|
Giáo phận Huế - 30 năm đấu tranh cho tự do tôn giáo
Nhóm Phóng viên từ Huế
I. 1975-1988: Giai
đoạn Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền
Những ngày cuối tháng 3-1975 tại Huế thật là căng thẳng. Đất Thần
kinh hiền ḥa lên cơn hoảng loạn, ḍng Hương giang phẳng lặng cũng
dậy sóng. Thiên hạ hớt hải nhào vào Đà Nẵng và xa hơn nữa, qua đường
Quốc lộ I hay qua cảng biển Thuận An. Trong số người chạy loạn đó có
hầu hết linh mục và tu sĩ Tổng giáo phận Huế. Nhưng vị chủ chăn, Đức
TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền th́ sống chết ở lại nhiệm sở, cùng với
một nhúm nhỏ cộng sự viên, trong đó có cha bí thư Ṭa giám mục Hồ
Văn Quư, cha quản lư Nhà chung Trần Thắng Trung, cha quản xứ chánh
ṭa Nguyễn Kim Bính, cha giáo sư Tiểu chủng viện Nguyễn Hữu Giải,
cha bề trên ḍng Tên Ngô Văn Vững, cha bề trên ḍng Chúa Cứu Thế
Nguyễn Đ́nh Lành... Có cả các linh mục Thừa sai Paris và một linh
mục tu hội Xuân Bích người Pháp. Cha Nguyễn Văn Lư, khi ấy đang phục
vụ trong Hội Thừa sai VN tại G̣ Vấp, Sài G̣n, đă t́nh nguyện về lại
giáo phận cũ. Vượt một đoạn đường chỉ hơn 100 km giữa Đà Nẵng và
Huế, ngài phải mất đến 6 ngày đêm với rất nhiều phương tiện từ ghe
thuyền, tàu thủy, xe hơi, xe đạp đến đi bộ, bơi biển.... Cha về đến
nơi chiều 25-3 th́ sáng 26-3, cờ Cộng sản Bắc Việt được treo trên kỳ
đài Huế. Vài hôm sau th́ đến phiên Đà Nẵng. Đại đa số linh mục Huế
chạy nạn c̣n kẹt lại tại thành phố này. Đức TGM liền bảo cha bí thư
vào mời các vị ra, nhắn rằng: "Bây giờ ở đâu cũng như nhau cả. Mời
quư Cha về lại Giáo phận, mỗi vị kiếm một giáo xứ để ở mà cai quản
cho đến măn đời!" (sic). Các linh mục lục tục trở về, kẻ trước người
sau. Trong số đó đặc biệt có cha Nguyễn Phùng Tuệ: đang du học tại
Rôma môn tu đức, ngài đă vội vă bay về VN cho kịp trước lúc Sài g̣n
thất thủ (30-4) và đầu tháng 5 th́ ra Huế. Sau này, ngài phải khốn
khổ nhiều v́ câu hỏi của công an: "Vatican vội sai ông về VN với ư
đồ ǵ, nhiệm vụ ǵ?"
Ngày 7-9-1975, cha Têphanô Nguyễn Như Thể, bề trên Tiểu chủng viện
Hoan Thiện, được tấn phong Tổng Giám mục phó với quyền kế vị.
Một trong những việc đầu tiên của hai Đức TGM là xếp đặt lại nhân
sự: cha Hồ Văn Quư làm giám đốc Đại chủng viện, cha Nguyễn Hữu Giải
làm giám đốc Tiểu chủng viện, cha Nguyễn Văn Lư làm thư kư ṭa TGM,
cha Nguyễn Phùng Tuệ làm linh hướng cho các ḍng nữ kiêm giáo sư
Tiểu chủng viện. Bốn vị này cũng đồng thời là cố vấn thân tín của
Đức Cha chính, v́ có tinh thần kiên nghị độc lập. Các ngài bị CS
liệt ngay vào sổ đen "cứng đầu" qua cụm từ "Tuệ Quư Lư Giải"!
Phần Đức Cha chính, ngài luôn luôn tỏ ra thiện chí trước chính quyền
mới, chế độ mới: «Ngày 09-04-1975, dịp lễ ra mắt của Ban Chấp Hành
Ủy Ban Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Thành phố Huế, tôi có phát biểu:
"Đồng bào công giáo nguyện tích cực góp phần với tất cả đồng bào
ruột thịt, để cùng với Ủy Ban Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng xây dựng
một xă hội đầy t́nh thương, tự do, dân chủ, thịnh vượng và ḥa b́nh,
trong đó chúng tôi được chu toàn bổn phận đối với Tổ quốc và đối với
Thiên Chúa"» (Thư giải thích ngày 27-10-1977 của Đức TGM về hai
bài phát biểu tháng 4-1977). Hành động cụ thể là ngài đă giao
các cơ sở giáo dục của giáo phận trong thành phố (như
các trường trung học đệ nhị cấp Thiên Hựu, B́nh Linh, Jeanne d'Arc,
Mai Khôi, Tín Đức...) và trong hai tỉnh Thừa Thiên-Quảng Trị cho nhà
nước mượn để tiếp tục làm cơ sở giáo dục: "Giáo Hội Công Giáo chúng
tôi tại Thừa Thiên Huế sẽ nhường tất cả các cơ sở, trường ốc thuộc
quyền sở hữu của chúng tôi trong thành phố và tỉnh nhà, để nhà nước
sử dụng cho việc giáo dục văn hóa... Sẵn sàng để nhà nước sử dụng,
bao lâu nhà nước c̣n cần, các cơ sở và phương tiện giáo dục của tư
thục Công giáo trong giáo phận Huế vào việc giáo dục các học sinh
ngay từ năm học 1975-1976 này" (Trích Thư ĐTGM gởi các linh mục
quản xứ, các bề trên ḍng và các hội đồng giáo xứ ngày 30-10-1975).
Tức là tạm giao cho nhà nước quyền sử dụng chứ không bao giờ giao
quyền sở hữu, như lời xác nhận của Đức
TGM Nguyễn Như Thể sau này: "Cố TGM Nguyễn Kim Điền không hiến một
cơ sở giáo dục nào trong Giáo Phận Huế cho Chánh Quyền Cách
Mạng Tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nhưng chỉ trao quyền sử dụng tùy theo
hoàn cảnh của mỗi địa phương và mỗi cơ sở" (Giấy xác nhận ngày
24-04-1995).
Một hành động thiện chí khác: «Năm 1976, tôi đă phát động tư tưởng
"Vui Sống" trong giới đồng bào công giáo Giáo phận Huế bằng những
bài Giáo lư của tập "Tôi Vui Sống", giúp đem niềm tin lồng vào cuộc
sống hôm nay để góp phần xây dựng một Đất Nước giàu đẹp, vui tươi,
hạnh phúc» (Thư giải thích ngày 27-10-1977 của Đức TGM). Tập
"Tôi Vui Sống" này, ban hành ngày 01-5-1976, được in ronéo và phát
khắp giáo phận, đặc biệt các giáo xứ nhà quê và các cụm giáo dân
vùng kinh tế mới. Nội dung chủ yếu là chỉ dẫn cách cầu nguyện và cử
hành bí tích trong hoàn cảnh thiếu vắng linh mục.
Thế nhưng, chính quyền CS vơ đoán cho rằng "Tôi Vui Sống" ẩn chứa
một chiến lược đấu tranh nên đă ra lệnh cho cán bộ ở vùng sâu, vùng
xa tịch thu tất cả và bắt đầu hành hạ Đức TGM. Họ đă có ác cảm với
ngài từ bài "Cảm nghĩ" của ngài ngày 28-02-76 "về vụ Vinh Sơn xảy ra
ngày 12-02-1976 tại Tp HCM", bài cảm nghĩ mà họ cho là thiếu tích
cực! Ác cảm này càng gia tăng sau hai bài Phát biểu nổi tiếng tại
trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc Huế, một vào ngày
15-04-1977 (dịp nhà nước thông báo vụ bắt giữ 6 vị sư Phật giáo
VNTN, hệ phái Ấn Quang) và một vào ngày 22-4-1977 (dịp tọa đàm về Dự
thảo "Đề cương báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ CSVN tỉnh B́nh Trị
Thiên").
Qua hai bài Phát biểu này, Đức TGM đă thẳng thắn đ̣i hỏi tự
do tôn giáo và b́nh đẳng trong quyền công dân: "Thú thật, sau ngày
giải phóng, khi nghe Nhà nước có Chính sách Tự do tín ngưỡng, là tôi
hết sức mầng, hết sức phấn khởi, như những lời phát biểu đầu tiên
của tôi. Nhưng 2 năm qua rồi, tôi cảm thấy không thoải mái, v́ chưa
có tự do tín ngưỡng thực sự. Các lễ nghi bị hạn chế, các linh mục
không được đi lại phục vụ đồng bào công giáo, như ở vùng kinh tế
mới. Một vài nhà thờ bị cấm lễ lạc hay bị chiếm cứ" (Bài Phát
biểu ngày 15-04-77). Đồng thời ngài tố cáo t́nh trạng "Đảng và
Nhà nước có chủ trương chính sách tự do tín ngưỡng bằng sắc lệnh,
bằng văn bản. Nhưng trong thực tế, vẫn có những khẩu lệnh đi ngược
với chính sách" (Bài Phát biểu ngày 22-4-77).
Hai bài này đă gây rúng động không những tại hội nghị mà c̣n cả quốc
nội và quốc tế sau khi chúng được phổ biến khắp toàn cầu. CS trả thù
trước hết bằng việc triệu tập, xét hỏi và
giam giữ cha Nguyễn Văn Lư, Thư kư Ṭa TGM và cha Hồ Văn Quư, Giám
đốc ĐCV, từ ngày 07 rồi 08-09-1977 về tội gọi là "phổ biến tài liệu
phản động" (tức hai bài Phát biểu nói trên). Song song đó, Mặt trận
tổ quốc Tp HCM viết một bức thư gởi Đức TGM Nguyễn Văn B́nh để phê
b́nh nhận định (dĩ nhiên với thành kiến thù hằn và luận điệu xuyên
tạc) về hai bài ấy. Mặt trận Tổ quốc tỉnh B́nh Trị Thiên (tên gọi
đương thời) th́ tổ chức cái gọi là "những hội nghị để nhận định, phê
phán về nội dung và việc phổ biến hai bài Phát biểu". Cách thức tổ
chức những buổi hội nghị này (phần lớn cho giáo dân) cũng đầy dẫy
những tṛ ma giáo, cưỡng ép: như sáng mai họp tối nay mời, chỉ cho
những ai "tiến bộ" được góp ư, và trưa cho ăn thật ngon để chiều
đồng thuận đông đảo (thời ấy cuộc sống rất kham khổ!). Nhiều giáo
dân đă can đảm nói lên sự thật và dĩ nhiên sau đó gặp lắm khó khăn.
Một số tỏ ra khiếp hăi, phát biểu theo ư nhà nước, kết án chủ chăn,
nhưng sau đó đă t́m gặp ngài để tạ tội. Phần Đức TGM th́ đă đáp trả
bằng một Thư giải thích rất hùng hồn và thẳng thắn (đề ngày
27-10-1977). Nhờ lá thư này, cũng như nhờ việc Việt Nam vừa nộp đơn
xin gia nhập Liên Hiệp Quốc, nên chiều 24-12-77, hai cha Hồ Văn Quư
và Nguyễn Văn Lư được thả tù, mặc dầu trước đó, các ṭa án nhân dân
do CS dàn dựng đă kết án nhị vị mỗi người 20 năm tù giam! Tuy nhiên,
CS buộc Đức TGM Huế không được giữ hai cha tại nhiệm sở cũ mà phải
bổ nhiệm đi hai giáo xứ nhỏ vùng quê. Đầu tháng 7-1978, cha Quư đi
Bố Liêu, Quảng Trị, c̣n cha Lư đi Đốc Sơ, gần Tp Huế. Bản thân Đức
Cha, sau ba đợt phong chức linh mục (2 vị năm 1975, 4 vị năm 1976, 1
vị năm 1978) th́ từ đó đến khi qua đời, chẳng c̣n được "phép" phong
chức linh mục cho ai nữa.
Đang khi ấy, ngoài xă hội, giáo dân nhiều phen khốn đốn v́ chính
sách "lao động thủy lợi" (7 ngày một tuần) và "điều ḥa dân số"
(cưỡng ép phá thai hay triệt sản). Nhiều người đă chứng tỏ đức tin
bất khuất của ḿnh đồng thời vẫn chu toàn bổn phận công dân, điển
h́nh như vụ thôn Trí Bưu, xă Hải Trí, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng
Trị, dịp Chúa nhật Phục sinh 10-04-1977. Lúc đó, xă Hải Trí phải làm
thủy lợi chính trong thị xă. Mỗi thôn được chia phần của ḿnh và sẽ
phát động lao tác vào sáng sớm Chúa nhật. Ngày thứ 7, thôn Trí Bưu
(hầu hết công giáo, dưới quyền cha quản xứ Tôma Lê Văn Cầu
1975-1985) đă đệ đơn xin xă xét lại cho đồng bào có đạo cử hành nghi
lễ đă, sau đó sẽ đi làm, nếu không kịp th́ xin làm đêm. Nhưng xă
không cho, buộc phải tuân lệnh. Có người nêu trường hợp hôm Giáng
sinh 1976, thôn Trí Bưu cũng đă bỏ làm thủy lợi v́ phải đi lễ để đề
nghị xă xét lại. Nhưng xă vẫn nhất định ra oai giữ lập trường. Thế
rồi vận dụng quyền nhân dân làm chủ, thôn Trí Bưu không đi làm sớm
đúng giờ phát động sáng hôm đó, mà đi lễ hết. Nhưng sau lễ, họ huy
động toàn thôn ra làm thủy lợi, th́ thay v́ 5 ngày, họ làm trong 2
ngày rưỡi là xong. Nhiều giáo dân ở Thừa Thiên Huế đi lao động nghĩa
vụ tại công trường thủy lợi Nam Sông Hương cùng thời gian đó cũng
nhất quyết nghỉ ngày Chúa nhật. Cán bộ công trường dọa dẫm cũng bằng
thừa.
Tại giáo xứ Ngô Xá, giáo hạt Quảng Trị, có một giáo dân kiên cường
bênh vực luân lư Giáo Hội. Nguyên là huynh trưởng Hướng đạo, bị bắt
ra Bắc tết Mậu Thân, sau 75 được thả về, anh rất có uy tín với dân
(giáo xứ này lúc ấy không có linh mục). Anh phản đối chuyện ép giáo
dân đặt ṿng xoắn hay triệt sản và kéo lôi được mọi người theo ḿnh.
Bị nhà nước kết tội gây rối, cắt phần ruộng, dọa bỏ tù, anh vẫn lập
trường kiên định. Về sau, sống không nổi với cán bộ địa phương, anh
đành phải đem gia đ́nh vào Nam. Tại thành phố Huế, có một nhóm 5 cô
y tá công giáo đang hành nghề trong bệnh viện Trung ương Huế. Họ rất
giỏi giang và nhiệt t́nh. Bất thần cả 5 cô bị giao nhiệm vụ đặt ṿng
xoắn và giúp phá thai. Thế là họ cương quyết phản đối, xin đổi việc
khác, không th́ bỏ nghề. Cuối cùng, lănh đạo bệnh viện đành phải
chấp thuận.
Phần Đại chủng viện Huế, tuy chưa được Nhà nước chính thức "cho
phép" mở lại, vẫn quy tụ 45 chủng sinh gốc Huế, vốn đă học ở đây từ
trước 1975. Từ đó đến đầu năm 1978, các chủng sinh lần lượt bị công
an gọi đi "làm việc" (thẩm vấn), để ḍ hỏi t́nh h́nh ĐCV và ḍ xét
tư tưởng lập trường từng người. Lần làm việc nào cũng có biên bản,
với lời buộc cam kết "khai rơ mọi sự thật và chấp hành mọi luật
pháp", và lời dặn "về không được tiết lộ cho ai, v́ là bí mật quốc
gia"!?! Theo nhắc nhở của Bề trên, chủng sinh nào cũng viết cuối
biên bản: "Tôi xin khai đúng những ǵ lương tâm ḿnh cho phép và
chấp hành mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước trong
những điều không nghịch với đức tin của tôi!" Công an đập bàn túm cổ
áo nhưng cũng đành chịu. Và vừa về đến nhà là kể tất tần tật cho Bề
trên! Đầu năm 1978, chính quyền CS tỉnh Thừa Thiên muốn dựa vào nghị
quyết 297/CP (một văn bản về tôn giáo lúc ấy) để loại bỏ một số đại
chủng sinh khỏi Đại chủng viện mà họ cho là "có sạn trong đầu", "vô
phương cải tạo". Họ liền thông báo cho hai Đức TGM ư định này và mời
hai vị tới làm việc, để cùng nhà nước xem xét chủng sinh nào có bản
thân hoặc gia đ́nh "không tốt" mà loại trừ khỏi ĐCV. V́ không chấp
nhận nguyên tắc "giáo quyền và chính quyền cùng xét duyệt tư cách
chủng sinh", hai vị chủ chăn đă nhất quyết không đi bàn bạc. Thấy
thế, CS đă đơn phương hành động, ngang nhiên trục xuất 2/5 số chủng
sinh (tức 18/45) vào tháng 5/1978. Số bị trục xuất này phần nhiều là
lớp lớn, đă đào tạo xong hoặc gần xong, có đầu óc "bướng bỉnh". Sau
đó CS c̣n lếu láo bắn tiếng: nếu như hai giám mục cùng bàn thảo với
chính quyền th́ con số bị loại đă ít hơn. Khi ấy các chủng sinh, tuy
bị Nhà nước trục xuất cách thô bạo độc đoán, vẫn an tâm vui ḷng v́
chủ chăn của ḿnh đă can đảm đấu tranh bảo vệ quyền độc lập và quyền
tự điều hành của Giáo hội, không chủ trương đối thoại theo kiểu mặc
cả đổi chác nguyên tắc của Giáo hội với những quyền lợi trần thế do
cộng sản ban cho.
Tiểu chủng viện Hoan Thiện, ngay đầu tháng 5-1975, đă sinh hoạt lại
b́nh thường sau gần 2 tháng tạm nghỉ v́ chính biến (với 3 linh mục
điều hành và 114 tiểu chủng sinh). Đây là một cơ cấu mà chính sách
tôn giáo CS không muốn có, một cơ sở mà chính quyền CS thèm chiếm
đoạt. Ngoài ra, thành phần lănh đạo ở đây cũng là một cái gai mà nhà
nước muốn nhổ đi và thành phần chủng sinh (đang theo học tại trường
Quốc Học và gây được nhiều ảnh hưởng tốt) cũng là một ung nhọt mà
nhà nước muốn cắt bỏ. Ư đồ này ngày càng rơ nét qua nhiều sự kiện.
Từ việc áp lực mượn nhà, mưu chụp mũ "ổ phản động", đến việc thương
thảo chia đôi Tiểu chủng viện. Nhưng mọi toan tính phá hoại đều đụng
phải thái độ phản kháng cương quyết của Đức TGM và ban điều hành,
đặc biệt là cha giám đốc Nguyễn Hữu Giải. Cuối cùng, Nhà nước phải
sử dụng luật rừng qua văn thư số 2342 QĐ/UB tháng 12-1979 để cưỡng
chiếm, đuổi 114 chủng sinh về gia đ́nh, xóa sổ sự hiện hữu của một
cơ chế có từ 239 năm trên 3 tỉnh thuộc Giáo phận Huế (1740-1979)!
Văn thư đó lấy cớ TCV trước đây là một trường trung học, thành thử
phải giao cho Nhà nước quản lư!?! Phần cha Giám đốc, do thái độ
"cứng đầu, phản động" trong nhiều chuyện nhưng chủ yếu là trong vụ
TCV (nhất quyết không kư giấy trao nhà), sẽ được nhà nước Cộng sản
"tặng" cho gần năm năm rưỡi tù lao (11-1983 đến 2-1989). Và dịp
Giáng sinh năm 1979, Đức Cha đă truyền lệnh cho mọi nhà thờ trong
Giáo phận không được trang hoàng bên ngoài, hầu tỏ dấu phản đối
chính quyền đàn áp và để tang cho TCV.
Tưởng cũng nên nói thêm về tấm gương tranh đấu của con cái cha Giải.
Các tiểu chủng sinh lúc ấy (c̣n lại lớp 10,11,12) phải đi học trường
Nhà nước (Quốc Học). Các chú bị làm khó dễ đủ điều, mặc dầu bao giờ
cũng tỏ ra là những học sinh gương mẫu. Lần nọ, một nhà báo đến
trường và đặt cho mọi học sinh một câu hỏi (trả lời trên giấy): "Em
yêu sách nào và ghét sách nào nhất?". Các chủng sinh nhất loạt trả
lời: "Yêu sách Thánh Kinh và ghét sách Băo Biển, Đất Mặn" (là hai
sách chống đạo của Nhà Nước, tác giả Chu Văn). Bị ông hiệu trưởng
hăm dọa, các tiểu chủng sinh về tŕnh lại với Lm Giám đốc. Cha Giải
liền thân hành ra tận trường Quốc Học, cho ông hiệu trưởng một bài
học nên thân về thái độ kỳ thị tôn giáo của ông.
Lúc bấy giờ, nhà nước rất ghét chuyện giáo hữu hành hương kính Đức
Mẹ La Vang (đặc biệt ngày 15-8 mỗi năm). Họ ngăn chận xe khách dọc
đường, đuổi tất cả những ai đi La Vang xuống, nên việc hành hương
kính Đức Mẹ rất khó khăn. Dịp 15-08-1981, cha Nguyễn Văn Lư hướng
dẫn giáo dân Đốc Sơ của ngài hành hương La Vang th́ bị chận lại tại
bến xe Mỹ Chánh (cách La Vang 20km về phía nam) cùng với một số nữ
tu Mến Thánh Giá. Nhờ sáng kiến kêu gọi mọi người quỳ xuống tại chỗ
(chỗ này gần chợ Mỹ Chánh) hướng về La Vang nguyện kinh mà cha đă có
thể khai thông tuyến đường. Vụ việc này được lặp lại thêm 3 lần nữa
trước khi đến La Vang. Một h́nh thức tranh đấu bất bạo động! Một
tháng sau, CS bắt giữ rồi kết án 5 chủng sinh giáo xứ Phủ Cam (bị
trục xuất năm 1978 và 1979) từ 2 đến 4 năm tù (tổng cộng 13 năm
rưỡi) và đuổi 5 chủng sinh khác (cũng gốc Phủ Cam, c̣n ở ĐCV) về nhà
v́ "tội" diễn lại vụ việc Mỹ Chánh trong một vở kịch vui dài 10 phút
mang tên "Dâng con cho Mẹ". Chính quyền gán cho nhóm chủng sinh tội
danh "tuyên truyền phản cách mạng". Vụ việc này cũng là một trong
những cớ kết án cha Lư về sau.
Một linh mục cũng phải khổ nhiều v́ Mẹ La Vang là cha Emmanuen
Nguyễn Vinh Gioang. Vốn là quản xứ Diên Sanh, ngài trông coi thêm
Linh địa từ năm 1975 đến 1996. V́ nghi kỵ đối với pháo đài của niềm
tin này và đối với các cuộc biểu dương đức tin hàng năm hoặc mỗi ba
năm (đại hội), CS t́m cách làm cho La Vang khó đến và ở măi trong
cảnh hoang tàn từ cuộc chiến năm 1972. Bất chấp hăm dọa, phá phách,
làm khó dễ, bắt đăng kư, cha Gioang luôn luôn cố gắng tổ chức các
cuộc hành hương và đại hội, sửa sang và xây thêm một vài cơ sở nhỏ
(pḥng ở, giếng nước, nhà vệ sinh, hàng rào bảo vệ...). Ngài chỉ
thông báo chứ không xin phép tổ chức đại hội hành hương, v́ đó là
sinh hoạt định kỳ... từ 1901! Xây dựng cơ sở dù có xin phép cũng
không cho, nên bao giờ cha cũng chuẩn bị sẵn nhân công vật liệu và
chỉ nội một đêm là hoàn tất. Sáng hôm sau chính quyền tới buộc đ́nh
chỉ th́ sự đă rồi!!! Đúng là chiến sĩ mưu trí và dũng cảm của Mẹ!
Chính quyền CS lúc ấy cũng không muốn cho thiếu nhi Công giáo đi học
giáo lư ngày Chúa nhật tại nhà thờ nên đă gây khó khăn bằng cách
buộc đăng kư tên tuổi những ai dạy và những ai học (từng lần một).
Mọi linh mục giáo phận đều bất tuân lệnh này. Riêng cha Lư ngoài
việc dạy giáo lư không đăng kư, c̣n bắt loa trên tháp nhà thờ, mở
cho giáo dân toàn xứ nghe các đài phát thanh công giáo Vatican và
Manila. Do đó, cuối năm 1982, CS ra lệnh cho cha phải trở về chung
sống với mẹ ở Quảng Biên, Đồng Nai (Quyết định 79/UBND BTT). Cha ghi
vào Quyết định: "Không thể chấp hành!" Bởi vậy, từ đầu tháng 01 đến
ngày 18-5-1983, giáo dân Đốc Sơ ngày đêm phải túc trực trong nhà xứ,
không cho công an bắt chủ chăn. Trong thời gian này, cha Lư gửi
nhiều văn thư đi các nơi tố cáo CS đă vi phạm quyền tự do tôn giáo
của người dân, trong đó có Lời Tuyên bố 7 điểm, đặc biệt yêu cầu CS
phải tôn trọng quyền tự do đi hành hương La Vang của mọi người dân
bất phân tín ngưỡng và quyền bổ nhiệm, thuyên chuyển linh mục của
Đức TGM Huế... Cha c̣n dùng loa phóng thanh, đọc lớn tiếng
Tuyên bố 7 điểm nầy cho dân trong vùng cùng nghe. CS bèn áp lực lên
Đức TGM Nguyễn Kim Điền, buộc ngài ra lệnh cho cha Lư chấp hành
Quyết định (bất cần xét xử trước) của họ. Đức TGM đă trả lời rằng:
"Linh mục Lư có đủ quyền và ư thức chấp hành luật pháp Nhà Nước theo
tự do của Lm ấy. Nếu Lm Lư sai phạm thế nào th́ Nhà Nước cứ căn cứ
trên pháp luật chính đáng mà thi hành. C̣n tôi, làm sao tôi lại tự
chặt tay chặt chân tôi được" . CS hết sức hậm hực và chuẩn bị trả
thù!
Lúc 6 giờ ngày 18-5-1983, một lực lượng công an hùng hậu đă xông
vào nhà xứ Đốc Sơ bắt cha Lư đem đi biệt giam. Ngày 13-12-1983, CS
mở phiên ṭa xét xử cha. Họ đă âm mưu đưa ra nhiều chứng nhân giả để
tố cáo cha chuyện nầy chuyện nọ ḥng buộc tội. Nhưng cha Lư vẫn hiên
ngang lên án những âm mưu bất chính của đảng và nhà nước Cộng Sản
nhằm tiêu diệt tôn giáo. Ṭa tuyên án 10 năm tù và 4 năm quản chế.
Cha Lư đă trải qua các trại tù Thanh Cẩm (Thanh Hóa) và Ba Sao (Nam
Hà).
Không những đương đầu với CS, Đức TGM c̣n đương đầu với tay sai của
nó. Ngày 19-10-1983, Đức Cha gởi cho Lm Nguyễn Thế Vịnh (theo Việt
Minh từ 1945), nguyên chủ tịch Ủy ban Liên lạc Công giáo Yêu nước,
một bức thư nói lên lập trường phải "hiệp nhất" với Ṭa thánh và
cảnh giác về âm mưu của CS muốn lập một Giáo hội ly khai. Ngài phản
đối các hoạt động của Ủy ban đă xâm phạm khống chế quyền của các
Giám mục như tuyển chọn, phong chức và thuyên chuyển linh mục thuộc
phạm vi từng giáo phận. Dịp này, ngài cũng tuyên bố: "Bất cứ linh
mục, tu sĩ hay giáo dân Huế nào tham gia Ủy ban phá đạo này đều bị
phạt vạ". Và thực tế, ngài đă cất chức của linh mục tổng đại diện
đương thời v́ vị này đă tự ư đi Hà Nội tham dự buổi họp của UBĐKCG.
Ngày 23-11-1983, ngài treo chén một linh mục khác v́ đă nhiều năm
hoạt động cho CS. Măi đến 26-1-87, vị này mới được tha.
Trong thời gian đó, Đức TGM Phó Têphanô Nguyễn Như Thể bị công an
mời đi "làm việc" (từ tháng 10-1983 đến tháng 3-1984; trong các nội
dung làm việc có Tu hội Hy Vọng). Nhiều linh mục và giáo dân thuộc
Tu hội này lúc ấy cũng cùng chung số phận.
Đây là một Tu hội bị Nhà nước nghi ngờ và thù ghét v́ hai lư do: một
là đă do chính Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sáng lập lúc c̣n là Giám
mục Nha Trang (vào năm 1972, tuy sau 1975 đă sáp nhập vào Tu hội
Thánh Tâm Chúa Giêsu quốc tế), thứ hai: đây là một tu hội đời, không
tu phục, không tu sở, hoạt động âm thầm giữa xă hội, nhà nước chẳng
tài nào kiểm soát nổi. Cha Nguyễn Hữu Giải, lúc đó là quản xứ Lương
Văn và bề trên Tu hội, có lẽ là vị linh mục phải "làm việc" nhiều
nhất trong toàn Giáo phận, xét theo số lần bị mời và số ngày bị thẩm
vấn. Từ tháng 11-1983, hằng ngày cha phải sáng đi chiều về tới đồn
công an huyện Hương Phú (bây giờ là huyện Hương Thủy) và đến ngày
19-3-1984 th́ bị bắt luôn. Tại trại giam từ tháng 3/1984 đến tháng
6/1986, ngài bị lấy khẩu cung liên tục ngày 2 buổi sáng chiều, chỉ
nghỉ được Chúa nhật và ngày Tết! Nếu tính từ ngày bắt đầu bị mời
"làm việc", làm việc liên tục, cho đến khi "rời khám" th́ cha đă nếm
5 năm rưỡi lao tù CS. Cha Tống Thanh Trọng, quản xứ Linh Thủy, th́
mỗi ngày phải vượt qua phá Tam Giang, rồi đạp xe đạp tới trụ sở
huyện ở Cây số 17, làm việc liên tiếp trong 21 ngày về Tu hội Hy
Vọng. Thế nhưng dù dùng đủ tṛ lường gạt và dọa dẫm, công an cũng
chẳng khuất phục được các vị hay khai thác được điều ǵ!
Ngày 23-11-1983 (tức trong thời gian ĐC Thể đi "làm việc"), như một
tin sét đánh, Ṭa Thánh gởi điện báo tin ngài xin từ chức. ĐC Điền
từ nay một ḿnh lèo lái con thuyền giáo phận.
Ngày 11-4-1984, Đức Cha gởi thư cho ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch
Quốc hội CS, phản đối việc Ṭa án B́nh Trị Thiên đă vi phạm điều 70
và 71 của Hiến Pháp CSVN trong phiên ṭa xử cha Lư ngày 13-12-1983.
Đó là đă quy cho 2 TGM tội bao che, xúi giục cha Lư chống lại quyết
định 79 của UBND, đă xách mé gọi 2 ngài là "đầu rắn cần phải đập"
đang khi hai ngài không hề được triệu tập đến phiên ṭa để được nghe
thấy bằng chứng, được đối chất với bị can, được phát biểu trước quan
ṭa. Đúng là kiểu ṭa án luật rừng CS!
Trước đó vài hôm, 5-4-84, Đức TGM bị công an B́nh Trị Thiên "mời" đi
"làm việc" suốt 120 ngày, cho đến 15-10-84, chủ yếu về "Ủy ban Đoàn
kết Công giáo Yêu nước"; đồng thời nhà nước hạ lệnh quản chế, cấm
ngài ra khỏi chu vi thành phố Huế. Mỗi khi đi làm việc về, ngài đều
"họp báo", nghĩa kể hết tần tật mọi chuyện cho các linh mục có mặt
tại Nhà Chung, đang khi công an th́ căn dặn đây là "bí mật quốc gia"
không được tiết lộ!? Nhờ thế mà ngài giải tỏa tâm trí, thoát căng
thẳng, được sự góp ư của anh em. Phần các linh mục th́ cũng học hỏi
nhiều kinh nghiệm và thêm hiệp nhất gắn bó với chủ chăn của ḿnh.
Trong buổi thẩm vấn cuối cùng, ngài đă bị dồn vào mấy câu hỏi tổng
kết thái độ của ḿnh đối với UBĐKCG. Đáp lại câu hỏi "Căn cứ vào đâu
mà chống đối tổ chức UBĐKCG?", ngài đáp: "Căn cứ vào Tuyên cáo của
Thánh bộ Giáo sĩ ngày 8-3-1982" (cấm Giáo sĩ không được thành lập và
tham gia các hiệp hội có tính cách nghiệp đoàn chính trị) - "Tuyên
cáo của Thánh bộ Giáo sĩ, và kể cả Giáo Luật mới cũng chưa được nhà
nước kiểm duyệt, huống chi là đi ngược với chính sách nhà nước, nên
đem thi hành là vi phạm..." - "Tôi phải tuân giữ luật Giáo Hội tôi,
nên tôi không thể làm cách khác" - "UBĐKCGYN được luật pháp cho phép
và bảo trợ... nếu chống là chống lại pháp luật và chính sách của nhà
nước" - "Tôi xác định khi luật pháp thế trần nghịch với luật Thiên
Chúa và Hội Thánh, th́ cũng như các Thánh Tông Đồ xưa và các Thánh
Tử Đạo của mọi thế hệ: Tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời
người ta" (x. Thư gởi Giáo phận Huế ngày 17 tháng 10 năm 1984).
V́ Đức TGM không c̣n có thể đi thăm viếng và ban bí tích cho các
cộng đoàn, các giáo xứ, nên giáo dân kéo nhau đến Ṭa Giám mục chịu
phép Thêm sức, dù bị công an hăm dọa. Trong thời gian quản chế tại
gia này, Mặt trận Tổ quốc lại chơi đểu mời 6 cha Hạt trưởng đi du
lịch Hà Nội (1985). Các vị đă trả lời đại ư: Chúng tôi được biết Đức
Tổng Giám mục năm nay cũng như nhiều năm qua đă không được phép tham
dự cuộc họp thường niên của Hội đồng Giám mục VN. Đó là sinh hoạt hệ
trọng bậc nhất của Giáo Hội Việt Nam, thế mà chúng tôi lại đi tham
quan giải trí đó đây: thật là chuyện mâu thuẫn và vô lư. V́ vậy
chúng tôi xin kiếu! Đạo diễn chính của vụ "chối từ" này là cha Hồ
Văn Quư, quản xứ Bố Liêu kiêm phó bề trên tu hội Hy Vọng. Cộng tác
tích cực với ngài có cha Nguyễn Văn Hoàng, lúc ấy làm quản xứ Phú
Hậu (Đại Phong). Cha Hoàng cũng là người duy nhất giữ được ruộng đất
của Nhà Chung tại Băi Dâu (4 mẫu). Bị đưa ra ṭa về chuyện không
giao nộp ruộng này, ngài đă căi bay thắng lư nhờ trước năm 75 có
theo học luật khoa (đang khi mọi ruộng Nhà Chung khắp Thừa Thiên
Quảng Trị hàng trăm mẫu đều bị sung công). Ngài cũng giữ được một
máy quay ronéo để làm việc, đang khi mọi máy ronéo của tư nhân đều
bị cấm dùng, thậm chí máy ronéo của ĐCV dùng in giáo tŕnh và tài
liệu tôn giáo cũng bị CS ngang nhiên tịch thu.
Tại Quảng Trị lúc ấy, cha Tôma Lê Văn Cầu, quản xứ Trí Bưu (75-85),
cũng nổi tiếng là một người đấu tranh bênh vực giáo dân bị cán bộ
địa phương bóc lột và chèn ép (x. chuyện làm việc ngày Chúa nhật kể
trên). Tuy sống bằng nghề nông, giáo dân Trí Bưu luôn đói khổ v́ sưu
cao thuế nặng. Đầu năm 82, cha Cầu đành phải vào giáo xứ Quảng Thuận
(thuộc tỉnh Ninh Thuận, nơi có đông đồng hương Trí Bưu) xin khoai
sắn lúa gạo ra giúp dân. Để trả thù ngài, chính quyền B́nh Trị Thiên
đă mật báo với chính quyền Ninh Thuận bắt giam ngài mấy tháng trời,
lấy cớ làm việc cứu trợ không xin phép! Ra lại Trí Bưu, ngài c̣n bị
quản chế 3 năm nữa!
Chung số phận với cha Cầu trong thời gian này nhưng tại Huế là hai
nữ tu ḍng Mến Thánh Giá. Đó là chị Trương Thị Nông bị bắt ngày
3-8-1985 trên đường đi Sài g̣n và chị Trương Thị Lư bị bắt ngày
17-10-1985 đang khi làm Tổng phụ trách ḍng MTG. Cả hai dính vào cái
gọi là "Vụ gián điệp tầy đ́nh Trương Thị Lư với tài liệu quả tang
phạm pháp"! Vụ này được CS đem phổ biến, học tập, b́nh luận với
nhiều giải thích mập mờ, phóng đại, tại các phường trong thành phố,
nơi một số các cơ quan trường học và tại một số xă huyện trong tỉnh.
Tiếp đến, cha Trần Văn Quư, thư kư ṭa TGM, bị gọi đi "làm việc" từ
23-11 tới 23-12-1985. Đến tháng thứ 9 sau vụï bắt giữ, vào ngày 26
và 27-6-1986, cha Tổng Đại diện Lê Văn Mẫn và một ít Linh mục coi
sóc các giáo xứ lớn ở thành phố Huế được gọi đến sở công an BTT để
được nghe và được đọc một phần các tài liệu liên quan đến vụ án,
đồng thời bị áp lực phải nói lên ư nghĩ, phán đoán của ḿnh về các
tài liệu đó. Thực chất đây chỉ là việc chị Lư, với tư cách Bề trên
Tu hội, đă sai một người thuộc quyền đi Sài g̣n đưa thư của Tu hội
cho các chị em kèm theo một số thư riêng và văn bản của Ṭa Giám Mục
Huế.
Trước t́nh thế của bản thân cũng như của Giáo phận, ngày 19-10-1985,
hai hôm sau khi chị Lư bị bắt, Đức TGM đă gởi cho toàn thể đoàn
chiên một bức thư, trong đó ngài nhắc lại lời phát biểu thời danh
của ḿnh tại tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 19-10-1971: "Đă
có những Giám mục chịu chết v́ bênh vực quyền lợi của Hội Thánh.
Nhưng ngày nay có Giám mục nào dám chịu chết để bênh vực quyền lợi
của con người không?". Và ngài thêm như nói tiên tri: "Hạnh phúc
thay! hôm nay chính tôi được Chúa gọi để chịu tù ngục, chịu chết v́
bênh vực nhân quyền, chân lư và công b́nh". Kết thúc lá thư, ngài
cảnh báo: "Khi tôi bị bắt rồi, th́ xin Anh Chị Em đừng ai tin lời
khai nào, dù có kèm chữ kư mà người ta kể là của chính tôi".
Ngày 8-11-1985, cảm thấy cái chết có thể đến với ḿnh bất cứ lúc nào
nên Đức TGM đă viết di chúc ngắn, trong đó ngài đặc biệt nhắn nhủ
các Linh mục Giáo phận "hăy can đảm tỏ ra trung thành với Hội Thánh
trong mọi hoàn cảnh, sống đoàn kết trong linh mục đoàn và sống trọn
vẹn bổn phận chủ chăn nhân hiền".
Ngày 03-07-1986, Đức TGM đă gởi cho Chủ tịch UBND và Viện trưởng
viện Kiểm sát Nhân dân B́nh Trị Thiên một lá thư với lời lẽ hùng hồn
khẳng khái nhắc lại vụ "gián điệp Trương Thị Lư". Trong thư đó, ngài
khẳng định rằng với tư cách một người con của Hội Thánh Công giáo,
ngài có quyền gởi cho Mẹ Hội Thánh những tin tức của ḿnh, của các
anh em ḿnh gần xa; với tư cách Giám mục, ngài có nhiệm vụ phải cho
Đức Thánh Cha biết về t́nh h́nh tôn giáo trong Giáo phận và Giáo
tỉnh ngài phụ trách. Ngài cũng gián tiếp tố cáo rằng chính quyền đă
vi phạm các điều 67-71 của Hiến pháp về các quyền công dân cũng như
vi phạm điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Kết luận, ngài nói: "Nếu việc đưa tin này đem đến hậu quả bị
qui-trách-pháp-lư do Chính quyền, do Ṭa án Nhân dân nước Cộng ḥa
XHCNVN của tôi, th́ tôi xin được coi đây là một bắt bớ tôn giáo, một
vi phạm nhân quyền, và tôi rất lấy làm vinh dự nhận lănh tất cả các
biện pháp xử lư v́ tôn giáo, v́ nhân quyền".
Để trả thù, chính quyền đày cha thư kư Trần Văn Quư về giáo xứ Nam
Phổ để quản chế ba năm (từ 7-11-86). Cha Hồ Văn Quư, quản xứ Bố Liêu
kiêm cố vấn cho Đức TGM, cũng bị quản chế tại nhiệm sở 3 năm kể từ
10-11-86. Ngày 11-4-1987, hai chị Lư và Nông được ra tù.
Ngày 25-3-1988, Đức TGM viết một bức thư gởi cho ông Nguyễn Văn
Linh, sau khi ông được bầu làm Tổng Bí Thư đảng CSVN và tuyên bố
chính sách "đổi mới"... Nội dung bức thư đ̣i xóa bỏ lệnh quản chế
ngài, phục hồi quyền công dân cho ngài, để ngài tự do đi lại hầu thi
hành nhiệm vụ Tổng Giám Mục đối với giáo dân và thăm viếng các Giáo
phận khác thuộc Tổng Giáo phận Huế.
Ngày 14-5-88, Đức TGM xin vào Sài g̣n điều trị tại bệnh viện Nguyễn
Trăi, sao cho tạm ổn định để có thể đi Rôma hầu chữa tiếp và báo cáo
về Đức TGM Phó mà Ngài định đặt, về Đức GM Phụ tá Giacôbê Lê Văn Mẫn
mà Ngài đă "bí mật" tấn phong, về Giáo phận Huế và về Giáo Hội VN.
Sau đó, ngài xin chuyển qua bệnh viện Chợ Rẫy. Tại đây, ngài đă qua
đời trưa ngày 8-6-1988 sau những cơn đau khủng khiếp và sự thoái
biến nhanh chóng quái dị của nhiều bộ phận bên trong lẫn bên ngoài,
dấu hiệu của một vụ đầu độc. Câu nói cuối cùng của ngài trên đời là
với cô y tá cho ngài uống thuốc độc: "Không những tôi tha lỗi cho cô
mà thôi, tôi c̣n tha thứ cho cả cấp trên sai cô làm, tôi tha thứ
hết!" và với nữ tu cô em ruột săn sóc: "Chén đắng Chúa trao anh đă
uống xong. Xin trọn theo ư Chúa!". Về nhà Cha, ngài ở lại trong lịch
sử và trong ḷng người với 2 danh hiệu vinh quang: "Tổng giám mục
dũng cảm" (Đức Gioan-Phaolô 2 tặng) và "Kẻ thù của chế độ" (chính
quyền CS đặt), cũng như qua tinh thần bất diệt gọi là "tinh thần
Philipphê"!
***
II. 1988-1998: Giai
đoạn các vị Giám quản
Vài ngày sau khi Đức TGM Nguyễn Kim Điền được an táng (15-6-88 tại
nhà thờ chánh ṭa Phủ Cam), Ṭa thánh đă bổ nhiệm Đức Hồng Y Trịnh
Văn Căn, TGM Hà Nội, làm Giám quản Tông ṭa Tổng giáo phận Huế. Ngày
22-8, ngài vào thăm Huế lần đầu và cũng là lần cuối. Năm 1990, Đức
HY đột ngột qua đời tại Hà Nội. Trong thời gian này, ngày 3-2-89,
cha Giải ở tù về sau 5 năm rưỡi v́ tội không chịu kư nộp Tiểu chủng
viện và tội tổ chức điều hành Tu hội Hy Vọng. Trước đó, ngày
21-10-88, một đại chủng sinh bị giam trong vụ "Dâng con cho Mẹ" cũng
được tha tù sau 7 năm (4 tăng thành 7) và khi về th́ mọi người đều
biết là một linh mục được "phong chui" (trước khi đi tù) và thuộc Tu
hội HV: cha Phêrô Phan Văn Lợi. Lẽ ra phải trở lại nhiệm sở cũ là
Lương Văn th́ cha Giải bị nhà nước đày tới quản chế tại giáo xứ
Nguyệt Biều. Cha Lợi th́ bị chỉ định chỗ cư trú là nhà cha mẹ tại
giáo xứ chánh ṭa Phủ Cam.
Tại Nguyệt Biều, thấy chính sách phá thai tàn ác của chế độ quá
hoành hành, bắt đầu từ năm 1790, cha Giải đă có sáng kiến - có lẽ
đầu tiên tại Việt Nam - là cho người đi thu góp các bào thai bị phá
tại các bệnh viện công tư, đem về an táng trong một nghĩa địa lấy
tên "Lăng mộ các thánh Anh Hài" tại giáo xứ Ngọc Hồ, láng giềng của
Nguyệt Biều (chỉ cách một con sông là sông Hương). Cho đến nay, hàng
ngàn thai nhi đang mồ yên mả đẹp tại khu lăng mộ đó, một biểu tượng
cho sự tranh đấu v́ quyền sống và phẩm giá của con người!
Đức HY Hà Nội mất ngày 18-5-90 th́ ngày 20-5, cha Lê Văn Mẫn được
linh mục đoàn bầu làm Giám quản. Mười hôm sau, ngày 30-5-90, cha
Giám quản thông báo chức vụ của ḿnh cho chính quyền tỉnh biết. Với
thái độ xâm phạm nội bộ cách trịch thượng, CS không công nhận quyền
bính của ngài. Mặc! Một tháng sau, Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh
Nhật, chủ tịch Hội đồng GMVN biên thư cho ngài biết Ṭa thánh đă xác
nhận việc bầu ngài làm giám quản. Thấy cha Mẫn ung dung hành xử
quyền ḿnh, chính quyền t́m mọi cách ngăn cản. Cụ thể là khi cha
Giám quản và cha Quản lư Nhà chung (Trần Thắng Trung) đi gặp ban Tôn
giáo tỉnh ngày 29-2-1991 để xin tổ chức tĩnh tâm năm cho linh mục
đoàn th́ bị từ chối. Lần đi xin năm 1993 (ngày 4-3) cũng chịu cảnh
tương tự.
Cũng trong năm 1993 này, đang khi quản thúc cha Giải tại Nguyệt
Biều, nhà nước muốn thách thức quyền Giám quản nên buộc cha về lại
nhiệm sở cũ Lương Văn (theo Giấy ra trại: bắt đâu th́ thả về đó).
Cha Giải đ̣i chính quyền phải thông qua giáo quyền mà họ hiện chẳng
công nhận, bằng không th́ chỉ có nước đem xe mà "xúc" về Lương Văn.
Cha Giải cũng cho biết nếu bị đưa về Lương Văn th́ ngài sẽ ở trụ sở
xă chứ nhất định không ở nhà xứ và không làm lễ nhà thờ. Đại hội Đức
Mẹ La Vang năm này, cha Mẫn đă ung hành xử quyền "bất hợp pháp" của
ḿnh bằng cách dâng thánh lễ khai mạc và đồng tế bế mạc (15-8-93).
CS giận sôi lên!
Từ ngày 09-1 đến 11-1-94, các Đức Cha Nguyễn Quang Sách (Đà Nẵng),
Trần Thanh Chung và Phạm Văn Lộc (Kontum) đến Huế họp bàn về việc
xin mở ĐCV Huế. Ngày 11-1-94 các ngài đến gặp Ủy ban Nhân dân tỉnh
TT-H về việc này, nhưng được trả lời: đợi đến lúc có giám mục chính
thức đă. Đại chủng viện Huế sẽ chính thức mở lại ngày 21-9-1994.
Ngày 23-4-94: Đài Vatican công bố tin Ṭa thánh bổ nhiệm ĐC Thể làm
Giám quản Tông ṭa TGP Huế. Cha Giám quản Mẫn bàn giao chức vụ sau
những tháng ngày đấu tranh thầm lặng nhưng hết sức can đảm.
Bỗng nhiên, ngày 20-9-94, có một bức thư của các linh mục Huế với 38
chữ kư gởi lên Đức Cha Thể, nội dung như sau: "Kính lạy Đức Cha.
Hiện nay một số anh em linh mục giáo phận đă được mời tham gia Hội
đồng Nhân dân Tỉnh, Thành phố, Huyện. Theo chúng con nghĩ, cha
Nguyễn Kim Bính có khả năng được mời vào Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ
tiếp. Nếu đúng vậy, chúng con xin thưa: Chúng con không đồng ư cha
Nguyễn Kim Bính tham gia Hội đồng Nhân dân là cơ quan quyền lực của
Chính quyền, v́ ngài là Tổng đại diện, người thay mặt Đức cha và
người điều hành giáo phận khi Đức cha vắng mặt. Ngoài ra, theo Giáo
luật, chúng con xin thưa: chúng con cũng không đồng ư bất cứ linh
mục nào trong giáo phận tham gia "quyền bính dân sự" (Can. 285,3).
Chúng con xin trân trọng lạy chào Đức cha. Huế ngày 20-9-1994".
Sau khi đi họp Thượng hội đồng Giám mục về đời tu tại Rôma (10-94)
trở về, Đức TGM Giám quản nhận được một bức thư của các linh mục gốc
Huế đang làm mục vụ tại Sài g̣n (do cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan
chấp bút) và một bức thư của bốn linh mục cao tuổi nhất trong linh
mục đoàn Huế (đa phần là thầy dạy cũ của ĐC).
Cả hai đồng t́nh với lá thư của 38 linh mục nói trên, đồng thời tỏ ư
vui mừng v́ Đức Cha có được một hậu thuẫn lớn lao như vậy (khi ấy số
linh mục không kư chỉ vào khoảng 8-9 vị). Một thời gian sau, lại có
thư của cha niên trưởng Lê Văn Đẩu, thay mặt đa số linh mục gởi lên
Đức Cha. Nội dung như sau: "Trọng kính thưa Đức Cha. Ngày 20-9-1994,
gần ba phần tư anh em linh mục chúng con (không kể các linh mục Ḍng
và các tân linh mục) đă gởi thư -một số đông khác tuy không kư tên
nhưng cũng đồng t́nh- can ngăn linh mục Tổng đại diện P. Nguyễn Kim
Bính ứng cử vào Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ 1994-1999 v́ trái Giáo
luật k. 285,3 và đường lối Ṭa thánh hiện nay, nhưng Đức cha và linh
mục Tổng đại diện cả hai lần đều không nhận thư và không đếm xỉa ǵ
lời can ngăn ấy. Không những thế, linh mục Tổng đại diện c̣n cố t́nh
ứng cử một lúc cả hai Hội đồng Nhân dân với mạo danh là "Tổng đại
diện Tông ṭa" (linh mục ấy tự xưng) và lạm dụng quyền ép linh mục
khác cùng tham gia Hội đồng nhân dân như ḿnh. Vậy kể từ nay, hầu
hết linh mục Tổng giáo phận Huế chúng con xin được phép bất tín
nhiệm linh mục Nguyễn Kim Bính trong tư cách là Tổng đại diện Tổng
giáo phận Huế. Kính xin Đức Cha đích thân điều hành Tổng giáo phận
hoặc chọn một cha Tổng đại diện khác, hoặc chọn thêm một cha Tổng
đại diện đặc trách nội vụ nếu linh mục Nguyễn Kim Bính chưa thể từ
chức Tổng đại diện ngay được, để linh mục ấy yên tâm phục vụ trong
hai Hội đồng Nhân dân đă đắc cử. Ngoài ra chúng con cũng không tín
nhiệm linh mục Thư kư Văn pḥng Ṭa Tổng giám mục Huế hiện nay, v́
đă có quá nhiều sự việc tỏ ra có cách phán đoán lệch lạc và thiếu
trung thực. Trân trọng kính chào Đức Cha". Vị linh mục bị ép tham
gia HĐND tỉnh Quảng Trị (như nói trong thư trên, cha Trần Văn Tuyên,
quản xứ Đồng Hà Cam Lộ) sau đó đă gởi đơn cho chính quyền xin rút
khỏi danh sách. Nhưng v́ bị chính quyền tiếp tục giữ lại tên, cha
bèn viết một thư khác cho linh mục đoàn thông báo thái độ cố chấp
của nhà nước và lưu ư giáo dân Quảng Trị.
Sở dĩ linh mục đoàn Huế viết hai lá thư trên là v́ trước đó hai năm,
ngày 20-5-1992, Đức HY Angelo Sodano, Quốc vụ khanh Ṭa thánh đă gởi
cho Đức Cha Nguyễn Minh Nhật, chủ tịch HĐGMVN một bức thư (N.
4708/92/RS) trong đó yêu cầu cầu các linh mục không được tham gia
các cơ quan chính quyền và cả Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước.
Ngày 24-22-94, lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam, một quả bom thứ ba bùng
nổ, đó là "Tuyên ngôn 10 điểm về thực trạng Giáo hội Công giáo tại
Giáo phận Huế" của cha Nguyễn Văn Lư, vị linh mục đă được phóng
thích từ ngày 31-7-1992 và đang bị quản thúc tại Nhà Chung Huế. Mười
điểm cha nêu gồm có:
·
1-
Tiểu chủng viện Hoan Thiện bị nhà nước tịch thu.
·
2-
Quyền tấn phong và bổ nhiệm giám mục, linh mục của Giáo Hội bị nhà
nước xen vào.
·
3-
Đức nguyên Giám quản Lê Văn Mẫn không được nhà nước công nhận.
·
4-
Việc tuyển sinh các ḍng tu nam nữ đều phải làm chui.
·
5-
Giáo hữu các vùng kinh tế mới xa xôi bị nhà nước giới hạn tối đa
quyền sống đạo.
·
6-
Giáo Hội bị hạn chế trong việc giáo dục, y tế, truyền thông, giáo
dục.
·
7-
Chính quyền mưu đồ mời một số linh mục tu sĩ tham gia Hội đồng nhân
dân sau khi đă thất bại trong việc thành lập Ủy ban Đoàn kết Công
giáo Yêu nước.
·
8-
Có nhiều linh mục quốc doanh đang lũng đoạn Giáo Hội Công giáo VN.
·
9-
Giáo Hội Công giáo VN không có quyền tự do tôn giáo.
·
10- Tại sao tôi (linh mục NVL) luôn đ̣i hỏi tự do tôn giáo?"
V́
Tuyên ngôn này, cha Lư bị gọi ra công an thẩm vấn suốt một tháng
trời, nhưng ngài đă nhất quyết không thay đổi một chữ, một dấu trong
bản văn. Sau đó cha bị đưa đến Nguyệt Biều để tiếp tục quản chế, c̣n
cha Giải về lại Lương Văn, dĩ nhiên với "bài sai" đàng hoàng chính
thức của chính Đức TGM Giám quản.
Cho tới thời điểm này (1996), mới có 20 tân linh mục qua 5 đợt phong
chức, mà đợt thứ tư cách đợt thứ ba đến 18 năm (1976 - 1994), v́
chính quyền luôn t́m cách hạn chế nhân sự của Giáo phận. Tuy nhiên,
tinh thần bất khuất đẻ ra sáng kiến, nên Tu hội đời Thánh Tâm Chúa
Giêsu (với hai vị phụ trách là cha Hồ Văn Quư và cha Nguyễn Hữu
Giải) vẫn tổ chức được hai lễ tấn phong linh mục bí mật cho 6 đại
chủng sinh thành viên Tu hội đă bị nhà nước trục xuất khỏi hay không
cho nhập ĐCV. Một vào tháng 6 và một vào tháng 8-1997. Không may sau
đó sự việc bị "bật mí", nhưng CS chẳng c̣n dám dùng biện pháp giam
tù lâu năm như trước nữa. Không được nhà nước công nhận, nên các
linh mục "chui" này chẳng được làm quản xứ. Nhưng nhờ ở ngoài khuôn
khổ cơ cấu mà các vị hoạt động mục vụ theo kiểu "du kích" và không
phải là không hữu hiệu. Ngoại trừ 7 linh mục "chui bán phần" này
(tính thêm cha Lợi), th́ tính từ 1975 đến 2005, giáo phận Huế có
thêm 65 tân linh mục, đang khi số linh mục Huế được tấn phong từ
1945 đến 1975 là 172 !!!
***
III. 1998-2005: Giai đoạn Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể
Ngày 9-3-1998, Ṭa thánh bổ nhiệm Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể
chính thức cai quản giáo phận sau 10 năm "trống ṭa". Giáo phận Huế
tiếp tục chịu những sách nhiễu từ phía chính quyền, dù bây giờ đă có
Bản quyền chính thức. Thế nhưng, "tinh thần Philipphê" vẫn tiếp tục
sinh động mọi thành phần dân Chúa.
Ngày 22-5-2000, đan viện Biển Đức Thiên An bỗng gởi đến Ṭa TGM một
"Tờ tŕnh" cho hay UBND Huyện Hương Thủy thông báo cho đan viện biết
rằng ngày 24-12-1999, Thủ Tướng Chính Phủ đă ra Quyết định thu hồi
495.929 m2 đất, phần lớn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Đan viện
Thiên An suốt 60 năm qua, để cho Công ty Du lịch Cố Đô Huế thuê xây
dựng Trung tâm Vui chơi Giải trí đồi Thiên An-hồ Thủy Tiên! Đây là
chuyện sét đánh ngang tai đối với các đan sĩ, v́ số đất bị thu hồi
là 102 trên 107 ha đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của đan viện từ
năm 1940. Lập tức, có ba linh mục Huế viết một Thư hiệp thông với
Đan viện (lễ Thánh Biển Đức, 11-7-2000) để chia sẻ nỗi ḷng các đan
sĩ và phân tích những sai lầm tại hại về mặt đạo đức và môi sinh đối
với việc cướp và biến rừng thông Thiên An (do các đan sĩ gầy dựng)
thành khu vui chơi giải trí.
Ngày 12-9-2000, đan viện gởi Thư khiếu nại lên Thủ tướng chính phủ
cùng với toàn bộ hồ sơ về đất đai. Nhưng toàn bộ hồ sơ này bị trả
lui với lời hướng dẫn tŕnh đơn lên UBND tỉnh. Đan viện bèn chuyển
hồ sơ đến Thanh tra nhà nước (2-11). Thế nhưng, đơn khiếu nại chưa
được giải quyết mà Công ty du lịch đă tiến hành phóng đường, đo đất
và Lâm trường Tiền phong (cơ quan quản lư rừng thông) đă chia lô,
bán đất cho cán bộ. Các đan sĩ liền mạnh mẽ phản kháng chính quyền (Văn
thư ngày 19-3-2001 và 30-3-2001). Có 40 linh mục giáo phận Huế cũng
lên tiếng hiệp thông ngày 29-4-2001 với lời khẳng định: "1. Vùng đất
mà Công ty Du lịch Cố đô chiếm đoạt để khởi công xây dựng Trung tâm
Vui chơi Giải trí là vùng đất thuộc quyền tư hữu của Đan viện Thiên
An. 2. Đan viện Thiên An đă nhiều lần viết nhiều văn thư gởi đến
Chính quyền các cấp, trong tinh thần kiên nhẫn và tôn trọng luật
pháp. Nhưng hiện giờ Công ty Du lịch Cố đô vẫn được tiếp tục sử dụng
vùng đất của Đan viện Thiên An, như thế là Chính quyền xâm phạm
quyền tư hữu và làm sai luật pháp".
Vẫn vô ích! Đan viện liền gởi nhiều đơn khiếu nại khẩn cấp để phản
đối đoàn thanh tra Nhà nước (Văn thư 26-01-2002), rồi phản đối quyết
định của Tổng thanh tra nhà nước (Văn thư 29-6-2002), với giọng điệu
hết sức can đảm: "Đă đến lúc chúng tôi phải đứng ra kiên quyết bảo
vệ đến cùng: đất đai, tài sản và môi trường tịnh tu của Giáo hội
Công giáo thuộc Đan viện chúng tôi. Qua đơn khiếu nại khẩn cấp này,
chúng tôi xin khẳng định: nếu đoàn Thanh tra Nhà nước và UBND tỉnh
Thừa Thiên-Huế chưa giải quyết rạch ṛi vấn đề Đan viện chúng tôi
khiếu kiện mà ngang nhiên tiếp tục cho xây dựng khu vui chơi giải
trí trên đất của chúng tôi th́ chúng tôi kiên quyết bảo vệ tài sản
của chúng tôi theo đúng pháp luật" (Đơn khiếu nại khẩn cấp ngày
26-01-02). Ngày 01-7-2002, dưới sự hướng dẫn của đan viện phụ Huỳnh
Quang Sanh và phó bề trên Nguyễn Phước Bửu Đào, một đoàn đan sĩ 8
người đă lặn lội ra Hà Nội với mục đích gặp Thủ tướng Phan Văn Khải
để yêu cầu trả lại công lư cho đan
viện. Thế nhưng
không được gặp mặt cũng chẳng được giải quyết. CS giữ nguyên Quyết
định 577 của Tổng thanh tra, và như thế giữ nguyên quyết định 1230/QĐ-TTg
ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ. Từ 6-11-2002 cho đến
28-11-2003, đan viện gởi 5 kháng thư nữa cho bí thư tỉnh ủy và chủ
tịch UBND TT-Huế với lời khẳng định tuyệt vọng nhưng không kém phần
mạnh mẽ: "Từ trước đến nay, QĐ 577/QĐ-XKT của Tổng Thanh tra Nhà
nước, cũng như những việc làm của UBND tỉnh nhằm triển khai thực
hiện Quyết định trên, chưa bao giờ được chúng tôi thừa nhận v́ Quyết
định đó hoàn toàn dựa trên những cơ sở sai thực tế, phi đạo đức và
đi ngược lại đường lối chính sách và luật pháp Nhà nước CHXHCNVN....
Xin quí Ông đừng buộc chúng tôi phải có những hành động mà chúng tôi
không bao giờ muốn" (Kháng thư 28-11-2003).
Đang khi đan viện Thiên An đấu tranh với CS để đ̣i lại gia sản, th́
ḍng Chúa Cứu Thế Huế, từ tháng 2-2001, cũng gia tăng nỗ lực đ̣i lại
cơ sở nhà đất 1700m2 ở số 31 Nguyễn Huệ mà Ty y tế Thừa Thiên mượn
từ 1-8-1975 trong thời hạn một năm nhưng tới lúc đó vẫn không chịu
trả. Nhiều đơn khiếu nại của Ḍng đă nối tiếp nhau từ tháng
5 đến tháng 11-2001, kèm theo giấy xác nhận của Đức cố TGM Nguyễn
Kim Điền và Đức đương kim TGM Nguyễn Như Thể về việc Giáo hội chỉ
cho mượn chứ không bao giờ hiến tặng các cơ sở Công giáo trong Giáo
phận. Đùng một cái, ngày 23-1-2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên
Huế ra Quyết định số 219/QĐ-UB bác đơn khiếu nại đ̣i đất của ḍng,
lấy cớ rằng cơ sở 31 Nguyễn Huệ đă được Đức cố TGM hiến cho nhà nước
qua Công văn ngày 17-11-1975 rồi. Trước tṛ ngụy biện trâng tráo đó,
ḍng tiếp tục khiếu nại và khiếu nại tới tận trung ương, với
lời lẽ rất thẳng thắn và mạnh mẽ: "Chúng tôi nhận thấy rằng ông Phó
chủ tịch Nguyễn Xuân Lư (chú thích: nay là Chủ tịch) đă dùng quyền
lực của ḿnh để biến cái hợp pháp thành cái phi pháp…" (Đơn Khiếu
nại khẩn cấp số 2 ngày 15-3-2002). Một văn pḥng tư vấn pháp luật ở
Hà Nội, sau khi xem xét mọi hồ sơ, cũng cho rằng UBND tỉnh đă vi
phạm pháp luật (Thư tư vấn ngày 3-10-2002). Mặc! CS vẫn quyết tâm
cướp lấy mảnh đất mặt tiền nằm ở trung tâm thành phố với thời giá 51
tỷ rưỡi này (30 triệu/m2), nên ngày
04-6-2003, bộ Xây dựng, qua Quyết định số 797/QĐ-BXD, đă công nhận
Quyết định số 219/QĐ-UB của chính quyền tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 13-6-2003, cha Lê Viết Phục và cha Nguyễn Trần Tuấn bị chính
quyền tỉnh triệu đến trụ sở UBND tỉnh để nghe đọc Quyết định tịch
thu khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ. Cha Nguyễn Trần Tuấn đă đại diện phát
biểu, đại ư như sau: "Chính quyền dựa vào Công văn số 48 ngày
30-10-1975 và Công văn số 50 ngày 17-11-1975 của Ṭa TGM Huế để bảo
rằng Đức cố TGM Nguyễn Kim Điền đă hiến cơ sở 31 Nguyễn Huệ, đó là
lập luận vô lư. Hai công văn đó chỉ nói đến việc cho mượn chứ không
hề nói đến việc hiến tặng. Tôi đọc đỏ mắt cũng chẳng t́m thấy chữ "hiến
tặng" hay "chuyển quyền sở hữu" trong hai tài liệu này. Qua giấy xác
nhận ngày 24-4-1995, Đức đương kim TGM Nguyễn Như Thể cũng khẳng
định: 'Cố TGM Nguyễn Kim Điền không hiến một cơ sở giáo dục nào
trong Giáo phận Huế cho Chánh quyền Cách mạng tỉnh Thừa Thiên-Huế,
nhưng chỉ trao quyền sử dụng tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương
và mỗi cơ sở'. Nếu chính quyền nhất mực hiểu 'trao quyền sử dụng' là
'hiến dâng' để bảo rằng các cơ sở Giáo hội ghi trong hai công văn
đều là sở hữu nhà nước, đó là điều không thể chấp nhận được. Hơn nữa,
nói cho cùng kỳ lư, ḍng chúng tôi là ḍng giáo hoàng, trực thuộc bề
trên tối cao ở hải ngoại, không nằm dưới quyền tài phán của Bản
quyền địa phương. Đức cố TGM thành thử chẳng có quyền lấy tài sản
của chúng tôi để hiến tặng cho nhà nước và thực tế ngài đă chẳng hề
làm điều này, như chúng tôi đă có lần tŕnh bày trong Đơn Khiếu nại
khẩn cấp số 2 ngày 15-3-2002. Ngoài ra, nhà nước đă lờ đi sự việc
nhiều lần, nhiều cách, các lănh đạo tỉnh và chính quyền địa phương
đă hứa trả cơ sở 31 Nguyễn Huệ với điều kiện ḍng chúng tôi cho đổ
đất lấp hồ cá của ḍng với diện tích hơn 1.500m2 gần đó để xây chung
cư hầu chuyển các hộ trong khu nhà ra ở. Điều kiện đó, chúng tôi đă
thực hiện từ lâu. Thành thử, chúng tôi cực lực phản đối quyết định
phi lư và vô luật này. Ḍng Chúa Cứu Thế tại Huế và khắp cả Việt Nam
không bao giờ nhượng cơ sở 31 Nguyễn Huệ cho nhà nước và nhất định
không để cho ai cướp đoạt" (x. Đấu tranh tại Huế, bản tin ngày
24-6-2003).
Thế nhưng, lư kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Kẻ mạnh đó lại là một nhà
nước nắm mọi công quyền và lực lượng trong tay. Nên từ ngày
27-6-2003, xe ủi đất đă đến san bằng khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ để
nhà nước xây lên cái gọi là "Trung tâm Nha khoa Cộng đồng Thừa
Thiên-Huế". Một tṛ mỵ dân trâng tráo, che giấu một màn cướp đoạt
trắng trợn. Cho đến hôm nay, sau hơn 2 năm, công tŕnh này vẫn dở
dang dang dở!!!
Cũng xin nói thêm một thành tích phản kháng của Ḍng Chúa Cứu Thế
Huế và giáo xứ Mẹ Hằng Cứu Giúp (do quư cha cai quản). Đó là đầu
tháng 11-2001, ba cha Lê Viết Phục, Nguyễn Trần Tuấn và Hoàng Diệp
đă cùng hàng trăm thanh niên giáo xứ chiếm lại sân bóng đá của họ
đạo mà nhà nước cũng đă mượn từ 1975 nhưng vẫn ĺ lợm không trả, c̣n
định chia lô bán. Thành thử từ ngày 09 đến 11 tháng 12-2001, hai cha
Phục, Tuấn và một số giáo dân bị công an phường và thành triệu tập
để thẩm vấn về vụ việc nói trên. Công an hỏi các vị tại sao lại kéo
cả hàng trăm thanh niên, "gây rối loạn trật tự", đang khi chỉ cần
vài người là đủ (!?!); rồi tại sao xây thành bảo vệ sân bóng mà
không "xin phép" !?! Cuộc thẩm vấn này nhắm trấn áp tinh thần các
linh mục lẫn giáo dân họ đạo Mẹ Hằng Cứu Giúp hầu ngăn ngừa trước
việc chiếm lại khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ như nói trên. Tuy nhiên cả
cha lẫn con đều chẳng nao núng sợ hăi!
Đang khi đó, từ trung tuần tháng 11-2000, cha Nguyễn Văn Lư khai mở
một cuộc đấu tranh mới, ban đầu mang tính địa phương rồi có chiều
kích quốc gia. Ngày 13-11, cùng với giáo dân Nguyệt Biều, cha gửi
thư yêu cầu chính quyền trả lại cho giáo xứ thửa ruộng 1500m2 cạnh
nhà thờ mà Nhà nước đă tịch thu bất công từ lâu. Ngày 14-11-2000, để
khẳng định những đ̣i hỏi liên quan tới ruộng đất bị Nhà nước chiếm
đoạt, cha Lư và giáo dân Nguyệt Biều tổ chức biểu t́nh chung quanh
nhà thờ, và căng biểu ngữ "Chúng tôi cần Tự do Tôn giáo", một bảng
cắm trên thửa ruộng, một bảng treo ở mặt tiền nhà thờ, tiếp theo đó
là biểu ngữ "Tự do tôn giáo hay là chết!". Tiếp đó, cha tái phổ biến
Tuyên ngôn 10 điểm (đă viết 6 năm trước) qua mạng lưới toàn cầu,
đúng ngày 24-11-2000, lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam. Rồi từ
04-12-2000 đến 26-2-2001, cha Lư đưa ra liên tiếp 9 Lời Kêu gọi có
tính cách toàn diện hơn, vừa tŕnh bày hiện trạng bị đàn áp của các
tôn giáo (đặc biệt Công giáo) tại Việt nam và kêu gọi hàng lănh đạo
lẫn tín đồ đấu tranh đ̣i lại quyền tự do tôn giáo (LKG 1-4), vừa kêu
gọi giáo chức và sinh viên học sinh tẩy chay chủ nghĩa và chế độ CS
(LKG 6), kêu gọi đồng bào quốc nội lẫn hải ngoại chung ḷng đoàn kết
(LKG 9), chung tay xây dựng và bảo vệ tổ quốc (LKG 7), vừa kêu gọi
thế giới đừng dễ dàng cho CSVN tham gia các công ước quốc tế (LKG
5), kêu gọi quốc hội CS bỏ điều 4 Hiến pháp và đảng CS hăy tự giải
thể (LKG 8).
Mặt khác, cha Lư liên kết với Ḥa thượng Thích Thiện Hạnh, Trưởng
Tăng đoàn Thừa Thiên-Huế, cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng Trung ương
Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo An Giang, Linh mục Chân Tín, ḍng Chúa
Cứu Thế Sài G̣n, để cùng đưa ra Lời Tuyên bố của Đại diện các Tôn
giáo tại Việt Nam ngày 27-12-2000, hầu tố cáo CSVN đă áp dụng một
chính sách cực kỳ nghiệt ngă đối với các Tôn giáo tại Việt Nam, đồng
thời đưa ra 5 đ̣i hỏi với CS. Cha cũng viết nhiều thư gởi cho mọi
thành phần khắp thế giới, cám ơn họ đă hỗ trợ cuộc tranh đấu
(11-01-2001), rồi cho mọi thành viên Hội đồng Giám mục VN (15-01 và
28-3-2001). Ngày 25-1-2001, cha tung ra một chứng từ đầy cảm kích về
cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền, qua đó cha tố cáo CS đă ám sát
vị chủ chăn can đảm này bằng đầu độc.
Sau khi được bề trên đổi về An Truyền ngày 05-02-2001, th́ từ đây,
ngày 13-02, cha viết Lời Chứng thứ 1 gởi Quốc hội Hoa Kỳ để tŕnh
bày ư kiến về 3 vấn đề theo Thư mời của họ (Thực trạng các Tôn giáo
tại Việt Nam vào đầu ngàn năm thứ ba! Quốc hội Hoa Kỳ có nên phê
chuẩn Hiệp ước Thương mại song phương với Việt Nam không? Chính phủ
Hoa Kỳ làm thế nào để giúp Việt Nam sớm có tự do tôn giáo thực sự
trước mắt và lâu dài?). Ngày 06-5-2001, cha lại gởi Lời Chứng thứ 2
tới Hạ Viện Hoa Kỳ, chủ yếu tŕnh bày việc CSVN đàn áp Giáo hội Công
giáo. Lời chứng này sẽ được đọc tại Hạ viện HK đúng ngày cha bị CS
bắt đi.
Thế nhưng, trước đó, ngày 26-2-2001, UBND tỉnh Thừa Thiên đă ban
hành quyết định số 401/QĐ-UB quản chế cha Lư hai năm tại làng Truyền
Nam (trong đó có giáo xứ An Truyền), xă Phú An, huyện Phú Vang, buộc
cha phải xin phép khi muốn ra khỏi làng, hàng tuần phải báo cáo về
các hoạt động của ḿnh, hàng ngày không được làm lễ cho giáo dân. Và
từ ngày 27-2 trở đi, CS bắt đầu đàn áp cha và giáo xứ. Thế là cha
nảy sinh một sáng kiến độc nhất vô nhị, chưa từng có trong chế độ
CS, đó là lập biên bản về các vi phạm nhân quyền của chính quyền CS
địa phương (như thóa mạ cha trên báo đài, ngăn cản cha thi hành thừa
tác vụ, khủng bố giáo dân Nguyệt Biều và An Truyền....). Tất cả có
19 biên bản, được lập từ ngày 11-3-2001 đến ngày 09-5-2001, một tuần
trước khi cha bị bắt. Trong các biên bản này, cụm từ "Độc lập -Tự do
- Hạnh phúc" được cha Lư đổi lại "Thiếu độc lập - Mất tự do - Không
hạnh phúc"!!!
Sáng sớm ngày 17-5-2001, gần 600 công an bao vây toàn thể giáo xứ và
bắt cha Lư đi tù. Ngày 19-10-2001, CS đă dựng lên một phiên ṭa quái
đản tại Huế, không nhân chứng, luật sư, thân thuộc, giáo quyền để
kết án ngài 15 năm tù ở và 5 năm quản chế với hai tội danh lếu láo,
là bất tuân lệnh quản chế và phá hoại đoàn kết dân tộc. Cha Lư vào
trại tù Ba Sao, Nam Hà, nhưng cuộc đấu tranh do Cha khởi xướng đă
làm rúng động thế giới và không thể đi ngược được nữa, v́ nó mang
tính toàn diện (tự do tôn giáo lẫn tự do chính trị) và triệt để (nhắm
đến việc giải trừ nguyên nhân của mọi tội ác, xấu xa, thất bại, băng
hoại tại VN là chế độ CS).
Song song với việc quản chế cha Lư, công an bắt đầu thẩm vấn hai
linh mục bạn chiến đấu của ngài là cha Giải và cha Lợi. Ba vị làm
thành "Nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền". Ngày 5-3-2001, cha Nguyễn Hữu
Giải, quản xứ Lương Văn và là Hạt trưởng Giáo hạt Hương Phú, bị mời
đến đồn công an huyện Hương Thủy để "làm việc". Công an đă chất vấn
cha nhiều chuyện, nhất là chuyện quan hệ với cha Lư và chuyện đến
thăm chùa Từ Hiếu trong tuần lễ cầu siêu tại chùa này vào đầu tháng
2-2001. Ngày 8-3-2001, công an phường Phước Vĩnh thuộc thành phố Huế
lại mời cha Phan Văn Lợi đến thẩm vấn. Nội dung xoay quanh cuộc đấu
tranh của cha Lư: nhận định thế nào, hỗ trợ ra sao? Từ ngày 22-3,
th́ đến lượt công an thành phố Huế thẩm vấn cha Lợi. Nội dung được
mở rộng, liên quan đến chính sách tôn giáo của nhà nước.
Công an c̣n cho rằng việc ba linh mục phối hợp với nhau và với nhiều
chức sắc tôn giáo khác tại Huế để đấu tranh thật ra là "làm chính
trị": "Ông Lư và hai anh chỉ dùng việc đ̣i đất đai như một cái cớ,
đ̣i tự do tôn giáo như một vỏ bọc. Thực chất là các anh làm chính
trị, nhằm lật đổ chế độ này!". Cha Lợi trả lời:
"Linh mục chúng tôi không làm chính trị, giáo luật không cho phép.
Chúng tôi chỉ làm ngôn sứ, tranh đấu ôn ḥa cho tự do tôn giáo và tự
do dân chủ. Hai cái này đi liền với nhau. Quyền làm người và quyền
sống đạo liên hệ với nhau chặt chẽ. V́ thế, như ḥa thượng Thích
Quảng Độ, thượng tọa Thích Thái Ḥa, đạo trưởng Lê Quang Liêm... ba
anh em chúng tôi ủng hộ những ai và những tổ chức nào, ở bất cứ nơi
đâu, dùng phương pháp bất bạo động và đấu tranh chính trị để đ̣i hỏi
nhân quyền dân chủ và đa nguyên đa đảng cho Việt Nam. Phải đa nguyên,
đa đảng th́ mới có dân chủ thật sự, như tại hầu hết các nước văn
minh trên thế giới... Chế độ này có năm thứ độc quyền mà chúng tôi
không thể chấp nhận: đó là độc quyền về tư tưởng, chính trị, thông
tin, giáo dục và pháp luật. Năm thứ độc quyền đó làm cho đất nước
không thể đi lên, gây bao bất công đàn áp... Với tư cách linh mục,
chúng tôi có bổn phận nhắc nhở, mời gọi các giáo dân Công giáo đóng
vai tṛ của họ giữa đời là thực hiện nghĩa vụ công dân, mà cụ thể
lúc này là đấu tranh chính trị cách công khai và dân chủ với đảng
Cộng Sản. Các anh không nên gán ư đồ và tham vọng chính trị cho giới
linh mục chúng tôi!".
Đến ngày 6-4-2001, cha Lợi tuyên bố chấm dứt đi "làm việc".
Công an bèn ra "lệnh triệu tập" (trước đó là "giấy mời"). Tới ngày
13-4-2001, dù nhận được liên tiếp 5 lệnh triệu tập, cha vẫn nhất
quyết không chấp hành, thành thử bắt đầu bị quản chế tại gia.
Từ sau ngày cha Lư bị bắt, hai cha Giải và Lợi tiếp tục tranh đấu
qua việc đưa ra và tung lên mạng nhiều tâm thư, kháng thư, bài tham
luận, lời phát biểu, thư hiệp thông, thư thỉnh nguyện, trả lời phỏng
vấn v.v... Chẳng hạn ba thỉnh nguyện thư gởi Hội đồng Giám mục Việt
Nam (10-1999, 8-2001, 10-2002). Hai tâm thư gởi các linh mục quốc
nội (10-2001, 3-2002). Mười thư hiệp thông (với Đan viện Thiên An,
với Phật giáo VNTN và Phật giáo HH, với Bản Lên Tiếng của Giáo Dân
Hải ngoại, với Giáo phận Hà Nội, với các Tù nhân Lương tâm, với Các
Hội Thánh Tin lành Việt Nam, với Lănh đạo Giáo Hội PGTN, với Hội
thánh Tin Lành Mennonite VN, với các gia đ́nh nạn nhân Thanh Hóa,
với Ḥa thượng Thích Quảng Độ). Những bài tham luận như: Lăng mộ các
thánh Anh Hài tại Huế; Tự do tôn giáo hay là chết! V́ Nước Trời là
của họ; Ḷng can đảm, ư lực xuyên suốt Huấn dụ của Đức Giáo Hoàng;
Tinh thần Philipphê; Sợi xích sắt năm ṿng; Nhận định về Nghị quyết
của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN; Nhận định về lá thư
Đức TGM Phạm Minh Mẫn gởi Đại hội Ủy ban ĐKCGVN; Lương tâm Công giáo
Việt Nam; Sống năm Truyền giáo trong hiện trạng Việt Nam; Sau năm
1975, phải chăng đất nước an b́nh ổn định? Chia cắt đất nước, chia
cắt dân tộc, chia cắt ḷng người; Nhận định sơ khởi về Pháp lệnh tôn
giáo; Giải phóng ǵ suốt 30 năm ? Ngoài ra, hai cha cũng viết nhiều
tâm thư gởi đồng bào Việt Nam dịp Giáng sinh, Nguyên đán; nhiều
kháng thư như về việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, về vụ tẩy
năo cha Lư, vụ cướp đất Kế Sung...; nhiều cuộc trả lời phỏng vấn của
báo đài hải ngoại (qua điện thoại), nhiều lời phát biểu vào các dịp
đặc biệt như Ngày Đại Nghĩa - Giỗ tổ Hùng Vương (22-04-02), Đại hội
Tự do TG cho VN tại Hoa Kỳ (23-10-02), Lễ vinh danh và trao giải
thưởng Nhân Quyền cho Lm NVL (29-11-02), Cuộc gặp gỡ với Ban Tôn
giáo tỉnh Thừa Thiên (20-02-04), Hội nghị Diên hồng Bảo toàn Đất tổ
lần 2 hải ngoại (1-1-2005), Ngày cha Nguyễn Văn Lư ra khỏi tù
(01-02-05), dịp thủ tướng CSVN Phan Văn Khải sang Hoa Kỳ
(21-6-05)... Rồi nhiều bản tường tŕnh như tường tŕnh về việc Cộng
sản Việt Nam bách hại tôn giáo (19-6-2002)... Tổng cộng gần 100 văn
bản tính tới hôm nay. Từ đầu năm 2005, hai cha lại nhiều lần viết
chung với cha Chân Tín ở Sài g̣n. Riêng cha Lợi c̣n làm nhiều bài
thơ tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền, từ khước đi
bầu Quốc hội năm 2002 và Hội đồng nhân dân năm 2004, y như cha Chân
Tín.
Linh mục đoàn TGP Huế, dưới sự dẫn dắt của Đức TGM Têphanô, cũng
luôn sôi sục "tinh thần Philipphê". Ngày 5-1-2001, Giáo phận Huế đă
cử hành lễ bế mạc Năm Toàn Xá đồng thời cũng bế mạc năm kỷ niệm 150
năm thành lập Giáo phận. Dịp này, Đức TGM Têphanô đă dơng dạc đọc số
50.3 của Tông huấn "Giáo Hội tại Á châu" như một lời hiệu triệu: «Những
lời nói sau đây của Đức Giêsu là để trấn an Giáo Hội tại Châu Á: "Hỡi
đàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, v́ Cha anh em đă vui ḷng ban Nước của
Người cho anh em". Những người tin vào Đức Kitô vẫn c̣n là một thiểu
số ít ỏi trong lục địa mênh mông và đông dân nhất này. Tuy nhiên,
thay v́ là thiểu số nhút nhát rụt rè, họ vẫn sống tích cực trong đức
tin, tràn trề hy vọng và sức sống, một điều chỉ do t́nh yêu mới có
được. Một cách khiêm tốn nhưng rất dũng cảm, họ đă gây được ảnh
hưởng lên các nền văn hóa và xă hội Châu Á, nhất là họ đă tác động
lên đời sống của những người nghèo đói và bơ vơ, mà nhiều người
trong số đó không cùng một đức tin Công Giáo với họ. Họ đúng là tấm
gương cho các Kitô hữu mọi nơi luôn hăng hái chia sẻ kho tàng Tin
Mừng "dù thuận lợi hay không thuận lợi" (2Tm 4,2). Họ t́m được sức
mạnh nơi quyền năng tuyệt vời của Chúa Thánh Thần...»
Trưa hôm đó, sau tiệc mừng, các cha trong Giáo phận đă hội lại theo
từng giáo hạt để "góp ư" về nội dung "Dự thảo Pháp lệnh Tôn giáo" do
nhà nước vừa gởi tới. Các giáo hạt đều nhất trí tẩy chay việc này và
dự thảo này. Các cha lư luận rằng góp ư chi cho lắm th́ Nhà nước
cũng chẳng nghe, có khi c̣n làm ngược lại. Các văn kiện pháp lư về
tôn giáo tại Việt Nam, như thực tế cho thấy, ngày càng thêm trói
buộc, v́ chính quyền ngày càng tích lũy kinh nghiệm hơn trong việc
khống chế các tôn giáo. Có góp ư cũng chỉ như xin nhét một chút
nhung vào cái tḥng lọng buộc quanh cổ các tôn giáo. Mà người ta có
cho chút nhung đó không? Xin xỏ chỉ thêm nhục nhă, không xứng đáng
là con cháu các Thánh tử đạo, những ngôn sứ của quyền tự do tôn giáo.
Nếu Nhà Nước thực sự tôn trọng tự do tôn giáo như họ nói th́ hăy hủy
bỏ tất cả những h́nh thức biến tôn giáo thành công cụ ngoan ngoăn,
để các TG được tự do và độc lập mà góp phần xây dựng quê hương (Trích
bản tin "Lễ bế mạc năm Toàn xá tại TGP Huế").
Đến ngày 16-3-2001, trước vụ việc Chính quyền tiến hành việc bê tông
hóa một con mương thủy lợi cũ đi ngang qua giữa đất và ruộng nhà thờ
giáo xứ Nguyệt Biều, bất chấp sự phản kháng của cha xứ và giáo dân,
16 linh mục giáo phận đă phát biểu qua một lá thư hiệp thông gởi cha
quản xứ Trần Văn Quư: "Chúng tôi sẽ cầu nguyện nhiều và xin chia sẻ
nỗi gian khổ của Cha sở và Anh Chị Em trong việc bảo vệ đất đai của
giáo xứ Nguyệt Biều mà cũng là của giáo phận Huế, cùng đứng chung
với Cha và Anh Chị Em trong việc đ̣i hỏi chính quyền thực thi công
lư, trả lại lẽ phải cho Cha và Anh Chị Em". Đến tháng 4-2001, trước
sự kiện đan viện Thiên An bị nhà nước cướp đất, 40 linh mục giáo
phận lại mạnh mẽ lên tiếng hiệp thông với các đan sĩ và lên án lũ
cướp ngày (xin xem trên).
Bọn cướp ngày này cũng không tha cho vùng đất thiêng thánh là linh
địa La Vang. Tháng 11-2002: Nhà nước gửi văn thư yêu cầu lập tờ
tŕnh đất đai của La Vang. Ngày 18-12-2002: Linh mục quản nhiệm
Dương Đức Toại gửi cho nhà nước tờ tŕnh về đất đai Thánh địa La
Vang đồng thời đề nghị kiểm định và xác nhận. Ngày 12-3-2003: Sở địa
chính tỉnh Quảng Trị, pḥng nông nghiệp huyện Hải Lăng cùng uỷ ban
nhân dân xă Hải Phú tiến hành xác định hiện trạng sử dụng đất La
Vang và xác nhận số đất đai khác thuộc tổng thể Thánh địa sẽ được
tái tạo về lâu về dài. Ngày 21-3-2003: Sở địa chính tỉnh gởi văn thư
yêu cầu linh mục quản nhiệm làm đơn xin những phần đất chưa sử dụng
(17ha/23ha5). Cha Toại quyết không làm đơn xin, lập luận rằng những
phần đất ấy đă và đang là sở hữu của Thánh địa, có giấy tờ xưa nay
minh chứng đàng hoàng.
Trong cùng thời gian này, ngày 08-12-2002, Đức TGM bổ nhiệm 5 linh
mục vào Hội đồng Quản trị để điều hành Trung tâm Thánh Mẫu La Vang
vốn ngày càng thu hút khách hành hương và cần chỉnh trang xây dựng.
Đây là một tổ chức theo đ̣i hỏi của Giáo luật. Thế nhưng, chính
quyền tỉnh Quảng Trị đă lập tức phản đối. Dịp tết Quư Mùi, ông
Trưởng ban Tôn giáo tỉnh Quảng Trị đă đến thăm ṭa Tổng Giám mục và
yêu cầu xét lại Hội đồng Quản trị này, v́ «đó là điều bất hợp pháp »
!?! Đức Cha đă thẳng thắn trả lời: «Việc này là chuyện nội bộ. Hội
đồng đặt ra là cốt để các linh mục thành viên giúp linh mục quản
nhiệm La Vang điều hành Trung tâm Thánh Mẫu La Vang cho tốt. Ai cũng
muốn xây dựng Đất nước tốt đẹp. Đây cũng là một hành vi xây dựng Đất
nước theo cung cách của người Công giáo. Không nên đặt vấn đề xin
phép ở đây».
Như để trả thù, đầu tháng 5-2003, một đoàn xe cày ủi xúc đất, dưới
sự chỉ đạo của UBND xă Hải Phú cùng với Đội 6 Cầu đường, Long Hưng,
tiến chiếm đồi Thánh giá La Vang (vốn nằm ở mặt hậu Linh địa), lấy
cớ mở đường lâm nghiệp. Chúng đào xới ngang dọc, thậm chí lấn tới
quảng trường Thánh Tâm. Linh mục quản nhiệm liền thành lập một tiểu
đội quyết tử (gồm nhiều thanh niên giáo xứ) để bảo vệ đất Mẹ. Anh em
đă thề hy sinh mạng sống, sẵn sàng đổ máu để bảo toàn Linh địa. Họ
ngày đêm thay phiên nhau canh pḥng, hễ thấy đoàn xe cày ủi của bọn
cướp đất tiến vào là nằm lăn trước mũi xe, dùng thân người chặn bánh
xe lại. Linh mục quản nhiệm đă nuôi dưỡng anh em trong thời gian bảo
vệ này và hứa sẽ lo an táng lẫn chu cấp gia đ́nh nếu anh em tử nạn.
Thấy thế, lũ linh địa tặc đă khựng lại để bày mưu tính kế khác. Được
biết, tháng 9-2002, các anh em này cũng đă một lần dũng cảm ngăn
chận một chiếc xe tính ủi đất đồi Thánh giá.
Cho tới nay, nhà nước chỉ công nhận cho Trung tâm Thánh Mẫu La Vang
được quyền sử dụng 6ha5. 17ha c̣n lại, phải chăng chính quyền CS
tỉnh QT sẽ đưa vào kế hoạch biến xă Hải Phú (bao trùm Linh địa La
Vang) thành khu du lịch quy mô, như kiểu Văn Thánh, Đầm Sen ở Sài
g̣n. Đoạt được đất của thánh địa rồi xây những tṛ vui chơi trên đó,
sẽ vừa thu được lợi nhuận, vừa phá được bầu khí linh thiêng tĩnh
lặng của chốn hành hương (như CS đang làm với Khu vui chơi giải trí
Thiên An - Thủy Tiên tại Huế)!!! Đáo để thật!!!
Ngày 20-2-2004, có một cuộc gặp gỡ giữa Ban Tôn giáo tỉnh TT-H với
Tổng giáo phận tại ṭa TGM (gồm Đức TGM, cha Tổng đại diện, 5 cha
hạt trưởng, 9 bề trên chủng viện và ḍng tu, 2 giáo dân). Tất cả
phía TGP đă thẳng thắn nêu lên những khó khăn do ch |