|
Các quyền của bị can, bị cáo: So sánh các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam với thực tiễn của Hoa Kỳ
Luật sư Tạ Văn Tài Tiến Sĩ Chính trị học, Trợ tá nghiên cứu/Giảng viên Đại học Luật Harvard
Lời Phi Lộ Bài này là một trong nhiều bài thuyết tŕnh của phái đ̣an 6 luật sư Hoa Kỳ du lịch về Hà Nội, với sự bảo trợ tài chánh của Tổ Chức International Bridges For Justice tại Geneva, để tŕnh bày tại Khóa Tập Huấn Luật sư vào đầu tháng 4/2004 cho khỏang chừng 400 luật sư Việt Nam tại Miền Bắc Việt Nam, với sự bảo trợ về tổ chức của Đ̣an Luật Sư Hà Nội và Bộ Tư Pháp Việt Nam . Trong sự trao đổi về kỹ năng hành nghề luật sư với các luật sư Việt Nam, tác gỉa muốn trao đổi kinh nghiệm tại Hoa Kỳ với các luật sư Việt Nam, dựa vào sự so sánh luật án lệ thực tiễn của Hoa Kỳ với các tiêu chuẩn trong luật thành văn trong Bộ Tố Tụng H́nh Sự mới của Việt Nam, vừa ban hành vào đầu năm và thi hành vào tháng 7,2004, về một khía cạnh trong công việc bảo vệ thân chủ của luật sư : QUYỀN Bị CAN/ Bị CÁO. Tác gỉa nhận thấy là các luật sư Việt Nam có ḷng tự trọng rất cao về vai tṛ nghề nghiệp của họ, muốn t́m hiểu, học hỏi về thực tiễn hành nghề luật sư ở nước ng̣ai, đặc biệt là tại nơi có một nền pháp trị và dân chủ hơn 200 năm, là Hoa Kỳ. Và sau buổi thuyết tŕnh, rất nhiều luật sư vây quanh tác gỉa để hỏi han thêm. Tác gỉa nhận thấy chính họ là những người tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền trong khuôn khổ của chế độ, nhưng vẫn can đảm nêu lên những điều phải cải tổ thêm trong luật, thí dụ phải cho bị can bị cáo và luật sư của họ nhiều bảo đảm hơn và họ đă đúc kết thành một danh sách các điều yêu cầu (thí dụ phải cho bị can, bị cáo có luật sư ngay trong giai đọan thẩm vấn sơ khởi tại cơ quan công an điều tra [điều này, ngay chính Ông Chánh Ṭa của Ṭa H́nh Sự Ṭa Án Tối Cao, có hiện diện và nói chuyện trong Khóa này, cũng đồng ư], và phải cho luật sư tự do gặp thân chủ dễ dàng hơn, nhiều giờ hơn). Ngừơi dân thấp cổ bé miệng tại Việt Nam đang có những ngừơi biện hộ tranh đấu cho dân quyền/nhân quyền của ḿnh ngay tại trong nứơc. Cộng đồng dân tộc ở hải ngọai cũng nên nhớ là ngay trong cộng đồng dân tộc ở trong nước, đă và đang có những chiến sĩ can đảm tranh đấu cho nhân quyền cuả người dân, và họ cũng có thể góp phần vào việc đó từ bên ng̣ai. Khi Thủ Tướng Phan Văn Khải tới Boston và Harvard giữa năm 2005, Văn Pḥng Thượng Nghị Sĩ Kennedy yêu cầu có tài liệu để nói chuyện về nhân quyền với Thủ Tướng, th́ tác gỉa có đưa bài này và tài liệu khác cho Văn Pḥng đó. Trong buổi gặp Đoàn Đại biểu Quốc Hội Việt Nam, đi cùng chuyến đi của Thủ Tướng, tác gỉa cũng chuyển một bản bài này cho Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Ngoại Giao Quốc Hội và là Trưởng Đ̣an. Với bài thuyết tŕnh này, người Việt Nam hải ngoại tại Mỹ , ngoài việc nhận định về các nguyên tắc h́nh sự liên quan đến nhân quyền của người bị can ở Việt Nam, c̣n có thể t́m hiểu những quy chuẩn trong luật và án lệ Mỹ về nhân quyền/dân quyền của người bị can, để dùng trong sinh hoạt của ḿnh và đồng bào ḿnh ngay tại Mỹ, nhất là trong việc đối phó với các hành vi trái luật của cảnh sát Mỹ, v́ tính hung hăn cũng có, nhưng nhiều khi v́ thói kỳ thị. Trong mục đích t́m hiểu luật Mỹ, bài này đă được hiệu đính lại theo những biến chuyển trong sự tương tranh hai năm qua, cho đến tháng 7,2006, giữa Hành Pháp, muốn tăng quyền khám xét để chống khủng bố ( như nghe lén điện thoại), và Lập Pháp và các tầng lớp dân chúng, muốn bảo tồn các dân quyền cố hữu. **** Trước hết, tôi xin nói mấy câu mở đầu để bày tỏ sự vui mừng về tiến bộ mau chóng, vượt bực trong lănh vực lập pháp tại Việt Nam quê hương thứ nhất của tôi, so sánh với nước lớn Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa. Thực ra th́ Việt Nam đă có truyền thống lập pháp đầy đủ hơn, sớm hơn Trung Quốc. Chẳng hạn, vào năm 1975, Trung Quốc có một hiến pháp ngắn ngủi và coi thường vai tṛ của luật pháp và luật gia và phải đợi đến 1979 th́ ông Đặng Tiểu B́nh lên cầm quyền mới đưa vào một thời kỳ trọng pháp. Năm 1986, Phó Thủ tướng Qiao Shi và Bộ trưởng Tư pháp Zou Yu vẫn c̣n phải nói là sau bao nhiêu năm cố hồi phục v́ sự tàn phá của Cuộc Cách mạng văn hóa, th́ rất cần phải phát triển hệ thống pháp luật và hệ thống đoàn luật sư để đem lại an toàn pháp lư và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xă hội (Nhân Dân Nhật báo 7/7/1986). Về h́nh sự tố tụng, Trung Quốc có một dự thảo 200 điều vào năm 1963, nhưng sau đó bị xếp xó; đến 1979 mới có Bộ Tố tụng H́nh sự đầu tiên 164 điều, được tu chính năm 1996, giảm xuống c̣n 110 điều. Hơn 1 tỷ người, Trung Quốc chỉ có vài ngàn luật sư vào năm 1979; phải đợi đến năm 1996 mới có 100.000 luật sư. Đem so sánh, th́ Việt Nam đă có 4 Hiến pháp dài và đầy đủ: 1946,1959, 1980 và 1992, và đă có một loạt các các bộ luật suốt từ thời Pháp thuộc đến giờ. Dù kháng chiến giành độc lập chống Pháp, nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa vẫn có văn bản nói rơ là các bộ luật thời Pháp không trái với chủ quyền quốc gia, trong các lănh vực dân sự, h́nh sự chẳng hạn, vẫn áp dụng. Và ngay trong thời gian dài trong hai cuộc chiến tranh Việt- Pháp và Việt-Mỹ, Việt Nam vẫn ban hành rất nhiều pháp luật thành văn, và văn bản dưới luật (đóng thành tập, cũng dày vài ngàn trang). Với truyền thống lập pháp cẩn thận, số lượng văn bản luật và quy tắc dưới luật tại Việt Nam nhiều hơn ở Trung Quốc, trước cũng như sau Đổi Mới. Vào tháng 11 năm 2003, Việt Nam ban hành Bộ luật Tố tụng H́nh sự, gồm 346 điều, được cải sửa sâu rộng so với Bộ luật Tố tụng H́nh sự cũ 1988. V́ là bộ luật tiến bộ nhất so với các bộ luật cũ của Việt Nam, và có hiệu lực từ tháng 7 /2004, chúng tôi nghĩ là hợp thời nếu bàn về các đặc sắc của Việt Nam trong các nguyên tắc pháp lư về quyền bị can/bị cáo (các nguyên tắc đó được bổ túc căn cứ trên thực tiễn thi hành bộ luật năm 1988) với thực tiễn thi hành trong hệ thống ṭa án của Hoa Kỳ, nước bạn mới của Việt Nam, trong suốt hơn hai trăm ba mươi năm nền dân chủ hiến định. Hy vọng rằng so sánh như vậy sẽ giúp cho việc trao đổi kinh nghiệm hiệu quả hơn giữa các luật gia Việt Nam và Hoa Kỳ, thuộc hai nền văn minh pháp lư khác nhau. Đă có nhiều phái đoàn luật gia Việt Nam sang Hoa Kỳ nghiên cứu, tham quan, từ các ngành hành pháp (Văn pḥng Chính phủ), lập pháp (Văn pḥng Quốc hội) và Tư pháp (phái đoàn do Chủ tịch Ṭa án nhân dân tối cao lănh đạo tới Mỹ năm 2003). Khi đối chiếu lề lối hai nền văn hóa pháp lư Việt và Mỹ giải quyết vấn đề quyền bị can/bị cáo ra sao, các chuyên gia sẽ thấy hai hệ thống đó có nhiều điểm tương đồng, hơn là dị biệt, về những nguyên tắc pháp lư của luật pháp và của những văn kiện căn bản hơn, tức là Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và Hiến pháp Liên Bang Hoa Kỳ (ghi ở các Tu chính án hay Sửa đổi [ Amendments] trong Tuyên ngôn Nhân quyền [ Bill of Rights] ). Các luật gia quốc tế sẽ rất thú vị thấy rằng luật h́nh sự và tố tụng h́nh sự của Việt Nam đă hiện đại đến mức nào. Cũng như thế, trong nỗ lực thực hiện Đổi Mới mọi mặt của đời sống toàn đất nước v́ mục tiêu ‘công bằng, dân chủ và văn minh’, trong đó có lư tưởng ‘tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân’ trong tố tụng h́nh sự (Điều 4 Bộ luật Tố tụng H́nh sự [ BLTTHS] ), các luật gia Việt Nam sẽ thấy hữu ích khi nghiên cứu thực tiễn tố tụng h́nh sự của Hoa Kỳ trong lĩnh vực quan trọng này, để xem tự do và sự toàn vẹn con người của công dân được che chở ra sao bởi Hiến pháp của Liên bang và tiểu bang và bởi luật, thông luật và án lệ, phát triển trong hơn hai trăm ba mươi năm của nền dân chủ hiến định. Có vài nhận xét nhắn các luật sư biện hộ.
Ngay tại Mỹ, cũng phải tranh đấu trường kỳ mới có công lư cho bị can trong thực tiễn (như lịch sử phát triển án lệ cho thấy). Tại Việt nam, đă có cái khung pháp lư đầy đủ hơn trước đây để tranh đấu cho thân chủ, các luật sư trong nỗ lực nghiệp vụ có thể học hỏi kinh nghiệm các luật sư Mỹ trong cố gắng bênh vực cho khách hàng của họ. Theo Luật về Đạo đức Nghề nghiệp Luật sư, luật sư tại Mỹ theo đuổi công lư cho khách hàng bằng ‘nỗ lực mạnh mẽ bênh vực quyền lợi của khách hàng trong khuôn khổ luật pháp’ (stremous efforts to defend client’s interests within the bounds of law), trong hai lănh vực: (1) điều tra kỹ lưỡng về sự kiện để tŕnh bày với ṭa án câu chuyện hợp t́nh lư về mặt các sự kiện và (2) yêu cầu áp dụng các nguyên tắc pháp luật mà luật sư có quyền xin ṭa giải thích rộng răi thêm ra có lợi cho thân chủ (argument for extension of the law). Nếu nhà làm luật, cơ quan áp dụng và thi hành luật ở Việt Nam có chiều hướng đưa ra và tuân hành đúng đắn hơn các nguyên tắc luật tốt đẹp, th́ luật sư Việt Nam cũng có khả năng dựa vào khung luật pháp để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của thân chủ, mà lấy nguồn cảm hứng trong hệ thống luật Mỹ.
Sau đây sẽ bàn về: 1) khám xét và thu giữ; 2) bắt ngựi, tạm giam và biện pháp ngăn chặn; 3) quyền có luật sư/người bào chữa ; 4) thực hiện các quyền của bị can/bị cáo
I. Khám xét và Thu giữ
Hiến pháp Việt Nam tuyên bố quyền tự do thân thể của mỗi công dân là bất khả xâm phạm (Điều 71). Bộ luật Tố tụng H́nh sự quy định nguyên tắc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân (Điều 7).
Điều 73 của Hiến pháp Việt Nam và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng H́nh sự bảo vệ tính bất khả xâm phạm của nơi cư trú, sự an toàn và bí mật thư từ, điện thoại, điện tín; bất kỳ sự khám xét nào cũng phải tuân theo quy định của pháp luật. [ Bài viết này sẽ trích dẫn các ư chính trong các điều luật của Hiến pháp Việt Nam và Bộ luật Tố tụng H́nh sự].
Khám xét
Điều 140 Bộ luật Tố tụng H́nh sự quy định căn cứ cho việc khám người, nhà ở và nơi cư trú khác, cũng như thư từ và bưu phẩm la‘ sự nghi ngờ rằng công cụ hoặc phương tiện phạm tội, đồ vật do phạm tội mà có, các tài liệu và những ǵ liên quan khác, hoặc những người bị truy nă có thể có mặt hoặc ở tại những nơi đó.
Điều 141 Bộ luật Tố tụng H́nh sự : Việc khám xét phải có lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát, phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án hoặc Phó Chánh án của Ṭa án, Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ở tất cả các cấp (trong trường hợp nói sau cùng này, Viện trưởng Viện kiểm sát phải phê chuẩn lệnh khám trước khi thi hành, hoặc trong trường hợp khẩn cấp, cần phải thông báo cho viện kiểm sát trong ṿng 24 giờ sau khi khám xét).
Điều 142 Bộ luật Tố tụng H́nh sự : Việc khám người chỉ được tiến hành nếu người bị xét hỏi từ chối giao nộp đồ vật theo yêu cầu và phải có lệnh khám được đọc to lên cho người đó nghe, trong lệnh nêu rơ các quyền của người đó, việc khám người phải được thực hiện bởi người cùng giới tính với người bị khám; khám người có thể thực hiện không có lệnh khám, trong trường hợp một người đă bị bắt hoặc cơ quan có thẩm quyền có lư do để tin rằng người có mặt tại nơi khám xét đang giấu đồ vật trong người.
Điều 143 Bộ luật Tố tụng H́nh sự : Việc khám chỗ ở phải được tiến hành với sự hiện diện của những người trưởng thành trong gia đ́nh hoặc đại diện của chính quyền địa phương và 2 người láng giềng, và phải được tiến hành vào ban ngày, trừ khi có sự cần thiết không thể tŕ hoăn, điều này phải được ghi vào biên bản; khám xét nơi làm việc phải có sự hiện diện của người bị xét hỏi và người phụ trách ở đó; những người bị khám xét không được rời khỏi nơi đó hoặc liên lạc với người khác cho đến khi việc khám xét kết thúc.
Thu giữ
Điều 144 Bộ luật Tố tụng H́nh sự: Thu giữ thư từ, điện báo, bưu kiện và vật phẩm khác tại bưu điện th́ phải có lệnh thu giữ của Trưởng hoặc Phó trưởng cơ quan điều tra, lệnh này phải được Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp việc thu giữ không thể tŕ hoăn, trong trường hợp đó th́ phải ghi rơ lư do vào biên bản và sau khi thu giữ phải báo ngay cho viện kiểm sát. Đại diện của bưu điện phải giúp đỡ việc tiến hành thu giữ và là một nhân chứng. Cơ quan thu giữ phải thông báo cho người có đồ vật bị thu giữ.
Điều 145 Bộ luật Tố tụng H́nh sự: Việc thu giữ đồ vật và tài liệu liên quan đến vụ án h́nh sự phải được lập biên bản, biên bản gồm 4 bản để giao cho chủ đồ vật, tài liệu, đưa vào hồ sơ vụ án, gửi cho viện kiểm sát và giao cho cơ quan quản lư đồ vật, tài liệu bị thu giữ. Đồ vật bị giữ phải được giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền, nếu cần th́ đóng dấu niêm phong hoặc khóa lại trước sự chứng kiến của chủ đồ vật hoặc những đại diện của gia đ́nh và của chính quyền địa phương.
Điều 146 Bộ luật Tố tụng H́nh sự: Không thu giữ mà chỉ kê biên đối với tài sản là đối tượng của vụ án mà bị can, bị cáo phạm tội có thể bị tịch thu tài sản hoặc bị phạt tiền, hoặc chịu trách nhiệm bồi thường; chỉ cần kê biên tương xứng với mức tài sản có thể bị tịch thu, khoản tiền bị phạt hoặc mức độ bồi thường; việc kê biên phải được tiến hành với sự có mặt của đương sự, hoặc một người đă trưởng thành trong gia đ́nh, đại diện của chính quyền địa phương và người láng giềng chứng kiến; tài sản bị kê biên có thể giao cho chủ tài sản hoặc họ hàng thân thích của người đó bảo quản; biên bản được lập thành 3 bản: một bản được giao cho chủ tài sản, một bản gửi cho viện kiểm sát và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 147 Bộ luật Tố tụng h́nh sự: Những người được giao bảo quản tài sản bị kê biên không được huỷ bỏ niêm phong, dùng, chuyển hoặc cất giấu tài sản, nếu làm như vậy th́ phải chịu trách nhiệm h́nh sự. Điều 149 Bộ luật Tố tụng h́nh sự: Những người ra lệnh, thi hành lệnh khám xét, thu giữ và kê biên tài sản trái pháp luật th́ bị xử lư kỷ luật và chịu trách nhiệm h́nh sự cũng như chịu trách nhiệm bồi thường dân sự.
Thực tiễn ở Hoa Kỳ
Sự phát triển lâu dài qua nhiều năm của luật án lệ Hoa Kỳ về vấn đề Khám xét và Thu giữ là xuất phát từ Sửa đổi Hiến pháp số 4 (4th Amendment) trong Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights) của Hiến pháp Liên bang, trong đó có quy định: "Không thể vi phạm quyền con người được an toàn về thân thể, nhà ở, tài liệu, đồ vật, đối với việc khám xét và thu giữ và không được ban hành lệnh xét và thu giữ, trừ trường hợp có căn cứ thỏa đáng (probable cause) sau khi có lời khai tuyên thệ hoặc xác nhận và miêu tả cụ thể nơi bị khám xét và người bị khám hoặc đồ vật bị thu giữ ".
Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ đă cho rằng Sửa đổi số 5 này áp dụng cho cả hai vấn đề: khám xét/ thu giữ (search/seizure) và bắt giữ/tạm giam (arrest/detention).
Khi áp dụng vào việc khám xét và thu giữ, Sửa đổi số 4 đă đưa ra Quy tắc loại trừ (Exclusionary Rule) trong pháp luật h́nh sự: chứng cứ có được do việc khám xét và thu giữ bất hợp pháp sẽ bị loại bỏ, hoặc không được chấp nhận trong tŕnh tự tố tụng h́nh sự.
Nhưng quy tắc loại trừ này không thể áp dụng [không có giá trị] đối với việc khám xét bởi các tư nhân, hoặc việc khám xét trong các vụ án dân sự, thí dụ như việc t́m ṭi trục xuất người ngoại quốc trong pháp luật về di dân. Ngoài ra, lại có: (1) biệt lệ v́ lư do đă có thành tín: quy tắc loại trừ này không ngăn cấm việc sử dụng chứng cứ có được do các viên chức hành động một cách hợp lư, dựa vào lệnh khám xét có giá trị về mặt h́nh thức, mà lệnh đó được ban hành bởi một thẩm phán công bằng và vô tư, nhưng khi dùng nó th́ cuối cùng mới phát hiện ra lệnh đó vô hiệu v́ thiếu căn cứ xác đáng (probable cause), và (2) biệt lệ v́ lư do đàng nào cũng t́m ra được: nếu sau cùng công tố viên có thể chứng minh rằng chứng cứ thu được theo đường lối trái pháp luật th́ cuối cùng cũng t́m ra được bởi các biện pháp hợp pháp khác, th́ chứng cứ này có thể được chấp nhận trong tố tụng - Vụ Nix kiện Williams,81 L.Ed.377(1984). [Lawyers’Edition là tên Tuyển tập án lệ].
Luật sư hoặc ṭa án thảo luận về hiệu lực hay giá trị của việc khám xét sẽ tiến hành qua 4 hoặc 5 bước sau đây:
1. Trước tiên, có việc khám xét không? hoặc không hề có việc khám xét?
Tiêu chuẩn để đánh giá được nêu ra trong bản án Katz kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 389 US 347 (1967), án này đă băi bỏ định nghĩa việc khám xét theo ư nghĩa đồ vật, và đưa ra nguyên tắc là việc khám xét được coi là bất hợp lư khi chính quyền vi phạm sự kỳ vọng chính đáng về chỗ riêng tư của bị cáo [US là tên tập án lệ của Tối cao Pháp viện Mỹ]. Trong vụ án này, Ṭa án đă vô hiệu hóa thiết bị điện tử theo dơi cuộc điện thoại của bị cáo trong buồng điện thoại công cộng. Trái lại, án Smith kiện Maryland, 442 US 736 (1979) cho rằng không có việc khám xét khi công ty điện thoại đưa cho cảnh sát những số điện thoại mà bị cáo đă gọi, nhưng đă không ghi lại nội dung của các cuộc nói chuyện, bởi v́ các số đă gọi đều phải đưa cho công ty điện thoại kiểm soát khi thực hiện bất kỳ cuộc gọi nào, v́ vậy không có bí mật riêng tư nào trong thông tin này. Cũng vậy, khi ném đồ vật vào thùng rác th́ tức là đă từ bỏ kỳ vọng riêng tư về các món đồ đó, chúng không được che chở bởi luật về khám xét nữa. .Commonwealth chống Krisco Corporation 421 Mass 37,41 (1995) [Mass. Là Tuyển Tập Các Bản Án Massachusetts]
a) Những khu vực được bảo vệ với tính chất là bí mật riêng tư gồm có: nhà ở, pḥng khách sạn, văn pḥng làm việc tư hoặc các khu vực riêng của cửa tiệm hoặc công ty, án Lanza kiện thành phố New York, 370 US 139,142 (1962). Hàng hóa được để ở tiệm không làm cho tiệm mất đi những tính cách riêng tư trong hàng hóa đó và không tránh được yêu cầu phải có lệnh khám xét , án Công ty bán hàng Lo-Ji kiện thành phố New York, 442 Hoa Kỳ 319 (1979). Nhưng cảnh sát có thể kiểm tra những cuốn sách trưng bày có chủ ư dành cho khách hàng ( đó không phải là khám xét) và sau đó mua một số văn hóa phẩm khiêu dâm (không có sự thu giữ mà là tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu) . Vụ Maryland kiện Macon, 86 L.Ed. 370 (1985). Các vấn đề khám xét khó đánh giá như việc khám xét ga-ra, các khu vực chung của ṭa chung cư có thể được giải quyết bằng cách cân nhắc kỳ vọng riêng tư của bị cáo về khu vực đó. Nếu cất giấu máy truyền thanh trong công-ten-nơ đă bán cho bị cáo để theo dơi việc đi lại của anh ta bằng ô-tô trên xa lộ, sau đó đi theo về nhà riêng của anh ta, th́ không phải là sự khám xét hoặc thu giữ, bởi v́ đó chỉ là kỹ thuật cao để tăng cường giác quan của cảnh sát, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Knotts, 75 L.Ed. 2d 55 (1983). Đặt một thiết bị Định Vị Trí Trên Toàn Cầu (Global Positioning System, GPS) vào ô tô một người để theo dơi người đó không phải là khám xét, v́ không ai có thể kỳ vọng riêng tư khi chạy xe trên công lộ (vụ một luật sư bị nghi là đảng viên băng đảng Hell’s Angels, ‘Thiên Thần Từ Địa Ngục’, một băng đảng lái xe mô tô buôn thuốc sái ). Nhưng việc đặt máy nghe trong nhà mà người chủ nhà có kỳ vọng hợp lư về chỗ riêng tư về nơi ở, chính là việc khám xét bất hợp pháp, vi phạm chỗ riêng tư. Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Karo 82 L.Ed. 2d 530 (1984). Nhưng dù trong chỗ riêng tư của nhà ở, sự khám xét với lệnh hợp pháp (xem mục 2 dưới đây) không cần phải báo trước bằng cảch gơ cửa hay chờ mở cửa; bằng chửng thu được sau khi cảnh sát ập vô lục xoát thu giữ được vẫn có gía trị, không bị loại bỏ trong phiên xử ( Phán quyết Tối Cao Pháp Viện ngày 15/6/2006, thiên về quyền của cảnh sát, cho thấy khuynh hướng mới của Toà, với hai thẩm phán mới .)
b) Những khu vực/đồ vật không được bảo vệ, bao gồm:
(i) Cánh đồng, đường phố, lối đi bộ và công viên. Không cá nhân nào được yêu cầu có sự riêng tư đối với các hoạt động được thực hiện ở khung cảnh bên ngoài, ngoại trừ trong khu vực xung quanh ngay sát khu nhà ở. Khu vực rừng và các khu cây xanh khác xung quanh ngôi nhà có thể bị theo dơi từ không gian bên ngoài- Vụ tiểu bang California kiện Ciraslo 90 L. Ed. 1986.
(ii) Các đồ vật, mặc dù trong khu vực được bảo vệ (nhà ở, văn pḥng, xe ô-tô), được ‘ nh́n thấy rơ ràng’ (in plain view), nghĩa là chúng có thể được nh́n thấy từ một vị trí thuận lợi mà công chúng lui tới. Không bị coi là khám xét nếu cảnh sát nh́n thấy những đồ vật bên trong xe ô-tô thông qua cửa sổ kính, cho dù đă phải dùng ánh sáng chiếu của đèn chớp chiếu vào bên trong xe. Vụ Harris kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 390 US 234 (1968). Học thuyết ‘ nh́n thấy rơ ràng’ cũng được sử dụng để khám xét có hiệu lực đối với việc thu giữ một đồ vật bất hợp pháp ở trong nhà mà không liên quan đến tội phạm ghi trong lệnh khám , khi mà cảnh sát có lệnh khám để đi vô hợp pháp nơi cần khám xét ; vụ Washington kiện Chrisman, 455 US 1 (1982) ; thí dụ, t́m kiếm ma tuư nhưng phát hiện ra hàng hóa bị ăn trộm nằm ch́nh ́nh ra, ‘nh́n thấy rơ ràng’. Tuy vậy, các đồ vật không được coi là được nh́n thấy rơ nếu cảnh sát phải sử dụng kính viễn vọng để nhận dạng chúng.
(iii) Những lời khai của bị cáo đối với người mật báo và t́nh báo của cảnh sát, họ giả đ̣ là bạn của bị cáo, không được coi là có được nhờ khám xét, tức là không bị bỏ ra ngoài vụ v́ khám xét bất hợp lệ . Vụ Hoffa kiện Chính phủ Hoa Kỳ 385 US 293 (1966).
(iv) Chứng cứ có được bởi trát của ṭa án, không được coi là do khám xét. Một lệnh của ṭa án đ̣i bằng chứng thể chất của hành vi phạm tội, chẳng hạn mẫu giọng nói hoặc mẫu viết tay, nếu lệnh được ban hành bởi bồi thẩm đoàn lớn (grand jury), th́ không phải là việc khám xét hoặc thu giữ theo nghĩa Sửa đổi Hiến Pháp số 5 . Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Dionisio 410 US 1 (1973).
2. Có một lệnh khám xét hợp lệ về h́nh thức hay không?
Lệnh khám xét cho phép chỉ được khám xét nơi chốn và con người được chỉ định trong lệnh đó. Lệnh khám xét một nhân viên pha rượu và quán rượu không có nghĩa là cho phép khám xét các khách hàng. Lệnh cần phải đáp ứng những yêu cầu về thủ tục liệt kê sau đây th́ mới có hiệu lực:
a) Người chấp hành lệnh phải đến trước một phẩm phán công bằng và vô tư (ṭa án hoặc quan chức độc lập), người này quyết định liệu xem có căn cứ thỏa đáng để ban hành lệnh hay không. Vụ Johnson kiện Chính phủ Hoa Kỳ 333 US 10 (1948).
Sau cuộc khủng bố tấn công tháng 9 ngày 11,2001 ( thường gọi tắt là 9/11), Đạo Luật Patriot Act, v́ dành cho hành pháp nhiều quyền hơn, đă gây lo lắng cho một số người, họ lo là nhân viên nhà nước sẽ ŕnh rập, ḍ xét công dân, bằng cách xem họ đọc những ǵ tại một thư viện hay trên Mạng Internet, hay dùng các lệnh khám xét được thông báo chậm để điều tra viên khám xét tư gia, doanh nghiệp, và thu giữ tài sản, mà không thông báo cho đương sự trong cả nhiều tuần hay nhiều tháng (‘lén lút coi trộm’, ‘sneak and peek’) để tránh gây cho nghi can trốn tránh hay huỷ bằng chứng. Trong 22 tháng, từ 26 tháng 10,2001 đến 1 tháng 4,2003, Chính phủ Mỹ gia tăng sử dụng gấp đôi việc dùng lệnh được thông báo chậm tới 47 lần,và việc thu giữ tài sản tới 45 lần, không những trong công tác chống khủng bố mà c̣n cả trong các cuộc điều tra h́nh sự khác (Boston Globe, 5 tháng 4,2005). Tuy nhiên,sự thực là trong nhiều thập niên, các ṭa án đă chấp thuận cho dùng các lệnh khám xét thông báo chậm trong một số vụ h́nh; c̣n th́ đối với nạn khủng bố,theo đọan 215 trong Đạo Luật Patriot Act, việc che chở chống việc khám xét bất hợp lư thể hiện không những qua thủ tục buộc Sở Điều Tra Liên Bang (Federal Bureau of Investigation, FBI) phải xin án lệnh ṭa án, mà c̣n sự hạn chế là không được dùng thủ tục điều tra trong đọan văn này để điều tra một công dân Mỹ chỉ v́ người ấy có ‘những hoạt động thuộc lọai được Sửa Đổi số 1 Hiến Pháp Liên Bang Mỹ che chở’ (tức hoạt động tự do ngôn luận và tôn gíao). Cứ mỗi sáu tháng, Bộ Trưởng Tư Pháp phải tŕnh Quốc Hội xem đă nạp bao nhiêu đơn xin lệnh ṭa án , và bao nhiêu đơn được chấp thuận.
b) Phải có một Bản khai có tuyên thệ (Affidavit) trong đó đưa ra những t́nh tiết sự kiên và hoàn cảnh (chứng cứ) mà người cảnh sát chấp hành dựa vào để có lư do đủ hoặc căn cứ thỏa đáng để xin ban hành lệnh. Mặc dù chứng cứ không cần đủ nhiều để kết án phạm tội (nghĩa là có chứng cứ đến mức không c̣n hồ nghi ǵ nữa [proof beyond a reasonable doubt]) và có thể cũng chỉ là tin nghe nói (hearsay), một lời khai của mật báo viên cần được củng cố thêm bởi chứng cứ khác (ví dụ như cảnh sát điều tra kết quả), theo lề lối xét ‘toàn bộ các t́nh huống’ (totality of circumstances) để quyết định có căn cứ thỏa đáng hay không. Vụ tiểu bang Illinois kiện Gates 76 L.Ed. 2d 527(1983).
c) Nội dung của đơn xin lệnh khám cần nói rơ đồ vật cần khám xét đă được sử dụng hoặc dự định sử dụng vào việc phạm tội, rồi sau đó miêu tả rơ ràng về đồ vật và chỉ ra cụ thể nơi chốn để khám xét. Việc khám xét toàn bộ khu chung cư là không có giá trị - Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Hinton 219 F2d 326 (7th Gr. 1955). Đơn xin khám cần miêu tả rơ ràng về các đồ vật bị khám xét. Lệnh khám liệt kê quá nhiều đồ vật ‘bất kỳ kiểu và loại nào’ (quá rộng) hoặc để trống phần mô tả các đồ vật bị khám xét, th́ sẽ bị vô hiệu- Vụ Công ty bán hàng Lo-Ji kiện thành phố New York, 442 US 319 (1979).
d) Khám xét tài sản của bên thứ ba (đệ tam nhân). Luật về bảo vệ chốn riêng tư năm 1980 đ̣i hỏi cảnh sát phải xin trát (subpoena) bắt xuất tŕnh chứng cớ để t́m kiếm chứng cứ tội phạm nằm trong tay người thứ ba nào không bị nghi ngờ có dính dáng đến hành vi phạm tội. Không cần có lọai trát này của ṭa án nếu việc thu giữ khẩn cấp là cần thiết để ngăn chặn chết người hoặc thương tích nghiêm trọng, hoặc để ngăn chặn việc huỷ hoại, cất giấu hoặc đánh tráo tài liệu.
e) Quyền dị nghị tính trung thực của bản khai có tuyên thệ. Bị cáo có thể kiến nghị xin dẹp bỏ chứng cứ (suppress evidence) bằng cách tấn công vào tính trung thực của bản khai kèm theo đơn xin lệnh khám: (i) Bị cáo cần minh chứng rơ rằng bản khai này chứa đựng lời khai gian cố ư hoặc hoặc coi thường sự thật; (ii) Bị cáo cần chỉ ra rằng thẩm phán cũng không t́m ra căn cứ thỏa đáng về những điểm nào của lệnh khám c̣n lại, sau khi những phần sai sót đă bị xóa đi. Tại phiên ṭa, nếu bị cáo có thể chứng minh những điểm này, th́ lệnh khám sẽ bị vô hiệu và mọi chứng cứ được t́m thấy trong vụ khám xét đều không được thừa nhận. Vụ Franks kiện Delaware, 438 US 154 (1978).
3. Nếu không có lệnh khám, liệu có biệt lệ nào đối với việc cần có lệnh khám đó không? Nói cách khác, đây có phải là trường hợp khám xét có hiệu lực mà không cần lệnh?
a) Trước hết, sự khám xét nhân việc bắt giữ hợp pháp là có hiệu lực. Lư do về chính sách là cảnh sát thực hiện việc bắt giữ người th́ có quyền lục soát vũ khí mà có thể gây hại cho anh ta và t́m kiếm chứng cứ mà bị cáo có thể tiêu huỷ. Cũng như vậy, thông thường cảnh sát bắt giữ thừơng không có thời gian xin lệnh khám xét. Tiêu chuẩn cho loại việc khám xét này, được h́nh thành qua án Chimel kiện tiểu bang California, 395 US 752 (1969), đó là trong thời gian tiến hành việc bắt ngừơi, hoặc ngay sau đó, cảnh sát được phép khám người của bị cáo cũng như khám xét các khu vực ở ngay xung quanh người đó có thể được coi là dưới sự kiểm soát của anh ta. V́ vậy, việc khám xét một cái ḥm được thực hiện 90 phút sau khi bắt ngừơi th́ không được coi là nhân thể việc bắt ngừơi đó .Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Chadwick, 433 US 1 (1977). Việc bắt giữ hợp pháp v́ vi phạm giao thông có thể cho phép khám người toàn diện: người sử dụng xe có thể bị yêu cầu rời khỏi xe để việc khám xét được dễ dàng hơn, cho dù không có lư do nghi ngờ giấu vũ khí hoặc hàng lậu. Vụ Pennsylvania kiện Mimms, 434 US 106 (1977).
Chỗ người ngồi trong chiếc xe là ở trong sự kiểm soát của cá nhân; cảnh sát có thể khám xét toàn bộ chỗ ngồi đó và bất kỳ hộp, gói trong đó dù đă đóng hoặc mở. Vụ Thành phố New York kiện Belton 453 US 454 (1981).
b) T́m ṭi sơ bộ: ‘lần t́m’ hoặc vỗ nhẹ vào người để lục soát vũ khí để bảo vệ sự an toàn cho cảnh sát. Việc khám xét này không cần xét căn cứ thỏa đáng (probable cause) nhưng cần phải có cơ sở hợp lư (reasonable basis). Người cảnh sát dù không có quyền bắt giữ cũng có thể khám xét hạn chế bằng cách lần t́m dọc khắp người đó xem có giấu vũ khí, nếu (đây là chuẩn mực) một con người suy nghĩ hợp lư mà ở trong hoàn cảnh đó có thể tin rằng người kia có giấu vũ khí và cần thiết phải ǵn giữ an toàn cho bản thân ḿnh và những người khác. Vụ Terry kiện Ohio, 392 US 1 (1968). Cơ sở để người cảnh sát tin như vậy có thể là tin đồn, có nghĩa là thông tin từ một người đưa tin đáng tin cậy. Vụ Adam kiện Williams 407 US 13 (1972).
Nếu vũ khí bất hợp pháp được t́m thấy khi ‘lần t́m’ th́ có thể tiến tới việc bắt giữ ngừơi và sau đó việc khám xét kỹ toàn thân nhân thể việc bắt giữ đó (xem mục a ở trên). Mặt khác, việc khám xét không thể được tiến hành đối với người nào chỉ đứng gần những người khác bị nghi ngờ có hành vi phạm tội, vụ Ybarra kiện tiểu bang Illinois, 444 US 85 (1979); và nếu không có cơ sở hợp lư cho sự nghi ngờ, th́ chặn đường một người trên phố và hỏi tên, địa chỉ của anh ta, điều đó sẽ trở thành khám xét trái pháp luật (vi phạm kỳ vọng riêng tư). Vụ Brown kiện tiểu bang Texas, 443 US (1979). Chặn đường một cách hú họa để khám xét xe ô tô, tàu thuyền mà không nghi ngờ tội phạm cũng là vi hiến, bởi lẽ làm thế là dành quá nhiều sự tuỳ tiện cho nhân viên cảnh sát . Vụ Delaware kiện Prouse, 440 US 648 (1979). Nhưng có trường hợp ngoại lệ được khám xét một con tàu sắp đi ra khơi, như trong vụ án Chính phủ Hoa Kỳ kiện Villamonte- Marquez, 77 L.Ed.2d 22 (1983) : các nhân viên hải quan Hoa Kỳ, dù chọn lựa hú họa mà không có sự nghi ngờ, cũng có thể chặn con tàu trong kênh dẫn ra biển để khám xét giấy tờ; ṭa án cho là việc khám xét này hợp lư, do khung cảnh vận tải bằng đường thuỷ khiến không thể sử dụng các trạm kiểm soát cố định hoặc địa điểm chặn xét, sự phức tạp của hệ thống đăng kư các tàu biển so với hệ thống đăng kư xe ô-tô và tầm quan trọng của mục tiêu nhà nước trong việc bắt tuân thủ các việc đăng kư.
c) Khám xét trong lúc truy đuổi tức th́ (hot pursuit). Nếu cảnh sát nghi ngờ rằng một người đă có hành vi phạm tội và đuổi theo để bắt anh ta, họ có quyền vào nhà riêng trong khi truy đuổi để khám xét nơi đó và tóm lấy chứng cứ, dù cho tư liệu đó là ‘chứng cứ nhỏ’ và không phải là hàng lậu hoặc không phải là công cụ phạm tội , vụ Warden kiện Hayden, 367 US 294 (1967). Lư do biện minh cho việc khám xét không cần lệnh này, tuy không nhân dịp bắt giữ, là việc không thể nào xin được tờ lệnh trong khi tiến hành truy đuổi tức th́.
d) Khám xét ở biên giới. Dù nghi ngờ một chút thôi, những nhân viên canh giữ biên giới có thể thực hiện việc khám xét thường lệ thân thể và đồ vật trên thân thể của người đi qua biên giới. Việc khám xét kỹ hơn, chẳng hạn như lột quần áo, đ̣i hỏi có sự nghi ngờ chắc chắn hơn. Đối với việc khám các khe hở trên thân thể, th́ cần phải có biểu hiện rơ ràng là nghi can giấu hàng lậu trong người, án Henserson kiện Chính phủ Hoa kỳ, 390 F.2d 805 (9th Gr., 1967). Sau khi xem xét mọi t́nh tiết về người du lịch và chuyến đi của cô ta, các nhân viên hải quan có lư do để nghi ngờ rằng cô ta giấu hàng lậu trong đường tiêu hóa của cô ta và tạm giữ cô ta 16 tiếng để chờ đến khi nó đại tiện ra hết. Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Montoya de Hernandez, 87 L.Ed 381 (1985).
- Việc khám xét không cần thực hiện ở biên giới nhưng có thể được tiến hành tại trạm kiểm tra thuận tiện nào cách biên giới một quăng. Khi xét xe ôtô xem có người nước ngoài đi lại bất hợp pháp không th́ nhân viên của trạm kiểm tra gần biên giới có quyền chặn xe ôtô để hỏi hành khách vài câu, cho dù không có lư do để tin rằng xe đó chở người nhập cảnh bất hợp pháp, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Martinez -Fuerte 428 US 543 (1976). Nhưng việc khám xét xe ôtô một cách kỹ lưỡng tại trạm kiểm soát như vậy th́ phải có căn cứ thỏa đáng, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Brignoni-Ponce, 422 US 872 (1975).
- Dùng tuần hành lưu động để khám xét kỹ xe ôtô (chặn tại chỗ khác các trạm kiểm soát) th́ cần điều kiện chặt chẽ hơn: phải có lệnh viết hoặc phải có căn cứ thỏa đáng- án Almeida-Sanchez kiến Chính phủ Hoa Kỳ,413 US. 266 (1973). C̣n nếu khám qua loa một xe ôtô th́ cần có sự nghi ngờ khác nữa ngoài sự kiện là các hành khách là người Mêxicô, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Brignoni-Ponce, 422 US 872 (1975).
- Khám xét tại sân bay. Khám xét được tiến hành theo quy định của luật pháp liên bang đối với hành khách vào khu vực để lên máy bay cũng tương tự như khám xét ở biên giới và do đó không cần có lệnh hoặc căn cứ thỏa đáng chừng nào việc đó chỉ giới hạn ở mục đích bảo vệ cho các máy bay không bị tấn công bởi vũ khí và chất nổ. Một người có thể từ chối không cho khám xét tại trạm kiểm tra sân bay bằng cách không đi vào khu vực cấm. Việc dùng chó để ‘đánh hơi’ không phải là khám xét, trừ việc tách rời hành lư khỏi hành khách sẽ bị coi là việc ‘tạm giữ để điều tra’ phải tuân theo các hạn chế của Hiến pháp; việc tạm giam 90 phút bị coi là vô lư. Không coi là có việc khám xét khi viên chức khám một gói hàng bị vỡ ra trong lúc chuyên chở và sau đó nhân viên diệt trừ ma tuư liên bang được mời tới khi t́m ra một thứ bột trắng. Vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Jacobsen, 80 L.Ed.2d 85 (1984).
e) Các đồ vật bị nhà nước thu giữ. Một chiếc xe ô tô bị cảnh sát thu giữ do lỗi vi phạm đậu xe, về mặt lư thuyết, là có thể bị khám xét để kiểm kê thường lệ v́ lư do là người chủ xe không có nhiều kỳ vọng riêng tư đối với những đồ vật trong chiếc xe đó như đối với đồ vật ở trong nhà anh ta, vụ South Dakota kiện Opperman, 428 US 364 (1976). Đồ cá nhân bị cơ quan thu giữ lâu dài, chẳng hạn như chiếc xe ô tô trong thủ tục tước quyền tài sản, cũng có thể bị khám xét, vụ Cooper kiện tiểu bang California, 368 US 58 (1967). Tuy nhiên, phải có lệnh khám xét để xét tài sản đă bị khóa trong thùng xe đang bị cơ quan tạm giữ, trừ khi có những t́nh huống cấp thiết, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Chadwick, 433 US (1977). Chính phủ nắm giữ những cuốn phim khiêu dâm được giao nhầm chỗ nhận cũng không tạo ra thẩm quyền để khám xét chúng, vụ Walter kiện Chính phủ Hoa Kỳ, 447 US 649 (1980).
f) Việc khám xét xe ô tô. Khám xe ô-tô mà không có lệnh khám có thể được dựa trên một số căn cứ: (i) Đồ vật đă ‘được nh́n thấy rơ’ (in plain view): đó không phải là khám xét; (ii) Khám xét đi liền theo việc bắt giữ: nếu bị cáo đă bị bắt một cách hợp pháp, khu vực nằm trong tầm kiểm soát của anh ta sẽ bị khám xét: thí dụ, khám xét chiếc xe ôtô do cảnh sát thu giữ sau khi anh ta bị bắt hoặc sau khi tai nạn xảy ra, vụ Cady kiện Dombrowski, 413 US 433 (1973); (iii) khám xét để kiểm kê tài sản thông thường: như khi chiếc xe ô tô đă bị cơ quan thu giữ, vụ South Dakota kiện Opperman, 428 US 364 (1976). Nhưng việc khám chi li chiếc xe bị thu giữ lâu dài là vô hiệu, vụ Coolidge kiện New Hamsphire, 403 US 43 (1971); (iv) Một chiếc xe ôtô đi qua biên giới, hoặc qua nơi tương tự, th́ có thể khám kỹ lưỡng. Nếu chiếc xe có thể được chuyển đi trước khi có được lệnh khám xét, và nhân viên kiểm tra có căn cứ thỏa đáng, th́ từng phần của chiếc xe và những ǵ chứa bên trong, thí dụ các thùng hàng, gói hàng có thể bị khám , vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Ross, 4456 US 798 (1982); hoặc các thùng hàng có thể được chuyển đến một nhà kho và 3 ngày sau mới mở ra khám, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện John, 83 L.Ed 890 (1985). Một chiếc nhà xe di động, đỗ tại băi đậu xe, th́ sẽ thuộc trường hợp biệt lệ khám xét xe không cần lệnh này, v́ lư do là có căn cứ thỏa đáng, bởi v́ cái nhà xe di động này có thể đem chạy trên xa lộ.
Trong việc dừng xe ô-tô lại khám, cảnh sát trong các tiểu bang đă dùng mẫu chân dung dựa trên chủng tộc (racial profiling) chống lại các người thiểu số : dân da đen và người gốc Tây Ban Nha (Hispanics) chiếm tỷ lệ 70%-75% những ngừơi lái xe bị dừng lại để khám xét, và 80%-95% các ngựi buôn ma tuư bị giữ lại trên xe buưt và xe lửa. T́nh trạng này gây công phẫn trong dân thiểu số và đă có những cuộc nổi lọan. Ṭa án đă phải ra lệnh là cảnh sát phải làm thống kê về các tỷ lệ theo màu da khi làm các bảng kết toán về các vụ bắt giữ ngừơi lái xẹ
g) Vấn đề an ninh quốc gia. Luật về Theo dơi An ninh Đối ngoại (Foreign Intelligence Surveillance Act, FISA), ban hành từ thời Tổng Thống Carter, thiết lập một ṭa án liên bang chuyên lo về chống khủng bố và về t́nh báo quốc tế. Khi có vấn đề an ninh quốc gia trong các quan hệ đối ngoại, có yếu tố người nước ngoài, việc mắc dây vào đường điện thoại để nghe mà không xin lệnh cũng không bị cấm . C̣n nếu chỉ là theo dơi về an ninh trong nước, th́ cần phải có lệnh của ṭa cho mắc dây vào điện thoại để nghe, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Ṭa án Quản hạt Miền đông Michigan, 407 US 297 (1972). Chính phủ Bush nói rằng chương tŕnh của Cơ quan Anh Ninh Quốc Gia (National Security Agency) , có cộng tác của các công ty điện thoại, dùng điện tử để theo rơi hàng loạt các cuộc điện đàm, mà không xin lệnh toà, th́ không vi phạm quyền riêng tư của dân, v́ (i) không t́m cách nghe nội dung cuộc nói chuyện và (ii) chỉ theo rơi các số điện thoại , thời gian và vị trí gọi để biết ai gọi tới số của người bị nghi là khủng bố hay quốc gia bị nghi là bảo trợ khủng bố. Dù sự theo rơi cùng một lúc rất nhiều số điện thoại như vậy gây ra mối lo cho một số đại biểu Quốc Hội và thành phần đối lập, nhưng nếu đúng là chỉ t́m hiểu khuynh hướng (patterns) của một số đối tượng th́ có lẽ chương tŕnh đó đúnh luật FISA trên. Hơn nữa, v́ mục tiêu an ninh quốc gia, phần lớn dân Mỹ không cho rằng đáng phải lo ngại có sự vi phạm đời tư. Một số người cho rằng họ không có ǵ phải giấu giếm trong cuộc điện đàm, và v́ an ninh quốc gia, việc theo rơi điện thoại không sao cả. Dầu sao, Chính phủ Bush cũng đồng ư với Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện là sẽ tŕnh bày chương tŕnh này cho Ṭa Án Đặc biệt cuả Luật FISA, để trắc nghiệm tính hợp hiến của chương tŕnh này. . Xin xem thêm lời bàn về khuynh hướng các ṭa án sau biến cố 9/11 trong đọan "Lệnh Khám Xét hợp lệ về h́nh thức" ở trên.
Nên để ư là khi có vấn đề an ninh quốc gia, người không phải là công dân Mỹ không có sự bao đảm về việc cần lệnh khám hợp thức.V́ nhu cầu an ninh quốc gia chống khủng bố, đă có đề nghị dùng mẫu chân dung, chẳng hạn Giáo sư Philip Heymann Trường Luật Harvard (tác gỉa cuốn "Khủng bố, Tự do và An ninh ") đề nghị dùng một vài h́nh thức mẫu chân dung. Ông đề nghị rằng: (i) không dùng mẫu chân dung dựa trên chủng tộc, nguồn gốc quốc tịch, tôn gíao hay khuynh hứơng chính trị để đối xử với công dân Mỹ hay thường trú nhân đă có quy chế đó được 7 năm--trừ khi họ chủ trương bạo động; nhưng (ii) có thể dùng vài h́nh thức mẫu chân dung đối với công dân của vài nước thù nghịch, thí dụ vài quốc gia Ả Rập/ Trung Đông. Phương thức chọn ra chỉ một vài mẫu người này v́ lư do an ninh quốc gia sẽ gỉam thiểu rắc rối về pháp luật và cũng hiệu năng hơn phương thức rộng hơn: phương thức dùng mẫu chân dung rộng ra nhiều quá sẽ không công b́nh, v́ chỉ có một tỷ lệ nhỏ của vài nhóm người là nguy hiểm, và cũng sẽ phản tác dụng, v́ nó sẽ làm mất ḷng nhiều người vô tội không thuộc nhóm khủng bố, và các tổ chức khủng bố có thể tránh né bằng cách tuyển lựa đ̣an viên ở ng̣ai lớp người bị chụp mũ cái chân dung. Ngay cả phương thức dùng chân dung có giới hạn này cũng gặp khó khăn trong vấn đề dung ḥa giữa các biện pháp chống khủng bố và các dân quyền trong nền dân chủ. Sau vụ khủng bố nổ bom 10 toa xe lửa ở Tây Ban Nha, một vài thanh phố ở Mỹ muốn thi hành việc dừng hành khách trên các toa xe điện ngầm để khám tuí sách của họ; nhưng ngay cả việc cẩn thận dùng cách tuyển lựa đối tượng theo lối ngẫu nhiên (random) cũng vẫn bị một số tổ chức Ả Rập, Hồi Giáo và Liên Đ̣an Luật Sư National Lawyers’ Guild phản đối, với lư do là người Ả Rạp, Hồi Giáo và vài sắc dân Nam Á Châu sẽ bị lựa ra mà chặn lại một cách kỳ thị .
h) Khám xét tại hiện trường vụ án. Không có biệt lệ chung nào về việc miễn lệnh khám xét, bởi lẽ các toà án xử theo nhiều hướng khác nhau, một mặt ṭa xử là cuộc khám xét hiện trường vụ cố sát diễn ra trong 4 ngày mà không có lệnh là trái pháp luật (vụ Mincey kiện tiểu bang Arizona, 437 US 385 (1978)), hoặc việc khám xét không có lệnh tại hiện trường vụ cháy để t́m chứng cứ đốt nhà vài ngày sau khi xảy ra vụ cháy mà không có sự đồng ư là bất hợp pháp ; một mặt khác, ṭa lại xử là có thể khám xét không có lệnh hiện trường vụ cháy thực hiện ngay khi vụ cháy được dập tắt, hoặc 2- 3giờ sau đó, vụ tiểu bang Michigan kiện Tyler, 436 US 499(1978), vụ tiểu bang Michigan kiện Clifford, 78 L.Ed.2d 477 (1984).
i) Việc khám xét trong tù. Một tù nhân không thể đ̣i hỏi có quyền kỳ vọng chỗ riêng tư, vụ Hudson kiện Palmer, 82 L.Ed 393 (1984), và anh ta có thể bị xét trong các lỗ hở trên thân thể và bị lục soát trong buồng, v́ lư do an ninh, trật tự nội bộ và kỷ luật, vụ Bell kiện Wolfish, 441 US 520 (1979). Nếu anh ta gọi điện thoại từ trong tù, cuộc nói chuyện đó có thể bị ghi âm và theo dơi và chứng cứ được phát hiện qua đó sẽ được chấp nhận.
k) Các t́nh huống khẩn cấp. Nhiều trường hợp ngoại lệ được liệt kê ở trên về yêu cầu có lệnh khám xét c̣n có thể được giải thích bằng một biện minh tổng quát hơn: Được quyền khám xét không có lệnh bất cứ khi nào có sự e ngại hợp lư rằng nếu tŕ hoăn tới khi có được lệnh th́ sẽ làm hỏng kết quả của việc khám xét. Án Schmerber kiện tiểu bang California, 384 US 757 (1966) và án Winston kiện Lee, 84 L.Ed 662 (1985), sử dụng phương thức cân nhắc các yếu tố trong vụ kiện để đồng ư bắt thử máu người lái xe, dù không có lệnh của ṭa khi người này bị nghi ngờ rằng lái xe trong t́nh trạng say rượu, nhưng lại vô hiệu hóa, theo tinh thần của Sửa đổi thứ 4, lệnh bắt giải phẫu để lấy viên đạn khỏi ngực của kẻ bị t́nh nghi để t́m kiếm chứng cứ, v́ cho đó là xâm phạm nghiêm trọng lợi ích về chỗ riêng tư và toàn vẹn thân thể. Thường ṭa án xét tới một số yếu tố trong cuộc thử nghiệm cân nhắc (balancing test) để thẩm định việc khám xe ô-tô đang chạy (trừơng hợp khẩn cấp) : tính di chuyển của xe, thời gian cần để xin lệnh ṭa cho khám, bị can có để ư biết là có cảnh sát ŕnh rập khôn , và khả năng bị can phá bỏ bằng chứng. Commonwealth kiện Seǵentko, 399 Mass.292,294,296.
l) Việc khám xét hành chính là những trường hợp không cần theo thủ tục nghiêm ngặt về lệnh khám. Thí dụ, việc khám xét những nơi ở bởi các thanh tra từ các cơ quan giữ thẩm quyền pḥng cháy, y tế, nhà đất hay cấp giấy phép của thành phố không cần thiết phải có lệnh, mặc dù đó là lĩnh vực được quy định bởi Sửa đổi Hiến pháp số 4. Khám xét trong trường hợp khẩn cấp y tế không cần có lệnh, vụ See kiện Seatle, 387 US 541 (1967). Việc khám xét không có lệnh trong buồng kho đă khóa của một cơ sở bán vũ khí vốn là đối tượng cần phải xin giấy phép hoạt động th́ có giá trị, với điều kiện là việc khám xét như vậy được thực hiện vào những thời điểm hợp lư; lư do là v́ những vụ khám xét này đúng lư là cần thiết để tiến hành những nhiệm vụ luật định của cơ quan có thẩm quyền cấp phép, vụ Chính phủ Hoa Kỳ kiện Biswell, 406 US 311 (1972). Thường th́ cuộc thăm viếng định kỳ của một nhân viên xă hội đến nhà của người nhận tiền bảo trợ xă hội không có nghĩa là cuộc khám xét, nhưng nếu có bị coi là khám xét th́ việc khám xét này được coi là hợp lư v́ mục đích quản lư các chương tŕnh của chính phủ, vụ Wyman kiện James, 400 US 309 (1971). Việc khám xét của các nhân viên trường công không cần phải có lệnh cũng như căn cứ thỏa đáng nhưng muốn hợp pháp chỉ cần tính cách hợp lư, phải chăng (reasonableness) xét theo mọi yếu tố của hoàn cảnh , như là: có lư do để nghi ngờ rằng việc khám xét sẽ t́m ra chứng cứ, các biện pháp khám tương ứng hợp lư với mục tiêu khám xét và không xoi mói quá đáng, vụ New Jersey kiện T.L.O, 83 L.Ed 720 (1985) (khám t́m thuốc lá của các học sinh). Các cuộc điều tra nơi làm việc do Sở Di dân để t́m những người nhập cư trái phép và để hỏi về quốc tịch của người lao động th́ không bị coi là bắt giữ lực lượng nhân công, vụ I.N.S kiện Delgado, 80 L.Ed.2d 247 (1984).
Tuy vậy, Cơ quan quản lư y tế và an toàn nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ cũng cần có lệnh khám, dù rằng lệnh khám đó không cần có căn cứ thỏa đáng, bởi lẽ đă có nhiều chuẩn mực hợp lư để tiến hành kiểm tra, vụ Marshall kiện Công ty của Barlow, 436 US 307 (1978).
4. Liệu đây có phải là một cuộc khám xét được người bị khám thỏa thuận?
Khi bị can đồng ư cho khám xét th́ có thể tiến hành khám xét mà không cần phải có căn cứ thỏa đáng hoặc không cần phải có lệnh. Việc đồng ư phải tự nguyện, không đe dọa, cưỡng ép. V́ vậy, nếu toàn thể các t́nh tiết trong hoàn cảnh khám cho thấy sự thỏa thuận không bị ép buộc, th́ một người đang bị giam giữ cũng có thể thỏa thuận có giá trị , vụ Chính phủ Hoa kỳ kiện Wastson 423 US 411 (1976).
Nhưng nếu cảnh sát ập vào một nhà rồi dùng quyền để yêu cầu khám xét theo lệnh hoặc không có lệnh, th́ việc chấp nhận cho khám xét bị coi là ép buộc và sẽ không có hiệu lực, án Bumper chống North Carolina,391 US 543 (1968).
Sự đồng ư của người thứ ba: người thứ ba cùng tham gia quản lư tài sản bị khám xét với bị đơn có thể chấp nhận cho khám xét chỉ phần tài sản cùng quản lư nhưng không thể cho phép kiểm tra những phần tài sản thuộc sự quản lư của riêng bị đơn (xem án Bumperghi trên). Tương tự như vậy, chủ nhà không thể đồng ư cho khám xét căn pḥng của người thuê mặc dù căn pḥng đó thuộc sở hữu của anh ta nhưng lại đang thuộc sự quản lư của người thuê; chủ khách sạn không thể đồng ư cho khám xét pḥng của khách trước khi khách dọn ra khỏi pḥng, án Chapman chống Hoa Kỳ,365 US 810 (1961). Cha mẹ có thể đồng ư cho khám xét nhà nhưng không thể đồng ư cho khám xét đồ đạc đă khoá lại của người con trên 18 tuổi, nếu không có sự đồng ư của con.
5. Hậu quả của việc khám xét bất hợp pháp
Khám xét bất hợp pháp có thể dẫn tới việc loại bỏ các bằng chứng (đồ đạc và các lời khai bằng miệng) đă được phát hiện trong cuộc khám xét đó, cho dù một số bằng chứng đă thu được một cách hợp pháp, án James chống Louisiana,382 US 36 (1965). Tuy nhiên, lời khai một cách tự nguyện của người bị t́nh nghi không đi kèm sự bất hợp pháp nào trong khi khám xét hay giam giữ, th́ cũng có thể được chấp nhận, án Rawling chống Kentucky, 448 US 98 (1980). Nạn nhân biết về h́nh dạng của bị can trước khi bị can bị bắt giữ một cách bất hợp pháp th́ việc biết đó không bị coi là sản phẩm của hành vi sai trái của nhà chức trách lúc bắt và v́ thế sẽ được coi là có giá trị cho việc xác định bị cáo tại toà, không bị dẹp bỏ, Hoa Kỳ chống Crews,445 US 463 (1980).
Việc dẹp bỏ chứng cứ có được do khám xét bất hợp pháp là một vấn đề pháp lư tiên quyết phải đựơc thẩm phán xem xét chứ không phải là vấn đề dành cho bồi thẩm đoàn nhân dân xét định, và v́ thế đa số các toà án tiểu bang và liên bang buộc phải nộp một kiến nghị dẹp bỏ những chứng cứ trước khi bồi thẩm đoàn nghe tŕnh về chứng cứ.
V́ bị cáo phải tự ḿnh chứng tỏ các quyền của anh ta (không phải của một người khác) đă bị xâm phạm nên anh ta gặp phải khó khăn khi phải chứng minh ḿnh có tư cách đưa kiến nghị mà lại tránh nh́n nhận tội. Ví dụ, nếu anh ta chứng minh tư cách đương tụng bằng cách khai rằng anh ta có trong tay hoặc sở hữu vật đó th́ cũng đồng thời anh ta đang nhận tội. Trong vụ Simmon chống Hoa Kỳ, 390 US377 (1968), Ṭa án Tối Cao giải thoát bị can khỏi thế tiến thoái lưỡng nan bằng cách phán rằng lời khai của bị cáo để thiết lập tư cách đương tụng của ḿnh không được đem vô phiên xử như là bằng chứng. Bị cáo cũng phải chứng tỏ rằng anh ta đă có sự kỳ vọng chính đáng về sự riêng tư nơi bị khám xét. V́ thế, một bị cáo đă giấu ma tuư vào ví tiền của người yêu của anh ta ngay trước khi khám xét sẽ bị từ chối tư cách đương tụng do không có sự kỳ vọng chính đáng về chỗ riêng tư trong ví tiền của người yêu anh ta, án Rawling chống Kentucky nói trên; một hành khách không có lợi ích về tài sản trong chiếc xe ôtô hay các linh kiện của xe đă bị tịch thu th́ anh ta không thể phản đối việc khám xét xe.Vụ Rakas kiện Illinois, 439 US 128 (1978)
Dù rằng công tố viên không thể dùng những bằng chứng đă bị tịch thu một cách bất hợp pháp để kết tội bị cáo về mặt tội danh, bằng chứng này vẫn có thể bị sử dụng để nghi ngờ độ tin cậy của lời anh ta khai ra trong buổi thẩm vấn hay đối chất. Vụ Walder chống United States, 347 US 62 (1954), Unied States chống Havens, 446 US 620 (1980).
II. Bắt, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác
Điều 71 Hiến pháp Việt Nam tuyên bố quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân, công dân không thể bị bắt mà không có quyết định của toà án hay viện kiểm sát trừ phi phạm tội quả tang; việc bắt và giam giữ phải phù hợp với pháp luật. Điều 72 Hiến pháp Việt Nam quy định rằng nạn nhân của việc bắt và giam giữ trái phép có quyền đ̣i bồi thường và phục hồi danh dự, trong khi đó cơ quan vi phạm pháp luật trong quá tŕnh bắt, tạm giam, truy tố và xét xử sẽ bị xử lư. Điều 6 Bộ luật Tố tụng H́nh sự bảo đảm cho công dân được quyền an toàn về thân thể bằng cách khẳng định nguyên tắc đă quy định tại Hiến pháp Việt Nam rằng không ai có thể bị bắt mà không có quyết định của toà án hoặc quyết định của viện kiểm sát hay quyết định được Viện kiểm sát phê chuẩn trừ phi phạm tôi quả tang. Điều 6 Bộ luật Tố tụng H́nh Sự quy định rơ hơn ư nghĩa thứ 2 của việc bảo đảm an toàn thân thể như sau: bất kỳ sự cưỡng bức hay tra tấn nào cũng bị cấm đoán một cách nghiêm ngặt. Điều 7 Bộ Luật tố tụng h́nh sự (BLTTHS) cũng liên quan tới những quy định về việc bắt và giam giữ bởi v́ điều đó quy định nguyên tắc pháp luật bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ, danh dự (và tài sản) của công dân.
Những nguyên tắc cơ bản trên được áp dụng như thế nào trong quá tŕnh bắt, tạm giam và sử dụng các biện pháp ngăn chặn khác?
Đầu tiên, về căn cứ bắt giữ, tạm giam, Điều 79 BLTTHS quy định rằng căn cứ để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nhau như bắt giữ, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lănh, dùng tiền, tài sản để bảo đảm, là như sau: là có cơ sở để tin rằng bị can hoặc bị cáo sẽ cản trở việc điều tra, truy tố tội phạm hoặc có thể sẽ tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, Điều 94(2) BLTTHS cũng quy định rằng nếu các biện pháp này thấy không cần thiết nữa th́ cơ quan điều tra, kiểm sát và toà án sẽ huỷ bỏ.
Bắt giữ
Có 3 trường hợp bắt giữ, trong đó quy định khác nhau về những người hay cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt hay thẩm quyền bắt.
1. Việc bắt giữ bị can, bị cáo. Điều 80 BLTTHS quy định những người có thẩm quyền ban hành lệnh bắt giam gồm: Viện trưởng viện kiểm sát hay Phó Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án và phó chánh án của TAND và toà quân sự các cấp; chánh toà, phó chánh toà Phúc thẩm của Toà án tối cao; Trưởng và phó trưởng các cơ quan điều tra các cấp. Tuy nhiên, các cơ quan điều tra, thường được hiểu là cơ quan cảnh sát, phải có lệnh bắt do viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành lệnh bắt. Lệnh bắt giữ phải được người có thẩm quyền ban hành lệnh kư tên và đóng dấu và phải viện dẫn lư do bắt giữ. Người thi hành lệnh bắt phải đọc to lệnh cho người bị bắt nghe và phải giải thích lệnh, giải thích quyền và trách nhiệm của người đó. Việc bắt giữ phải có sự chứng kiến của chính quyền địa phương, nếu bắt tại nhà th́ phải có sự chứng kiến của láng giềng của người đó [giống như một nguyên tắc của cổ luật]; nếu bắt giữ tại nơi làm việc th́ phải có sự chứng kiến của người phụ trách của người đó. Việc bắt người không được tiến hành vào ban đêm trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.
2. Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Theo Điều 81 BLTTHS: Khẩn cấp nghĩa là có cơ sở để tin rằng một người đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, hoặc có người tận mắt chứng kiến tội phạm và nhận ra thủ phạm, và việc bắt giữ này là cần thiết để tránh việc bỏ trốn hay huỷ hoại tang chứng. Người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp là: Trưởng hay phó trưởng cơ quan điều tra các cấp, sĩ quan chỉ huy biệt đội quân sự cấp vùng, người chỉ huy đơn vị an ninh biên giới, người chỉ huy máy bay hay tàu thuyền khi đang rời sân bay, bến cảng. Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải được nhanh chóng báo cáo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn (dù là phê chuẩn sau khi đă bắt). Trong ṿng 12 giờ, viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp không phê chuẩn th́ người bị giam giữ phải được thả ngay lập tức.
3. Việc bắt người phạm tội quả tang hay ngừơi đang bị truy nă. Theo Điều 82 BLTTHS: Bất kỳ công dân nào cũng có thể bắt, tước đoạt vũ khí của người đang trong quá tŕnh phạm tội, bị truy đuổi gấp sau khi phạm tội hoặc bị truy nă và dẫn giải tới cơ quan cảnh sát, viện kiểm sát hay uỷ ban hành chính nơi gần nhất. Các cơ quan này phải làm biên bản bắt giữ và chuyển gấp người bị bắt tới cơ quan điều tra thích hợp.
Điều 84 BLTTHS: Người tiến hành bắt phải làm biên bản bắt giữ (ghi ngày tháng, địa điểm bắt, những hành động đă thực hiện, các vấn đề xảy ra, đồ vật và tài liệu bị tịch thu, đề nghị của người bị bắt) và đọc to cho người bị bắt và những người có mặt nghe; tất cả mọi người phải kư tên, ghi lại ư kiến phản đối nếu có. Nếu người bị bắt phải chuyển giao cơ quan khác th́ phải làm biên bản chuyển, trong đó có ghi những điểm trên và các chi tiết khác như những lời khai, t́nh trạng sức khoẻ của người bị bắt.
Điều 83 BLTTHS: Những công việc mà các cơ quan điều tra phải tiến hành ngay không được tŕ hoăn sau khi nhận người bị bắt là: trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người trong t́nh trạng khẩn cấp th́ phải kèm theo một bản khai và trong ṿng 24 giờ phải có lệnh tạm giam hoặc phải trả tự do; trường hợp bắt người bị truy nă th́ phải có một bản khai và gửi một bản thông báo cho cơ quan đă ban hành lệnh truy nă để yêu cầu cơ quan đó tới nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan ra lệnh truy nă phải đ́nh chỉ lệnh truy nă. Nếu cơ quan này không thể đến nhận người bị bắt được th́ cơ quan điều tra phải nhanh chóng ra lệnh tạm giữ và thông báo cho cơ quan đă ra lệnh truy nă, và cơ quan truy nă phải nhanh chóng ban hành lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam cho cơ quan điều tra cùng cấp sau khi đă được viện kiểm sát phê chuẩn để đưa người bị bắt vào nhà giam.
Điều 85 BLTTHS: Người ra lệnh bắt và cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải nhanh chóng thông báo cho gia đ́nh người bị bắt và cơ quan chính quyền nơi người đó sống và làm việc.
Về vấn đề ngừơi bị bắt có quyền giữ im lặng hay không khai ǵ hết khi bị bắt, hay trong giai đọan tạm giam và thẩm vấn sau đó, th́ xin xem đọan bàn luận sau đây trong mục quyền có luật sư đại diện và công việc cuả luật sư .
Tạm giữ
Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và trường hợp phạm tội quả tang, người thú tội hay ra đầu thú sẽ bị tạm giữ theo lệnh tạm giữ c& |