Liệu Cải
Tổ Kinh Tế Và Mở
Cửa Buôn Bán Với Thế Giới Có
Mang Lại Tự Do Và Dân Chủ Cho Việt-Nam Hay Không?
GS Nguyễn
Quốc Khải
Bài đóng góp
cho Đại Hội Nhân Quyền 2003
Westminster, California, 5-7.12.2003
Cách đây khoảng
hơn hai năm, trong một buổi thuyết tŕnh của
tôi tại vùng Hoa-Thịnh-Đốn về đề tài
Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ,
một vị trong giới trí thức phát biểu ư kiến
chống đối quyết liệt hiệp định
này mặc dù hiệp định đă được
đại diện chính phủ của hai nước kư
chấp thuận tại Washington, DC khoảng hơn 6 tháng trước vào giữa
năm 2000. Vị này lập luận một cách giản
dị rằng nếu để dân trong nước bị
đói khổ, họ sẽ nổi dậy chống chế
độ Cộng Sản độc tài. Câu trả lời
của tôi lúc đó là trong khoảng thời gian 1975-1990, dân
Việt-Nam cực kỳ đói khổ, nhưng đă không
có một cuộc nổi dậy lớn lao ở trong
nước v́ đói khổ cả. Thứ hai là những người chống
Cộng Sản mạnh mẽ nhất hoặc đă
chết trong tù hoặc đă dời bỏ quê hương
ra đi gần hết. Trong các trại tù “cải tạo”,
Cộng Sản Việt-Nam (CSVN) để cho các tù nhân
đói triền miên đồng thời bắt họ lao
động để họ chết lấn ṃn hoặc
không c̣n đủ sức chống đối v́ lúc nào
cũng bị dạ dầy hành hạ, không c̣n nghĩ
đến cái ǵ khác. Tôi được nghe kể lại
nhiều câu chuyện trốn ra khỏi trại tù, chứ
không nghe ai nói về chuyện tù nhân nổi dậy chống
lại lính gác tù một cách quy mô cả. Câu hỏi
được nêu lên ở đây là nếu được
no ấm, liệu người dân có đứng lên đ̣i
nhân quyền và dân quyền hay không ? Bài phân tích này sẽ cố gắng t́m một câu
trả lời cho câu hỏi trên.
Khi c̣n là một nước Xă
Hội Chủ Nghĩa thuần túy với nền kinh
tế chỉ huy, Việt-Nam đă gia nhập tổ
chức hợp tác kinh tế của khối Cộng
Sản do Liên Bang Sô Viết lănh đạo, thường
được gọi là Cộng Đồng Kinh Tế
Đông Âu hay c̣n gọi là COMECON (Council for Mutual Economic
Assistance) vào năm 1978 do Nga Sô lănh đạo. Tổ
chức này tan vỡ vào cuối thập niên 80, cùng lúc
với sự xụp đổ của các nước
Cộng Sản Đông Âu. Sau khi chuyển từ nền kinh
tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường
với việc áp dụng chính sách “Đổi Mới” vào
năm 1986 tới nay, Việt-Nam đă kư kết một
số thương ước quốc tế mới.Quan trọng hơn cả là một số
hiệp định thương mại với Liên Hiệp
Âu Châu (European Union), Khu Vực Mậu Dịch Tự Do
của các nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asian
Nations Free Trade Area viết tắt là AFTA), và hiệp
định thương mại Việt-Mỹ (U.S.-Vietnam
Bilateral Trade Agreement viết tắt là USVN-BTA). Ngoài ra
Việt-Nam mới bắt đầu thương thuyết
một thỏa hiệp đầu tư với Nhật
Bản và đang chuẩn bị gia nhập Tổ Chức
Mậu Dịch Thế Giới (World Trade Organization viết
tắt là WTO). Chính sách Đổi Mới và những
hiệp định thương mại quốc tế
đ̣i hỏi Việt-Nam thi hành nhiều cải tổ kinh
tế sâu rộng chưa từng thấy.
Đành rằng cải
tổ kinh tế và mở cửa buôn bán với thế
giới bên ngoài làm cho dân chúng được no ấm
hơn nhưng liệu chính sách này sẽ có mang lại
tự do và dân chủ cho đất nước hay không
? Hiện nay có hai lư thuyết
chính: (1) Cải tổ kinh tế sẽ đưa
đến những cải tổ chính trị và đất
nước sẽ có tự do dân chủ; (2) Cải tổ
kinh tế đồng thời tiếp tục kềm
kẹp chính trị sẽ chỉ củng cố thêm chế
độ độc tài. Bài thuyết tŕnh sẽ thào
luận về những lư thuyết này và sẽ nhấn
mạnh về trường hợp Việt-Nam đồng
thời so sánh với Trung Quốc.
Lư
thuyết 1 - Cải tổ kinh tế sẽ đưa
đến những cải tổ chính trị và đất
nước sẽ có tự do dân chủ
Cả hai hiệp định
thương mại với Hoa-Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu
đều có tác dụng mạnh đối với
Việt-Nam không những về mặt kinh tế mà c̣n
cả về mặt chính trị qua những đ̣i hỏi
cải tổ kinh tế sâu rộng. Tại buổi lễ
kư kết thương ước Việt-Mỹ tại Ṭa
Nhà Trắng vào tháng 7, 2000 Tổng Thống Bill Clinton đă
tuyên bố rằng: "Hiệp định thương
mại sẽ đem lại nhiều thay đổi tốt
đẹp về tự do và nhân quyền cho nhân dân
Việt-Nam, trong một nền kinh tế phồn thịnh
hơn...". Bà cựu Đại Sứ Ngoại Thương
của Hoa-Kỳ Charlene Barshesky từng tuyên bố: "Khi
hoàn tất, hiệp định thương mại
Việt-Mỹ sẽ vạch ra một đường
hướng đưa tới sự cởi mở hơn,
giảm bớt sự kiểm soát kinh tế của chính
phủ, và cuối cùng làm cho nguời dân Việt-Nam
được tự do hơn để kiếm việc
làm và tự quyết định lấy tương lai
của ḿnh.” [1]
Những cuộc cải tổ kinh
tế do thương ước Việt-Mỹ, Việt-Âu
và AFTA đ̣i hỏi gián tiếp hay trực tiếp sẽ
đem lại những kết quả sau đây: (1) Khu
vực tư doanh sẽ mở rộng. Tư nhân sẽ
được tự do làm ăn quy mô thay v́ chỉ
được buôn bán lặt vặt như từ 1986 đến
cuối thập niên 90; Khu vực kinh tế tư sẽ
ảnh hưởng đến việc hoạch
định chính sách quốc gia, trực tiếp hay gián
tiếp. Như vậy, điều kiện này sẽ
tạo ra một môi trường thích hợp cho nền dân
chủ được phát triển [2].
(2) Nhà nước không c̣n chiếm độc quyền làm
kinh tế cho cả nước. Khu vực quốc doanh
sẽ thâu hẹp tối đa. Đặc biệt
Thương Ước Việt-Mỹ, với những
điều khoản buộc giải tỏa nền kinh
tế chỉ huy sẽ phân tán quyền lực hiện nay
tập trung hết trong tay nhà nước. (3) Ngoại thương sẽ
được bành trướng mạnh mẽ; (4) Khu vực
đầu tư của nước ngoài sẽ mở
rộng; (5) Kinh tế Việt-Nam sẽ phát triển và
sẽ liên hệ trực tiếp đến kinh tế toàn
cầu nhiều hơn. Hiện nay, khu vực nhà
nước và sản xuất tập thể quá lớn,
chiếm vào khoảng 48% tổng sản lượng
nội địa, bao gồm trong đó là xí nghiệp
quốc doanh chiếm khoảng 30%, sản xuất tập
thể 9%, hành chánh, quốc pḥng và chương tŕnh an sinh
của nhà nước 9% [3].
Trong khi đó hai khu vực tư doanh và đầu tư
nước ngoài lại quá nhỏ, chiếm khoảng 4% và
11%. Khu vực gia đ́nh chiếm 33%. Một cuộc
cải tổ kinh tế thiết yếu là phải
đảo ngược được t́nh trạng này. phát
triển khu vực tư doanh và đầu tư
nước ngoài, đồng thời thu hẹp khu vực
nhà nước lại, từ 39% xuống c̣n 10% - 15%.
Các vấn đề thông tin, phân
phối, di chuyển, cư trú, thuê mướn nhân công
sẽ được bảo đảm tự do hơn
chiếu theo các thương ước. Pháp luật sẽ
phải minh bạch hơn, trước hết là luật
thương mại và công pháp quốc tế. Với sự
phát triển của công nghệ tin học, với báo chí,
đài phát thanh, truyền h́nh, mạng lưới Internet
được hoạt động ngay trong nước,
chế độ kiểm duyệt báo chí, ngăn cản tin
tức chuyễn về từ nước ngoài sẽ
trở thành vô cùng khó khăn. Với các đại học tư
và ban giảng huấn ngoại quốc cùng với các
trường học dân lập và số sinh viên xuất
ngoại trở về, tư tưởng tự do tiến
bộ sẽ phát triển trong giới trẻ tại
Việt-Nam.
Các hiệp định thương
mại Việt-Mỹ, Việt-Âu, và AFTA không có điều
khoản nào nói về nhân quyền. Tuy nhiên hiệp
định đ̣i hỏi các luật lệ thương
mại phải minh bạch và thông tin trong lănh vực kinh
tế phải được tự do. Điều này cũng
sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do báo
chí. Một khi người dân đă có quyền tự do kinh
tế, có một mức sống cao hơn, không c̣n phải
lo miếng cơm manh áo hàng ngày th́ không c̣n ǵ ngăn cản
họ đ̣i hỏi được hưởng các
quyền tự do ngoài phạm vi thuần túy kinh tế,
nhất là khi người dân đă được tiếp
xúc với những người thuộc các nước có
chế độ tự do dân chủ, ngoại quốc
cũng như người Việt khắp nơi trở
về. Một đ̣i hỏi kế tiếp và tự nhiên
của người dân trong nước sẽ là một
chế độ tự do, dân chủ và tiến bộ theo
đúng trào lưu văn minh của nhân loại. Tuy nhiên
phải mất bao lâu mới thực hiện
được ước vọng mănh liệt đó,
đến nay không ai có câu trả lời chắc chắn
cả.
Dưới con mắt của những
nhà lănh đạo Hà-Nội th́ đây là một phần trong
diễn biễn ḥa b́nh mà họ lo ngại. Họ chấp
nhận cải tổ kinh tế v́ không c̣n lựa chọn
nào khác. Tiếp theo đó, họ chấp nhận
đầu tư nước ngoài một cách giới
hạn. Dần dần Việt-Nam nới rộng luật
lệ đầu tư cho các công ty ngoại quốc xâm
nhập thị trường gần như vào mọi khu
vực, đồng thời cho đông đảo sinh viên du
học các nước Tây Phương, đặc biệt
là các nước nói tiếng Anh như Hoa-Kỳ, Úc Châu, và
Canada. Sau cùng Việt-Nam thỏa thuận hội nhập vào
kinh tế vùng và thế giới qua những thương
ước quốc tế. Đến năm 2020 AFTA của
ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng kinh tế
kiểu Liên Hiệp Âu Châu, không thuế quan, mọi hàng rào
phi thuế quan cũng sẽ được băi bỏ, theo
một quyết định của hội nghị
thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 tại Bali,
Indonesia vào tháng 10, 2003 vừa qua.
Những nhà lănh đạo Hoa-Kỳ
tiếp tục ca ngợi mậu dịch tự do như
một cách để mở cửa biên giới của
những nước độc tài, tạo cơ hội
giao tiếp với thế giới văn minh bên ngoài.
Cựu lănh Tụ Đa Số Hạ Viện Dick Armey
từng tuyên bố: “Tư do mậu dịch là một
lực lật đổ và giải phóng vĩ đại” [4].
Tồng Thống George W. Bush khẳng định: “Nếu
Internet xâm nhập vào Trung Quốc, ông thần tự do sẽ chui ra khỏi chai” [5].
Đi xa hơn thế Bộ Trưởng Ngoại Giao Colin
Powell khẳng định: “Buôn bán với Trung Quốc không
những là một chính sách thương mại tốt mà c̣n
là một chính sách nhân quyền tốt” [6].
Những tư tưởng lạc quan như thế
tiếp tục quyết định chính sách ngoại giao
của Hoa-Kỳ đối với một số
nước chọn lựa như Việt-Nam và Trung
Quốc.
Dù thực tâm hoặc nhắm mắt tin
vào những tư tưởng lạc quan như trên v́
quyền lơi, giới kinh doanh Hoa-Kỳ tại những
buổi họp của U.S. – Vietnam Trade Council và U.S. – ASEAN
Business Council tỏ ra chống đối Dự Luật
Nhân Quyền Việt-Nam v́ dự luât này không cho phép dùng
những nguồn tài trợ của Bộ Canh Nông
Hoa-Kỳ, Exim Bank, và Overseas Private Investment Corporation (OPIC)
để bao cấp những công ty Hoa-Kỳ buôn bán với
Việt-Nam, như một biện pháp trừng phạt
Việt-Nam. Giới kinh doanh Hoa-Kỳ cũng nhận
thấy chính sách bất nhất của Hoa-Kỳ.
Đối với những nước độc tài
như Việt-Nam,Trung Quốc, và các nước sản
xuất dầu hỏa ở Trung Đông, Hoa-Kỳ theo
đuổi chính sách “giao kết xây dựng” [7].
Đối với Cuba và Miến Điện, Hoa Kỳ
lại áp dụng cấm vận.
Bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ chưa
chính thức công bố lập trường đối
với Dự Luật Nhân Quyền Việt-Nam 2003, đă
được Hạ Viện thông qua dưới h́nh
thức một tu chính án của Dự Luật Ngân Sách
Ngoại Giao cho Tài Khóa 2004-2005 (H.R. 1950) vào ngày tháng 7, 2003. Tuy
nhiên, một cách không chính thức một vài viên chức cao
cấp trong Bộ Ngoại Giao tỏ ư lo ngại v́ Dự
Luật Nhân Quyền Việt-Nam cho phép Hành Pháp Hoa-Kỳ
cấm viện trợ thêm cho Việt-Nam, ngoại trừ
các chương tŕnh nhân đạo. Nếu chính quyền
Hà-Nội vi phạm nhân quyền, chương tŕnh tài
trợ để huấn luyện Việt-Nam thi hành
Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ có
thể sẽ bị ngưng. Dự kiến này nếu
xẩy ra sẽ mâu thuẫn với một số
điều mà Hoa-Kỳ đă cam kết khi kư Thương
Ước Việt-Mỹ.
Một nhóm thiểu số nhưng có
nhiều ảnh hưởng trong Lập Pháp Hoa-Kỳ không
ủng hộ Dự Luật Nhân Quyền Việt-Nam như
TNS John Kerry (Dân Chủ, Massachusetts) đă giải thích
lập trường của ông vào đầu năm 2003
như sau: “Mặc dù đồng ư với mục tiêu
của dự luật này, tôi không tin rằng việc thông
qua dự luật là cách hiệu quả nhất để
đẩy mạnh sự thay đổi ở Việt-Nam.
Tôi đă chứng kiến tận mắt những tiến
bộ do sự hợp tác giữa Việt-Nam và Hoa-Kỳ
mang lại. Tôi tin rằng cách hiệu quả nhất
để cải thiện nhân quyền là để
Việt-Nam tiếp cận với ảnh hưởng bên
ngoài” [8].
TNS Chuck Hagel (Cộng Ḥa, Nebraska) trong buổi nói chuyện
về bang giao giữa Hoa-Kỳ và Đồng Minh Á Châu do
Asia Society tồ chức vào cuối tháng 7, 2003 vừa qua
cũng có một nhận định tương tự. Ông
cho rằng c̣n lâu nhân quyền mới được tôn
trọng ở Việt-Nam cũng như tại Trung
Quốc. Nhân quyền là vấn đề quan trọng và
tế nhị phải được cứu xét và đang
được cứu xét. Nhưng Dự Luật Nhân
Quyền Việt-Nam là một tiến tŕnh đồ sộ
và không hoàn hảo. TNS Hagel nói
tiếp rằng tốt hơn là làm việc từ bên trong,
gây áp lực với Việt-Nam và Hành Pháp. Ông cho rằng
đây là cách làm thích hợp và có trách nhiệm [9].
Xét cho cùng qua những lời tuyên bố
của họ, chính những nhà lập pháp Hoa-Kỳ dù không
ủng hộ Dự Luật Nhân Quyền Việt-Nam
cũng không tin rằng những cải tổ kinh tế và
những thương ước quốc tế có thể tự
động cải thiện t́nh trạng nhân quyền và
đem lại tư do dân chủ cho Việt-Nam. Những nhà lập pháp Hoa-Kỳ
này gián tiếp công nhận rằng áp lực quốc tế
và vận động ở bên trong rất cần thiết
trong tiến tŕnh dân chủ hóa Việt-Nam.
Lư thuyết 2 - Cải tổ kinh tế
đồng thời tiếp tục kềm kẹp chính
trị sẽ chỉ củng cố thêm chế độ
độc tài
Kinh tế thị trường với
định hướng xă hội chủ nghĩa ở Việt-Nam
cũng như tại Trung Quốc không có ǵ khác hơn là
một hỗn hợp của
hai chinh sách giải phóng kinh tế và kềm kẹp chính
trị. Theo đó kinh tế dựa trên luật cung cầu
được phép phát triển và khu vực quốc doanh
giữ một vai tṛ chủ chốt. Dân và đảng viên
được phép làm giầu, nhưng không được
phép làm suy yếu đảng Cộng Sản. Khi thi hành
những biện pháp cải tổ kinh tế tại hai
quốc gia này, những nhà lănh đạo của Hà-Nội
và Bắc Kinh đều cho thực hiện những
biện pháp tŕ hoăn hoặc ngăn ngừa những
chuyển biến chính trị bất lợi cho chế
độ độc đảng. Nhà nước tiếp
tục kiểm soát chặt chẽ đời sống chính
trị của người dân. Về mặt kinh tế, nhà
nước băi bỏ những cơ chế chỉ huy
như hợp tác xă và nông trường tập thể,
giảm bớt số xí nghiệp quốc doanh bằng cách
bán một số xí nghiệp này cho tư nhân mà phần
lớn là đảng viên hoặc cựu nhân viên nhà
nước, hoặc sát nhập những xí nghiệp thua
lỗ vào nhũng xí nghiệp tương đồi thành
công hơn, đồng thời cho những công ty này ít
nhiều quyền tự trị. Nhà nước tiếp
tục kiểm soát những khu vực quan trọng của
nền kinh tế. Mặt khác, đầu tư nước
ngoài được phép xâm nhập thị trường
nội địa một cách giới hạn.
Các hiệp hội do nhà nước
bảo trợ được thành lập để làm
nhịp cầu liên lạc giữa nhà nước và các xí
nghiệp. Những tổ chức phi chính phủ (non-governmental
organizations viết tắt là NGO) đều phải
được đặt dưới quyền kiểm soát
trực tiếp hay gián tiếp của nhà nước.
Đảng viên hay cán bộ thường nắm những
chức vụ then chốt trong ban quản trị. Trên
thực tế Việt-Nam không có NGO, mà chỉ có GS-NGO
tức là government-supervised NGO. Nhà nước cấm đoán
những giáo hội độc lập, những nghiệp
đoàn tự do hoặc những tổ chức thật
sự tự trị có thể cạnh tranh với nhà
nước. Những hội đoàn này hoặc phải sát
nhập vào với các tổ chức của nhà nước
hoặc sẽ bị đàn áp. Do đó, một xă hội
dân sự thật sự khó thành h́nh dù giới trung lưu
ngày càng lớn mạnh khi kinh tế phát triển như
nhiều nhà nghiên cứu hi vọng. Phần đông giới trung lưu mới này thân
cận với đảng và nhà nước. C̣n giới trung lưu cũ
đă rời bỏ quê hương ra đi gần hết.
Để bảo đảm giới
chuyên viên trí thức trong tương lai sẽ ủng
hộ chế độ, nhà nước trước đây
đặt những điều kiện khó khăn hoặc
ngang nhiên cấm đoán con em của những người
thuộc chế độ VNCH không cho hưởng những
phương tiện giáo dục một cách b́nh đẳng
với con em của “cách mạng”. Thí dụ vào những
năm đầu sau năm 1975, con em thuộc gia đ́nh
“ngụy” không được học lên đại học.
Dù đạt được điểm 30/30 trong 3 môn thi
những em này cũng không được nhận vào
đại học. Trong khi đó con em “cách mạng” chỉ
cần đạt được điểm 8/30 hoặc
9/30 [10]. Trên thực tế, dù không bị
ngăn cấm, nhiều con em
“ngụy” cũng không có phương tiện cắp
sách đến trường hoặc v́ gia đ́nh phải
đi vùng kinh tế mới, hoặc v́ những
người lớn bị giam ở trong các trại tù
“cải tạo”, gia đ́nh đói khổ, con em “ngụy” phải ở nhà giúp
mẹ và các chị làm đủ mọi việc để
kiếm ăn. Sau khi bắt đầu chính sách “Đổi
Mới”, luật lệ mới được nới
lỏng. Con em “ngụy” phải có điểm thật cao so
với điểm của con em “cách mạng” mới
được đi nhận vào đại học. Ngày nay, t́nh trạng kỳ thị
trắng trơn đó không c̣n nữa. Nhưng lư lịch và
quen biết vẫn là những yếu tố quan trọng
trong việc xin việc làm hay học bổng du học
của nhà nước.
Quyền tư hữu đất đai
không được công nhận. Hệ thống tư pháp
với các ṭa án đều do đảng Cộng Sản
kiểm soát. GS Arthur Waldron, một chuyên viên về Trung
Quốc của University of Pennsylvania nhận xét: “Quyền cá
nhân hay quyền của nhà kinh doanh đều
được bảo vệ không phải bởi các
định chế nhưng bởi sự quen biết
với những người có quyền lực trong tay” [11].
Ở tại Việt-Nam cũng như Trung Quốc, chế
độ tư bản không dựa vào quyền tư
hữu, hay pháp luật mà dựa vào sự quen biết
với các giới chức chính quyền. Đây là một chế
độ tư bản phe đảng (relation-based capitalism)
[12].
Phần lớn lợi nhuận rơi vào tay các viên chức
nhà nước. Ở Hoa-Kỳ các công ty tư t́m mọi
cách ảnh hưởng các ứng cử viên, các chính
trị gia, các cơ quan chính phủ. Trái lại, tại
Việt-Nam hay Trung Quốc, t́nh trạng trái ngược.
Nhà nước ảnh hưởng và áp đảo khu
vực tư.
Trong ṿng 10 năm kể từ khi
chương tŕnh Đổi Mới được chính
thức công bố vào cuối năm 1986, Việt-Nam đă đạt
được tốc độ tăng trưởng
đáng kể. Tổng sản lượng nội
địa tăng gấp đôi và tỉ lệ nghèo đói
giảm xuống c̣n một nửa, từ 79% xuống c̣n
35%. Cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu 1987-1988 đă
làm cho tốc độ tăng trưởng chậm
lại từ 9.5% vào năm 1995 xuống c̣n 4.8% vào năm
1999, sau đó từ từ phục hồi lại ở
mức 7% vào năm 2002. Lợi tức trung b́nh tăng
từ 200 Mỹ kim lên đến 450 Mỹ kim mỗi
đầu người.
Như vậy, chính sách kinh tế thị trường
với định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa và
sự hội nhập vào thị trường thế
giới sau khoảng 15 năm, mặc dù chưa làm cho
Việt-Nam ra khỏi danh sách những nước nghèo
nhất thế giới của Liên Hiệp Quốc, đă
giúp dân Việt-Nam không phải ăn bo bo nữa, nhưng
đồng thời đă tạo ra một giai cấp trung
lưu mới thân chế độ và sẵn sàng bảo
vệ chế độ đă cho ḿnh nhiều đặc
quyền đặc lợi. Sau 1975, Hiến Pháp
được sửa đổi tất cả ba lần.
Lần sửa thứ nhất vào năm 1980 nhắm nêu cao
mục tiêu của Đảng và nhà nước là củng
cố chế độ xă hội chủ nghĩa ở
miến Bắc, xă hội hóa miền Nam, và tăng
cường khả năng quốc pḥng để chống
lại Trung Quốc. Lần sửa thứ hai vào năm 1992
chính thức hóa nền kinh tế với nhiều hộ
sản xuất. Ngoài hợp tác xă, doanh nghiệp nhà
nước, c̣n có gia đ́nh và xí nghiệp đầu tư
ngoại quốc. Lần
sữa chót vào năm 2001 thông qua chế độ kinh
tế thị trường. Tuy nhiên cơ chế và
cương lĩnh chính trị của Đảng CSVN
vẫn không suy chuyển.
Trung Quốc thực hiện đổi
mới kinh tế vào năm 1979, trước Việt-Nam 10
năm. Trung Quốc thi hành
một vài cải tổ kinh tế táo bạo hơn, như
cương quyết loại bỏ các doanh nghiệp nhà
nước lỗ lă, bán những công ty
c̣n lại cho tư nhân, chỉ giữ lại những công
ty quan trọng cho an ninh quốc gia hoặc tư nhân không
đủ khả năng bao thầu. Đặc biệt, quân đội bị
tuyệt đối cấm không được làm kinh doanh.
Trung Quốc quyết tâm theo đuổi chính sách kinh tế
hướng ngoại / xuất cảng và mạnh mẽ
diệt trừ tham nhũng. Nhờ vậy Trung Quốc
được xếp hạng 66 trên 133 nước, khá
hơn Việt-Nam theo phúc tŕnh về tham nhũng của
Transparency International cho năm 2003.
Sau khi đổi mới kinh tế gần một
thập niên, Trung Quốc vào năm 1988 đă ban hành
Đạo Luật Cơ Hữu Ấn Định Việc
Thành Lập và Điều Hành Các Ủy Ban Thôn Xă. Sau
biến cố Thiên An Môn đạo luật này
được ban hành lại vào năm 1991 và áp dụng trên
toàn lănh thổ Trung Quốc. Mục tiêu của chính sách là
để củng cố lại hậu thuẫn của dân
chúng tại nông thôn v́ sau nhiểu năm nắm chính
quyền, nhiều cơ sở của Đảng CSTQ
ở nông thôn bị tan ră [13].
Việc Trung Quốc cho bâu cử ở cấp làng xóm, trong
kế hoạch dân chủ hóa nông thôn mà họ gọi
tắt là “Dân Chủ Cơ Cở”,
cho đến nay chỉ là một h́nh thức dân
chủ giả tạo bởi v́ các đảng viên Cộng
Sản thường hướng dẫn dân làng bỏ
phiếu cho những ứng cử viên thân tín [14].
Tuy nhiên hăy c̣n quá sớm để kết luận về ư
đồ của giới lănh đạo mới của
Trung Quốc đối với chính sách dân chủ hóa nông
thôn. Tân Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung
Quốc (CSTQ) mới lên nắm quyền là ông Hồ Cẩm
Đào, một lănh tụ có khuynh hướng ủng hộ
tiến tŕnh dân chủ hóa và ủng hộ chính sách “Ba
Đại Diện” của Giang Trạch Dân. Theo chính sách
này, các doanh thương được phép gia nhập
Đảng CSTQ.
Việt-Nam đă có những thay
đổi ít nhiều về lănh vực chính trị trong
một năm qua. Đảng
CSVN cho phép đảng viên và ngay cả quân đội
được làm kinh doanh, nhưng doanh thương
chưa được phép gia nhập Đảng. Ngày
7.7.2003 vừa qua Chính Phủ Việt-Nam đă ban hành quy
chế thực hiện dân
chủ ở xă (nghị định số 79/2003/NDD-CP). Theo
đó, nhân dân ở xă được trực tiếp bàn và
quyết định 5 loại công việc từ vệ sinh
môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng
đến soạn thảo hương ước. Quy
chế Dân Chủ Xă xem ra giống như Quy Chế Dân
Chủ Cơ Sở của Trung Quốc về h́nh thức.
Người ta nghi ngờ rằng việc thi hành Quy chế
Dân Chủ Xă cũng sẽ giống như ở bên Trung
Quốc từ trước đến nay mà thôi. Trong khi
Trung Quốc đă chuyển từ chế độ toàn trị
(totalitarianism) qua chế độ độc tài (authoritarianism) và đang
chuẩn bị chuyển qua chế độ dân chủ
hiến trị (constitutionalism), Việt-Nam chỉ mới
bước đi một bước, chuyển đổi
qua chế độ độc tài và hiện đang
dậm chân tại đó. Tương lai của Việt-Nam
cũng không có ǵ đảm bảo sẽ khá hơn Trung
Quốc về tốc độ và phạm vi của kế
hoạch cải tổ chính trị nếu Việt-Nam
ngả theo Trung Quốc và dập theo đúng khuôn mẫu
cải tổ kinh tế và chính trị của Trung Quốc.
Điều này đúng hay không tùy thuộc vào chính sách
ngoại giao của Viêt-Nam. Trong thời gian hai năm
gần đây, có một vài dấu hiệu cho thấy
Việt-Nam có nhiều hoạt động ngoại giao thân
thiện với Hoa-Kỳ hơn. Một biến cố quan
trọng và ư nghĩa là sự viếng thăm Hoa-Kỳ vào
tháng 11, 2003 của Tướng Phạm Văn Trà, Tổng
Trưởng Quốc Pḥng của Việt-Nam.
Kinh nghiệm cho thấy kinh tế phát
triển không chắc chắn và tự động đem
lại tự do dân chủ, nhưng lại có những
trường hợp giúp hợp pháp hóa và củng cố
những chế độ độc tài trong đoản
kỳ. Ngược lại, lịch sử cũng đă
chứng minh rằng kinh tế khủng hoảng sẽ
không đủ để làm nhiều chế độ
độc tài xụp đổ, mặc dù có làm cho những
chế độ này yếu đi [15]. Một số trường
hợp ngoại lệ c̣n rơ rệt trong trí nhớ mọi
người là Nga Sô và Đông Âu. Yếu tố kinh tế
đă ảnh hưởng mạnh mẽ vào sự
chuyển đổi của các nước cựu Cộng
Sản này qua thể chế dân chủ vào cuối thập
niên 80 nhưng không phải là v́ kinh tế phát triển mà v́
kinh tế kiệt quệ.
Một số những nhà lập pháp
Hoa-Kỳ đă lên án rằng Hoa-Kỳ buôn bán với
Việt-Nam và Trung Quốc, xử dụng những
chương tŕnh bao cấp của Bộ Canh Nông, Exim Bank,
và OPIC để củng cố chế độ
độc tài tại hai quốc gia này mà không đưa
đến một tiến bộ nào về hai lănh vực
dân chủ và nhân quyền. Nhân dịp Hạ Viện
Hoa-Kỳ chấp thuận Dự Luật Ngân Sách Ngoại
Giao bao gồm một số điều khoản về nhân
quyền Viêt-Nam với số phiếu 382-42 vào tháng 8, 2003
vừa qua, DB Christ Smith (Cộng Ḥa, New Jersey) tuyên bố:
“Dự Luật Ngân Sách Ngoại Giao cho Tài Khóa 2004-2005 là
một công bố chính thức về mục tiêu nhân
quyền và sự cam kết của Hoa-Kỳ muốn giúp
đơ những dân tộc trên toàn thế giới đang là
nạn nhân của áp bức và tàn bạo… Nhân quyền
phải là lư tưởng chính và mục tiêu của chính sách
ngoại giao của chúng ta, đặc biệt là nếu
chúng ta trông đợi những quốc gia khác tôn trọng
quyền căn bản của chính công dân của họ” [16].
DB Ed. Royce (Cộng Ḥa, California), tác
giả của Dự Luật Tự Do Thông Tin, nhân buổi
điều trần của Quốc Hội Hoa-Kỳ về
Nhân Quyền vào đầu tháng 10, 2003 tuyên bố:
“Việt-Nam c̣n lâu mới đạt đựoc tiêu
chuẩn quốc tế về nhân quyền, tự do ngôn
luận, và tự do báo chí…Chế độ độc tài
ở Việt-Nam biết rằng tự do thông tin là một
đe dọa cho lối cai trị thô bạo của chế
độ - Do đó họ đă ngăn chặn các lối
vào Internet. Càng ngày càng nhiều những thanh thiếu niên vào
Internet để đọc tin tức vê chính trị
quốc tế và quốc nội, tôn giáo và kinh tế” [17].
Giải
pháp tổng hợp kinh tế và chính trị
Kinh nghiệm cho thấy chính sách cấm
vận đă được các quốc gia xử dụng
tối đa trong các thập niên trước đây đă
không luôn luôn tỏ ra có hiệu quả trong việc đánh
đổ các chế độ độc tài và áp bức
trên thế giới. Thí dụ như trường hợp
Cuba, Bắc Hàn, Iraq và Việt-Nam (1975-1994) và Miến
Điện. Ngày nay, các cường quốc chủ
trương b́nh thường hóa liên hệ ngoại giao và
thương mại với các chế độ độc
tài như trường hợp Hoa-Kỳ với Việt-Nam.
Chính sách này đă mang lại cho những người dân
ở dưới chế độ độc tài áp bức
một đời sống kinh tế dễ thở hơn
so với thời kỳ cấm vận. Nhưng theo David
Hendrickson "cả hai chính sách cấm vận và b́nh
thường hóa thương mại đều không có
một liên hệ vững chắc và trực tiếp
đối với vấn đề dân chủ hóa" [18].
Jorge I. Dominguez cũng có một lập luận tương
tự: "không thể tiên đoán chắc chắn và
dễ dàng được sự liên hệ giữa thị
trường và dân chủ" [19].
David D. Finley cho thấy một điều chắc chắn
là "không có dân chủ nếu không có kinh tế tự do.
Kinh tế tự do có thể đưa đến dân
chủ" [20] nhưng
không ǵ đảm bảo là chắc chắn cả. Nhà b́nh
luận Nguyễn Cao Quyền nói một cách khác rằng
"kinh tế thị trường là một điều
kiện cần nhưng không đủ cho sự phát huy
nền dân chủ" [21].
Những cuộc khảo cứu công phu
và sâu rộng đă cho thấy rằng cải thiện
mức sống của các nước sẽ đem lại
tự do và dân chủ trong trường kỳ [22].
Trong các thập niên 1980 và 1990, trào lưu dân chủ hóa
nổi dậy khắp nơi trên thế giới. Nhiều
quốc gia biến đổi từ chế độ
độc tài qua chế độ dân chủ theo một
trong ba khuynh hướng sau đây: (1) Thay đổi
thể chế chính trị trước, cải tổ kinh
tế sau. Đó là trường hợp của các nước
Đông Âu, Nga Sô, và nhiều nước Châu Mỹ Latin; (2)
Cải tổ chính trị và kinh tế hỗn hợp
như trường hợp Singapore và Indonesia; và (3) Cải
tổ kinh tế trước, thay đổi thể
chế chính trị sau. Đây là trường hợp của
Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mexico, Chile và cũng rất có
thể của Việt-Nam và Trung Quốc [23]. Do đó không có một lộ tŕnh
độc nhất nào để cho mọi dân tộc
phải theo để dân chủ hóa quốc gia của ḿnh
cả. Tiến tŕnh dân chủ ở mỗi quốc gia thay
đổi tùy theo hoàn cảnh đặc thù của mỗi
nước về mọi phương diện, đặc
biệt là chính trị, kinh tế, văn hóa, và giáo dục.
Nhưng trong mọi trường hợp cả bốn
yếu tố sau đây đều cần thiết: (1) Mức
sống được cải thiện đáng kể; (2)
Áp lực chính trị từ trong nội bộ; (3) Áp
lực quốc tế; và (4) Thời gian. Chế độ
độc tài ở Đông Âu do Nga Sô áp đặt, do đó
đă đổ vỡ nhanh chóng. Trái lại, chế
độ độc tài ở Việt-Nam cũng như
ở Trung Quốc tồn tại lâu v́ một vài lư do.
Thứ nhất là những chế độ này dù dựa
vào chủ thuyết ngoại lai nhưng do chính những
người bản xứ trực tiếp xây dựng lên.
Những lănh tụ này tự cho rằng công lao dành
độc lập cho đất nước là hoàn toàn
của họ. Ngoài ra, chịu ảnh hưởng của
nho giáo, chấp nhận quan niệm “trung quân ái quốc”,
người dân Việt-Nam dễ dàng cúi đầu chịu
đựng trước bạo lực để
được xem là “trung với đảng, hiếu
với dân”. Mặc dù lư tưởng cách mạng của
họ đă hoàn toàn tiêu tan, giai cấp “thống trị”
hiện nay ở Việt-Nam có nhu cầu cấu kết
lẫn nhau v́ quyền lợi.
Trong trường hợp có tự do kinh
tế, dân chủ sẽ phát triển với ba điều
kiện: (1) Quyền tự do được bảo
đảm bởi hiến pháp và môi trường chính
trị; (2) Nền kinh tế thị trường đem
lại sự thịnh vượng; (3) Không có liên minh
mạnh mẽ của quần chúng chống lại phong trào
dân chủ hóa. Hiến pháp năm 1992 của nước
Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt-Nam thỏa măn
điều kiện (1) trên lư thuyết, nhưng trên thực
tế nhà nước không thi hành. Hai thương
ước Việt-Mỹ và Việt-Âu sẽ mở
rộng thị trường và cho phép người dân có
quyền tự do làm ăn buôn bán dễ dàng hơn. Kinh
tế sẽ phồn thịnh hơn so với thời
kỳ chỉ huy. Mặt khác, số công ty quốc doanh sẽ
phải giảm thiểu tối đa hoặc sẽ phá
sản.
Tại Việt-Nam, không có phong trào
của quần chúng chống lại tự do dân chủ.
Trái lại quần chúng mong muốn có một xă hội công
bằng, no ấm, tự do, và dân chủ. Mặc dù đ̣i
hỏi tự do dân chủ chưa trở thành một phong
trào rộng lớn, nhưng đă có những chiến
sĩ dân chủ với những thành tích cách mạng không ai
có thể chối căi được, đă lên tiếng kêu
gọi cải tổ chính trị, xóa bỏ chế
độ độc tài v́ đây chính là nguyên nhân của
tham nhũng và bất công trong xă hội hiện tại. Do
đó, Việt-Nam có cơ hội dân chủ hóa. Cơ
hội đó đến sớm hay muộn tùy thuộc công
sức bỏ vào nhiều hay ít của những
người dân ở trong nước, những đảng
viên và những nhân vật lănh đạo cấp tiến
trong đảng Cộng Sản và sự hiểu biết
của chính quyền Hà-Nội, sự hữu hiệu
của phong trào yểm trợ của người Việt
ở hải ngoại và những áp lực mạnh mẽ
của quốc tế.
Các chế độ độc tài và t́nh
trạng chậm tiến là những môi trường
rất thích hợp cho tham nhũng và bất công xă hội
sinh sôi nẩy nở như người ta đă từng
thấy ở Nam Dương, Phi Luật-Tân, Thái Lan
trước đây và ở Việt-Nam, Trung Quốc và
Miến Điện hiện nay.
Các quốc gia này thiếu hẳn một cơ chế
và hệ thống luật pháp phân minh để kiểm soát
chính phủ. Trong hoàn cảnh như vậy, chính sách nhà
nước làm ra không nhất thiết phục vụ
quyền lợi chung của toàn dân, mà thường lại
phục vụ gia đ́nh, họ hàng, phe nhóm, đảng
phái thân thuộc. Tài nguyên không được sử
dụng hữu hiệu. Do đó hiển nhiên kinh tế
không thể phát triển toàn diện và mau chóng
được trong một chế độ độc
tài.
Từ ngày tái lập bang giao với
Việt-Nam đến nay Hoa-Kỳ áp dụng chính sách buông
thả đối với Việt-Nam và cả Trung Quốc.
Hoa-Kỳ, đặc biệt dưới thời Tổng
Thống Clinton, hoàn toàn trông chờ vào phép lạ của
những cải tổ kinh tế và hiệp định
thương mại quốc tế để có những
thay đổi chính trị. Kinh nghiệm cho thấy chính
sách buông thả này không có hiệu lực. It nhất là trong
hoàn cảnh như hiện nay. Người ta không thấy
một thay đổi căn bản nào trong một
tương lai gần, ngoại trừ có những biến
cố đột xuất. Lịch sử cho thấy
Việt-Nam chỉ thay đổi khi có áp lực từ bên
ngoài hoặc từ quần chúng trong nước.
Việt-Nam bắt buộc phải chính thức hóa việc
cho phép nông dân tự canh tác lúa gạo vào năm 1981 bằng
một Chỉ Thị số 100, v́ dân quá đói khổ, xé
rào, bỏ hợp tác xă, sản xuất lén lút riêng cho gia
đ́nh. Quyết Định số 10 ban hành vào năm 1988
bởi Bộ Chính Trị giao khoán một số lớn
việc canh tác cho nông dân và mặc nhiên băi bỏ kế
họach sản xuất chỉ huy và công nhận nền
kinh tế sản xuất gia đ́nh. Vào
tháng 9, năm 1989Việt-Nam phải
rút quân ra khỏi Kampuchea sau khi các nước Cộng
Sản Đông Âu sụp đổ và ngưng viện
trợ cho Việt-Nam. Hai năm sau, Viện trợ của
Nga Sô cho Việt-Nam cũng chấm dứt. C̣n viện
trợ của Tây Phương đă bị ngưng hoàn toàn
từ ngày quân CSVN tràn vào Kampuchea vào cuối năm 1978.
Chính sách cải tổ
cầm chừng của Việt-Nam không phải là không có
những hậu quả nghiêm trọng. Thứ nhất là
nạn tham nhũng đă và đang tiếp tục gây ra
những bất công xă hội và bất măn nghiêm trọng
trong quần chúng mà nhà nước cũng đă thấy
rất rơ. Theo phúc tŕnh 2003
của Transparency International, Việt-Nam bị xếp
hạng thứ 100 trong số 133 quốc gia về nạn
tham nhũng và là một trong những nước có t́nh
trạng tồi tệ nhất ở Á châu cùng với
Miến Điện và Nam Dương. Những người
gốc Việt ở nước ngoài về Việt-Nam làm
việc với các cơ quan ngoại quốc thường
bị làm khó dễ và bị đ̣i phải chia 10%-15%
tiền lương cho những công an, cán bộ hoặc
viên chức nhà nước mà họ phải liên hệ.
Nạn tham nhũng lan tràn cả ra nước ngoài. Đáng
chú ư là ở Đông Âu và Liên Bang Nga nơi có nhiều
người Việt cư ngụ dưới diện
xuất khẩu lao động trả nợ chiến tranh
hoặc di dân bất hợp pháp. V́ không muốn bị
tống-xuất về nước, họ bị công-an
gửi từ Việt-Nam qua điều tra lợi-dụng
cơ-hội làm tiền. Mỗi người muốn xin
ở lại phải mất từ 600 Euro đến 5,000
Euro tùy theo sự việc. Nhưng phần đông tiền
mất tật mang v́ những giấy tờ do công-an CSVN
cấp không có tư-cách pháp-lư.
Thứ hai là sự chênh
lệch về lợi tức giữa nông thôn và thành thị
ngày một lớn hơn. Theo
số liệu của Tổng Cục Thống Kê
Việt-Nam, thu nhập b́nh quân đầu người
của nông thôn thấp hơn 3.7 lần thành thị và
dưới cả mức thu nhập trung b́nh của dân
nghèo trên thế giới (1 Mỹ kim mỗi ngày). Trên
thực tế mức chênh lêch này là 1 so với 10. Khoảng
40% dân ở nông thôn tương đương với 24
triệu người hiện vẫn sống trong nghèo
đói. Thứ ba là nạn thất nghiệp gia tăng mà
những cuộc cải tổ cầm chừng hiện nay
không thể giải quyết được. Cả
những sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài
về cũng không kiếm được việc làm
nếu không quen biết. Mỗi năm có thêm 1.4 triệu
người trẻ cần việc làm. Với độ
tăng trưởng 7% / năm, nền kinh tế chỉ
tạo thêm được khoảng 300,000 việc làm
mỗi năm. Số đông chuyên viên tốt nghiệp
đại học ở trong nước và ngoại
quốc không được xử dụng đúng khả
năng. Các báo Tiền Phong,
Tuổi Trẻ và Lao Động mới đây trích dẫn
một báo cáo của nhà nước cho rằng từ năm 2001 đến nay đă
tạo thêm được 4.3 triệu việc làm mới [24].
Con số này cần được kiểm chứng
lại.
Những điều kiện mô tả
ở trên là những nhân tố trực tiếp sẽ giúp
cho chế độ tự do và dân chủ phát triển trong
dài hạn, tự do báo chí và nhân quyền được tôn
trọng, tệ nạn tham nhũng sẽ có điều
kiện bị giảm thiểu tối đa và nền kinh
tế mới có thể phát triển toàn diện với
hết tiềm năng sẵn có.
Để cho tiến tŕnh dân chủ hóa ở
Việt-Nam đi nhanh hơn, những người dân
chủ ở trong nước và hải ngoại cần
phải chủ động. Lawrence F. Kaplan nói: “Dân chủ là
một lựa chọn chính tri, một hành động
quyết chí. Phải có người tạo dựng ra dân
chủ, chứ không thể trông chờ vào sự việc” [25]. Ở Nga Sô có Mikhail Gorbachev. Ở
Tây Ban Nha có Juan Carlos. Ở Tiệp Khắc có Vaclav Havel. Ở Nam Phi có Nelson Mandela và Desmond
Tutu. Ở Phi Luật Tân có Corazon Aquino. Việt-Nam có
nhiều chiến sĩ dân chủ, nhưng chưa xuất
hiện một Mikhail Gorbachev. Như vậy Việt-Nam
sẽ cần một thời gian dài hơn để đi
tới dân chủ.
Có những trường hợp phong trào
dân chủ không do một người mà do một đoàn
thể như African National Congress tại Nam Phi và Solidarity
tại Ba Lan. Áp lực
quốc tế đă giúp Nam Phi và Ba Lan dành độc
lập và xây dựng chế độ dân chủ. Đài Loan,
Phi Luật Tân, Đại Hàn có dân chủ nhờ áp lực
và trợ giúp của Hoa-Kỳ.
Đức và Nhật Bản từ bỏ chế
độ độc tài phát xít không phải v́ kinh tế
tư bản mà v́ sắp đặt và hỗ trợ
của đồng minh sau Thế Chiến thứ II.
Việt-Nam đă có một số phong trào dân chủ nổi
lên nhưng bị nhà nước kềm chế. Việt-Nam
hơn ai hết cần hỗ trợ mạnh mẽ
của quốc tế mà cộng đồng người
Việt ở hải ngoại sẽ có thể đóng
một vai tṛ rất lớn.
Kết
luận
Kinh tế gia đoạt giải Nobel
người Ấn Độ Amartya Sen nghiên cứu về
nghèo đói và dân chủ đă đưa ra một lời
tuyên bố nổi tiếng: “Không bao giờ có một
nạn đói nào đáng kể xẩy ra ở một
nước độc lập, dân chủ và có tự do báo
chí” [26].
Nhân loại đă chứng kiến nhiều nạn đói
khủng khiếp, nhưng hầu hết xẩy ra
dưới những chế độ độc tài: (1)
Ireland (1845-1850) dưới sự đô hộ độc
đoán của người Anh. Hậu quả: 1 triệu
ngưới Ái Nhĩ Lan chết và 2 triệu người
di dân qua Mỹ châu; (2) Nga Sô (1921) dưới chế
độ Cộng Sản và hạn hán. Hậu quả: 5.1
triệu người chết; (3) Ukraine (1932-1933) do kế
hoạch nông trường tập thể của Cộng
Sản Liên Sô. Hậu quả: 7-10 triệu người
chết; (4) Ethiopia (1984-1985) dưới chế độ
Cộng Sản và hạn hán. Hậu quả: 8 triệu
người chết; (5) India: liên tục trong thời gian
người Anh chiếm đóng cho tới khi Ấn
Độ được độc lập vào năm 1947;
(6) Trung Quốc (1958-1961) do kế hoạch “Bước
Nhẩy Vọt”. Hậu quả: 30 triệu người
chết; (7) Somalia (1992) dưới chế độ
độc tài. Hậu quả: 1.5 triệu người
chết đói; (8) Bắc Hàn (1996 đến nay)
dưới chế độ Cộng Sản.
Riêng tại Việt-Nam nạn đói
xẩy ra hai lần kể từ Đệ Nhị Thế
Chiến đến nay : (1) 1945: Việt-Nam dưới
sự đô hộ tàn bạo và độc tài của quân
phiệt Nhật và thực dân Pháp. Hậu quả: 1
triệu người chết; (2) 1975-1986: Việt-Nam trong
thời kỳ kinh tế xă hội chủ nghĩa. Kết
quả: nạn đói đe dọa từ Bắc vào Nam,
trầm trọng hơn hết là những vùng núi xa xôi
hẻo lánh. Nhà nước phải lên tiếng kêu gọi
Liên Hiệp Quốc giúp thực phẩm và một triệu
người vượt biên.
Vào đầu thập niên 40, cả
thế giới chỉ có khoảng trên 10 nước
thực sự có tự do dân chủ, tương
đương với khoảng dưới 1% của
tổng số các quốc gia. Ngày nay con số này đă lên
tới 62% và đặc biệt là một số các
nước cộng sản trước đây nay đă
trở thành những nước tự do dân chủ
nhất thế giới: Czech Republic, Estonia, Poland, Hungary,
Slovakia, và Slovania. Phong trào dân chủ hóa lan rộng ra
khắp thế giới, từ Bắc Mỹ và Tây Âu qua
Trung và Nam Mỹ, Đông Âu, Á châu và Phi Châu. Khuynh
hướng dân chủ đó sẽ tiếp tục bành
trướng. Việt-Nam
trước sau sẽ qua tiến tŕnh đó. Nếu chủ
tâm cải tổ thực sự kinh tế và chính trị
sớm, Việt-Nam sẽ tiến nhanh và sẽ sớm thoát
khỏi t́nh trạng thua kém và lạc hậu như hiện
nay. Mong sự kiện Trung Quốc thành công đưa phi
hành gia Yang Liwei lên quỹ đạo vào ngày 15.10.2003 sẽ
cảnh tỉnh những nhà lănh đạo Hà-Nội,
khiến họ đẩy mạnh sứ mạng canh tân
xứ sở.
Với những cải tổ kinh
tế ở Việt-Nam, nhà nước sẽ mất
dần độc quyền về kinh tế. Sư suy
giảm về quyền lực chính trị của nhà
nước cũng sẽ là điều tự nhiên. Giai
cấp trung lưu độc lập sẽ lón mạnh. Các
tổ chức bất vụ lợi và phi chính phủ, chính
thức hoặc không chính thức, sẽ sinh sôi nẩy
nở mỗi ngày mỗi nhiều hơn. Những biện pháp tinh vi của nhà nước
để ngăn chặn khát
vọng dân chủ chỉ làm tŕ hoăn chứ không thể
triệt tiêu được tiến tŕnh thay đổi
chính trị trong trường kỳ. Nhưng trường
kỳ là bao nhiêu năm th́ không ai rơ. Có thể là 36 năm
như một học giả của Stanford University tiên
đoán cho trường hợp Trung Quốc. Theo đó
tự do dân chủ sẽ đến với nước này
chậm nhất vào năm 2015. Nếu giả thuyết
đó cũng đúng cho Việt-Nam, đến năm 2023
Việt Nam sẽ có dân chủ, hoặc có thể sớm
hơn nhiều v́ những chuyển biến tại
quốc gia láng giềng khổng lồ.
Tóm lại, để sớm
thực hiện một chế độ có tự do dân
chủ, dân giầu nước mạnh ở Việt-Nam,
cải tổ kinh tế cần phải được
đẩy mạnh và cùng một lúc áp lực quốc
tế nhất là từ Hoa-Kỳ và các nước Tây Phương
cần tiếp tục. Ngoài ra những người dân
chủ trong và ngoài nước cần chủ động và
hỗ trợ lẫn nhau trong các chiến dịch bài
trừ tham nhũng, đ̣i hỏi công bằng xă hội,
tự do tôn giáo, tự do thông tin báo chí, và dân quyền và nhân
quyền. Những biện pháp thực tiễn và tích
cực cần phải được những
người dân chủ thực hiện trong các chiến
dịch này. Kim chỉ nam cho mọi hành động là tinh
thần phục vụ dân tộc và xây dựng đất
nước, chứ không phải là hận thù và chia rẽ.
Điều sau chót nhưng không phải kém quan trọng mà
người dân Việt-Nam vẫn mong đợi để
đất nước sớm có cơ hội vươn
lên là sự khôn ngoan và sáng suốt của những
người đang cầm vận mạng đất nước
ở trong tay.