Để có thể thấy rơ sự siết
chặt hơn đối với các sinh hoạt tôn giáo,
chúng tôi cho đăng lại nguyên văn Sắc lệnh
số 234 năm 1955 của Hồ Chí Minh ấn định
các sinh hoạt tôn giáo trước đây (mặc dù tài
liệu nầy cũng chỉ có giá trị trên văn
bản mà thôi). [MLNQVN]
-------------------------------------------------------------
Sắc Lệnh
số 234 của Nhà Nước Việt Nam - Quyền
Tự Do Tín Ngưỡng
VIỆT-NAM DÂN-CHỦ
CỘNG-HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SẮC LỆNH Số 234
- S-L
Hà nội, ngày 14 tháng 6
năm 1955
CHỦ TỊCH
NƯỚC VIỆT-NAM DÂN-CHỦ CỘNG-HOÀ
Căn cứ vào chính sách
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về
vấn đề tôn giáo.
Căn cứ vào những nguyên tắc bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng do Quốc hội
Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà đă thông qua
trong khoá họp thứ tư.
Theo nghị quyết
của hội đồng Chính phủ và được Ban
Thường Trực Quốc hội thoả thuận
RA SẮC LỆNH :
CHƯƠNG I
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG
Điều 1. Chính
phủ bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai
được xâm phạm đến quyền tự do
ấy. Mọi người Việt Nam đều có
quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một
tôn giáo nào.
Các nhà tu hành
được tự do giảng đạo tại các
Cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất,
trường giáo lư.....)
Khi truyền bá tôn giáo các
nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ
ḷng yêu nước, nghĩa vụ của người công
dân, ư thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật
của nước Việt-nam Dân-chủ Cộng-hoà.
Điều 2. Các nhà
tu hành và các tín đồ đều được
hưởng mọi quyền lợi của người
công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của
người công dân.
Điều 3. Các nhà
tu hành người ngoại quốc mà Chính phủ
Việt-nam Dân-chủ Cộng-hoà cho phép, th́ được
giảng đạo như các nhà tu hành Việt-nam và
phải tuân theo luật pháp của nước Việt-nam
Dân-chủ Cộng-hoà, như các ngoại kiều khác.
Điều 4. Các tôn
giáo được xuất bản và phát hành những kinh
bổn, sách báo có tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân
theo luật pháp của chính phủ nước Việt-nam
Dân-chủ Cộng-hoà về việc xuất bản.
Điều 5. Các tôn
giáo được mở trường đào tạo
những người chuyên hoạt động tôn giáo
của ḿnh.
Điều 6. Các nhà
thờ, đền, chùa, miếu, thánh thất và các
đồ thờ, các trường giáo lư của các tôn giáo
được pháp luật bảo hộ.
Điều 7. Pháp
luật sẽ trừng trị những kẻ nào
mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà b́nh,
thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên
truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở
tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm
đến tự do tín ngưỡng và tự do tư
tưởng của người khác, hoặc làm những
việc khác trái pháp luật.
CHƯƠNG II
ĐỐI VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ,
VĂN HOÁ, XĂ HỘI CỦA CÁC TÔN GIÁO
Điều 8. Các
tổ chức của tôn giáo có tính chất kinh tế,
văn hoá, xă hội đều được hoạt
động sau khi đă xin phép chính quyền và
được chính quyển chuẩn y chương tŕnh,
điều lệ.
Những tổ chức
ấy đều coi như những tổ chức của
tư nhân và được pháp luật bảo hộ.
Điều 9. Các tôn
giáo được phép mở trường tư thục.
Các trường tư thục đó phải dạy theo
chương tŕnh giáo dục của chính phủ. Ngoài
giờ dạy theo chương tŕnh giáo dục của chính
phủ có thể dạy thêm giáo lư cho những học sinh
nào muốn học.
CHƯƠNG III
ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT
CỦA CÁC TÔN GIÁO
Điều 10. Trong
cải cách ruộng đất, khi chính phủ trưng thu
hoặc trưng mua ruộng đất của các tôn giáo
để chia cho nông dân th́ sẽ để lại cho nhà
thờ, nhà chùa, thánh thất một số ruộng
đất đủ cho việc thờ cúng và cho những
nhà tu hành có điều kiện sinh sống để làm việc
tôn giáo.
Số ruộng ấy là
bao nhiêu sẽ do nông dân địa phương (nơi có nhà
thờ, nhà chùa, thánh thất) b́nh nghị và do chính quyền
cấp tỉnh chuẩn y.
Nông thôn khi chia ruộng
đất, những người làm công trong các nhà thờ,
nhà chùa cũng được chia một phần như nông
dân lao động khác.
Điều 11. Khi phát
động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng
đất, những Giám mục, Linh mục, Nhà sư,
Mục sư, Chúc sắc có ruộng đất riêng phát canh
thu tô như địa chủ, sẽ không quy định
thành phần là địa chủ, nhưng phải thi hành
đúng chính sách ruộng đất của Chính phủ.
Điều 12.
Để bảo đảm việc thờ cúng của nhân
dân và giúp đỡ các nhà tu hành, đối với phần
ruộng đất mà nhà thờ, nhà chùa, thánh thất
được sử dụng từ sau cải cách
ruộng đất, Chính phủ sẽ chiếu cố và
cho đóng thuế nông nghiệp theo mức nhẹ hơn.
CHƯƠNG VI
QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN VÀ CÁC TÔN GIÁO
Điều 13. Chính
quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo.
Riêng về công giáo, quan
hệ về tôn giáo giữa Giáo Hội Việt nam với
Toà Thánh La-mă là vấn đề nội bộ của công
giáo.
Điều 14. Các
tổ chức tôn giáo phải tuân theo luật pháp của
nước Việt-nam Dân-chủ Cộng-hoà, như mọi
tổ chức khác của nhân dân.
Điều 15.
Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là
một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân
chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi
ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 16.
Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Cải cách
ruộng đất Trung ương và các Bộ có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh này.Chủ
tịch
Nước Việt-nam
Dân-chủ Cộng-hoà
Đă kư : Hồ Chí Minh
Tiếp kư
K/T Thủ thướng Chính phủ
Phó Thủ tướng
Đă kư : Phạm Văn Đồng