đảng Tự Do Dân Chủ đối lập,
cũng không phải là những hành vi gián điệp
phạm pháp. Vì Điều 69 Hiến Pháp và Điều 22
Công Ước Dân Sự Chính Trị đã thừa nhận
cho người dân quyền tự do lập hội (hội
dân sự) như Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng và
quyền tự do lập đảng (hội chính trị)
như Đảng Tự Do Dân Chủ. Với trào lưu dân
chủ toàn cầu hóa, việc thành lập các chính
đảng đối lập công khai và hợp pháp tại
Việt Nam là một nhu cầu thiết yếu trong việc
thiết lập chế đô. Dân Chủ Pháp Trị.
Nguyễn Vũ
Bình là chiến sĩ tiền phong trên Mặt Trận Dân
Chủ. Rồi đây khi Cách Mạng Dân Chủ thành công, anh
sẽ là một trong những người có công đầu
trong việc khởi xướng chế độ Dân
Chủ Đa Đảng.
Vì những lý do
nói trên, bản án tuyên phạt Nguyễn Vũ Bình 7 năm tù
và 3 năm quản chế về tội gián điệp,
chẳng những vi hiến, vi luật mà còn vi phạm và
tước đoạt của bị can những nhân
quyền và những quyền tự do căn bản ghi trong
Hiến Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế.
Tòa Án Cộng
Sản đúng là tòa án của loài đại thử,
và Luật Pháp Cộng Sản là luật rừng xanh của
loài cầm thú.
T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO
VỆ DÂN QUYỀN