VIỆT
NAM: ĐẢNG CSVN CÓ ĐẠO KHÔNG?
Pháp lệnh Tôn giáo, Tín ngưỡng 2004
tồi tệ hơn Sắc lệnh 1955
Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn.- Hỏi đảng
Cộng sản Việt Nam có đạo không là việc
thừa thăi v́ có đến 90% cán bộ, đảng viên và
thành phần Đại biểu Quốc hội đều khai
KHÔNG ở mục “thành phần tôn giáo” trong tờ khai lư
lịch của họ. Nhưng tại sao người CSVN
lại vô thần và sợ người có Tín ngưỡng?
Trước hết,
người Cộng sản không tin có Thượng
đế và không tin có Thần thánh nhưng lại cổ
vũ cho việc lập bàn thờ Hồ Chí Minh và bắt
treo ảnh họ Hồ cao hơn tượng Chúa,
tượng Phật và h́nh ảnh của Cha mẹ. Họ
bài bác mê tín dị đoan nhưng lại tán thưởng và
cổ vũ cho việc lập đền thờ Bà
Nguyễn Thị Định, người nữ đảng
viên Cộng sản, quê Bến Tre, theo Hồ Chí Minh từ
thiếu thời.
Họ cũng chống phá
lăng phí trong ma chay, lễ hội, cưới hỏi
nhưng lại tổ chức ŕnh rang đám tang cho cấp
lănh đạo, đảng viên cao cấp và đám
cưới con cán bộ là dịp để cho cấp
dưới đến đóng tiền tạ ơn!
Tôn giáo dậy con
người làm việc thiện, tránh điều ác, ăn
ngay ở lành, hoà thuận thương yêu nhau và không gian
tham. Tôn giáo cũng không kỳ thị, không gây thù chuốc
oán cho ai và không từ bỏ một ai dù người ấy
có hành động phản đạo.
Như vậy tại sao
đảng CSVN lại t́m cách chống người có Tín
ngưỡng và ḱm kẹp các tổ chức Tôn giáo của
người theo đạo?
Họ nói: ”Công dân có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào.” Và cam đoan:” Nhà nước bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân. Không ai được xâm phạm quyền
tự do ấy.” (Trích Pháp Lệnh Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
ban hành ngày 12-7-2004).
Nhưng trong thực tế người CSVN đă thi hành
những cam kết này như thế nào?
CON
DAO HAI LƯỠI
Truớc hết, hăy bàn
về những việc cấm cản ghi ở khoản 2,
điều 8 của Pháp lệnh này, theo đó người
có đạo: “ Không được lợi dụng
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đểphá
hoại ḥa b́nh, độc lập, thống nhất
đất nước; kích thích bạo lực hoặc tuyên
truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp
luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân,
chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối
trật tự công cộng, xâm hại đến tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản
của người khác, cản trở việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín
dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp
luật khác.”
Nhưng khi người
dân phản đối việc cán bộ Nhà nước
ngăn cản họ tập hợp để thờ
phượng, giảng đạo như đă xẩy ra
ở nhiều nơi trong nước, đặc biệt
ở Tây nguyên và khu vực sinh sống của người
Hmong ở miền bắc th́ người theo đạo có
phạm tội “phá hoại ḥa b́nh”, “vi phạm pháp luật”
và “gây rối trật tự công cộng” không?
C̣n việc cấm các “hoạt động mê tín dị
đoan” th́ Nhà nước đă vi phạm từ lâu khi cho
phép cán bộ ép buộc người Hmong uống máu thú
vật thề bỏ đạo Chúa và không ngăn chận
được tệ nạn cán bộ, đảng viên
đi coi bói, cầu cơ hay đốt vàng mă cầu may.
Thứ nh́, ở khoản
2 điều 9 ghi: “ ....Thực hiện quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy
định của luật pháp.” Nhưng thế nào là
“nghĩa vụ công dân” khi nghĩa vụ này phải thi hành
vào đúng lúc có giờ cầu nguyện của
người theo đạo Tin lành, thánh lễ của
người Công giáo và lễ Chùa của người
đạo Phật?
Sự trùng hợp này,
như đă và đang xẩy ra ở nhiều nơi, có
ngụ ư ǵ nếu không phải là hành động “ném đá
giấu tay” để ngăn cản người có Tín
ngưỡng hành đạo?
Thứ ba, việc thực hành các lễ nghi
tôn giáo và giảng đạo của các chức sắc và
người tu hành đă bị hạn chế tinh vi trong
điều 11: “ Chức sắc, nhà tu hành được
thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ
trách, được giảng đạo tại các cơ
sở tôn giáo.”
Trường hợp
họ thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng
đạo, truyền đạo ra ngoài “phạm vi phụ
trách” và ở những nơi không phải là các “cơ
sở tôn giáo” th́ các chức sắc này “phải có sự
chấp thuận của Ủy ban nhân dân huyện, quận,
thị xă, thành phố thuộc tỉnh nơi thực
hiện.”
Rơ ràng điều này
đă ngăn cấm tối đa việc thự hiện
các lễ nghi tôn giáo và truyền đạo của các
chức sắc Tôn giáo v́ khoản 7 của điều 3 đă
định nghĩa: “ Cơ sở tôn giáo là nơi thờ
tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên
hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ
chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo
được Nhà nước công nhận.”
Như vậy là từ
nay, các chức sắc tôn giáo không được phép bén
mảng đến các làng mạc, buôn, bản để
thực hiện lễ nghi tôn giáo và truyền đạo
nếu không có các “cơ sở tôn giáo” được Nhà
nước công nhận. Như vậy là từ nay giáo dân,
bổn đạo ở những nơi này sẽ bị
bỏ rơi lạc lơng trong một xă hội vô đạo
v́ Nhà nước và các cấp chính quyền địa
phương có thiếu ǵ sáng kiến và lư do để
khước từ lời yêu cầu của các chức
sắc muốn làm nhiệm vụ Tôn giáo?
Các h́nh thức truyền
đạo khác, theo lời Nguyễn Thanh Xuân, Phó
Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ “được coi là
trái phép”. Điều này có nghĩa truyền đạo bằng
thư, bằng báo và các phương tiện truyền thông
khác, trong đó có Radio, Tivi và Internet đều bị
cấm chỉ!
Nhưng Việt Nam có
cấm được không th́ Xuân thú nhận Nhà
nước đă bất lực. Xuân nói với báo chí ở
Hà Nội vào chiều ngày 12-7-2004: “ Các h́nh thức truyền
đạo qua sóng radio, qua mạng Internet....được
coi là bất hợp pháp nhưng rất khó ngăn chặn.
Trong khi đó, hiện tượng truyền đạo trái
phép đă và đang xảy ra những bức xúc ở một
số địa phương, nhất là ở các vùng sâu,
vùng xa, vùng có đồng bào thiểu số.”
Xuân tiết lộ: “
Những vấn đề này sẽ được tính
đến trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo mà Chính
phủ sẽ dự thảo.” (VietnamNet, 12-7-2004)
Vậy là những rào
cản, trói buộc và ḱm kẹp ghi trong Pháp lệnh do
Trần Đức Lương, Chủ tịch Nước ban
hành hôm 12-7 (2004) vẫn chưa làm đảng và nhà nước
CSVN hài ḷng?
Thứ tư, về các hoạt động
của các “cơ sở tôn giáo”, điều 12 đă nói
trắng ra quyền kiểm soát và kiểm duyệt của
nhà nước: “ Người phụ trách tổ chức tôn
giáo cơ sở có trách nhiệm đăng kư chương
tŕnh hoạt động tôn giáo hàng năm diễn ra tại
sơ sở đó với Ủy ban nhân dân xă, phường,
thị trấn; trường hợp tổ chức
hoạt động tôn giáo ngoài chương tŕnh đă
đăng kư th́ phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chấp thuận.”
Khoản 2 của
điều 12 c̣n dành quyền cho Chính phủ quyền cho
phép hay bác bỏ việc “tổ chức lễ hội tín
ngưỡng ” của các tôn giáo tỷ dụ như lễ
Giáng Sinh, Đại hội Đức mẹ La Vang hàng năm
của người Công giáo và Lễ Phật đản,
lễ Vu Lan của tín đồ Phật giáo.
Thứ năm, nội dung
điều 13 của Pháp lệnh này đă công khai chà
đạp lên quyền tự do hành đạo của
người có tín ngưỡng:
1) “Người đang chấp hành án phạt tù hoặc
đang bị quản chế theo quy định của pháp
luật th́ không được chủ tŕ lễ nghi tôn giáo,
truyền đạo, giảng đạo, quản lư tổ
chức của tôn giáo và chủ tŕ lễ hội tín
ngưỡng.
2) “Đối với người đă chấp hành xong các h́nh
phạt hoặc biện pháp xử lư hành chính quy
định tại khoản 1 Điều này, chỉ sau khi
được tổ chức tôn giáo đăng kư hoạt
động và được sự chấp thuận
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới
được chủ trù lễ nghi tôn giáo, truyền
đạo, giảng đạo và quản lư tổ chức
tôn giáo.”
Hai khoản này đă nhắm thẳng vào số Linh mục,
Thầy giảng, các Nhà truyền giáo Thiên Chuá giáo và các
vị Hoà Thượng, Thượng tọa, Đại
đức, Chư tăng Phật giáo, Giáo hội Phật
giáo Hoà Hảo và các Tôn giáo khác đang bị nhà nước
cầm tù, quản chế hành chính. Nổi bật nhất
trong số nạn nhân của Pháp lệnh này là các Linh
mục Nguyễn Văn Lư, Nguyễn Hữu Giải, Phan
Văn Lợi và một số Thầy lănh đạo
của Ḍng Đồng Công Thủ Đức của Giáo hội
Công giáo; Đức Tăng thống Huyền Quang, Hoà
Thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích
Tuệ Sỹ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
thống nhất, Cụ Lê Quang Liêm, lănh đạo Phật
giáo Hoà Hảo và Mục sư Tin lành Nguyễn Hồng Quang
mới bị bắt v.v...
Thứ sáu, Đến
điều 15 của Pháp lệnh, Nhà nước c̣n nhúng tay
sâu hơn vào nội bộ các tôn giáo bằng những
điều khoản mơ hồ như sẽ bị
“đ́nh chỉ” hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo nếu:” Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến trật tự công cộng
hoặc môi trường.Tác động xấu
đến đoàn kết nhân dân, đến truyền
thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, tài sản của người khác. Có hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng khác.”
Nhưng thế nào là “an
ninh quốc gia” và “ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường”, hay “tác động xấu
đến đ̣an kết nhân dân”? Cả ba lư do này có
thể diễn nghĩa thế nào cũng được v́
không có luật lệ nào của nhà nước CSVN
định nghĩa rơ rệt! Cũng như muốn
bắt ai th́ Công an cứ việc nêu ra lư do vi phạm “an
ninh quốc gia” như đă và đang làm ở Việt Nam.
AI ĐỘC LẬP HƠN
AI?
Như vậy th́ Nhà
nước CSVN có “độc lập” và không can thiệp vào
sinh hoạt của người có Tín ngưỡng không?
Bởi v́, theo điều 16 của Pháp lệnh mới,
“Tổ chức được công nhận là tổ
chức tôn giáo”, ngoài những điều kiện về
tổ chức, hiến chương, điều lệ
vv... c̣n phải “Có đăng kư hoạt động tôn giáo
và hoạt động tôn giáo ổn định.”
Nguyễn Thanh Xuân diễn
giải điều kiện này một cách máy móc: “ Khi
một tổ chức tôn giáo được đăng kư
hoạt động và có quá tŕnh hoạt động tuân
thủ pháp luật trong một thời gian nhất
định cộng với các điều kiện c̣n
lại th́ mới được công nhận.”
Hai trong số điều
kiện “c̣n lại” này là phải “Có trụ sở, tổ
chức và người đại diện hợp pháp” và “Có
tên gọi không trùng hợp với tên gọi của tổ
chức tôn giáo đă được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền công nhận.”
Trường hợp Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn
Quang) do Tăng thống Huyền Quang lănh đạo đă
đương nhiên bị Pháp lệnh này gạt ra khỏi
xă hội! Nhưng liệu đảng CSVN có xoá sổ
tổ chức này trong thực tế được không?
Về việc phong
chức, phong phẩm th́ điều 22 viết: “ Việc
phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử trong tôn giáo được thực hiện theo
hiến chương, điều lệ của tổ
chức tôn giáo và đảm bảo điều kiện quy
định tại khoản 2 Điều này; trường
hợp có yếu tố nước ngoài th́ c̣n phải có
sự thoả thuận trước với cơ quan
quản lư nhà nước về tôn giáo trung ương.”
Khoản 2 đ̣i các
điều kiện: “ Là công dân Việt Nam; Có tư cách
đạo đức tốt; Có tinh thần đoàn
kết, hoà hợp dân tộc; Nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật.”
Nội dung điều 22
đă “bắn” trúng trái tim của Giáo hội Công giáo. Tuy
yếu tố chính quyền địa phương không c̣n
trong sự chọn lựa hay đồng ư, nhưng theo Xuân
th́: “ Tuy nhiên, sau khi phong chức, phong phẩm hoặc
bầu cử, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm
đăng kư người được phong với chính
quyền sở tại để họ có đầy
đủ tư cách hoạt động tôn giáo trong chức
trách được giao. Đối với nhân sự do
nước ngoài phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm
(như trường hợp Vatican phong chức Giám mục)
th́ phải đạt được sự thoả
thuận trước với cơ quan quản lư nhà
nước về tôn giáo ở Trung ương.”