SÁCH LƯỢC ĐẤU TRANH
NHÂN QUYỀN
TRONG THỜI ĐẠI INTERNET VÀ TỒN CẦU
HĨA
CHẾ
ĐỘ ĐỘC TÀI MẠNH HAY YẾU?
TS
Âu Dương Thệ
(Thuyết tŕnh tại Đại hội ḱ 6 của
Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam)
Chế
độ hiện nay ở VN là một chế độ
tồn trị và chà
đạp nhân quyền tàn bạo nhất,
từ năm 1954 ở miền Bắc và tồn VN từ
1975. Chế độ tồn trị là một chế
độ yếu nhất trong lịch sử cận
đại. Việc họ phải sử dụng bộ máy
cơng an trong các ngành thay v́ đặt sự tín nhiệm
vào người dân đă minh chứng sự lo sợ và
thiếu tự tin của họ. Chế độ này
chỉ trụ được chừng nào nĩ bịt
mắt, bịt tai và bịt miệng được
người dân và chỉ chừng nào nĩ quản chế
được dạy dầy, sự di lại của
người dân. Một khi bức tường
ngăn cách tư tưởng và liên hệ kinh tế,
thương mại và chính trị với bên ngồi bị
phá vỡ th́ kể từ thời điểm đĩ chế
độ này khơng cịn tương lai, bất kể những tuyên
truyền theo cách tơ hồng của họ, bất
kể cả bộ máy cơng an lực lưỡng. Khi
người dân tự tạo được cuộc
sống ổn định, ấm no bằng chính sức
lực và tài trí của ḿnh, khơng cịn lệ thuộc
vào chế độ tem phiếu, hộ khẩu th́ khi
đĩ cũng là lúc bắt đầu uy quyền của
chế độ bắt đầu lung lay.
Sự
tan ră của các chế độ độc tài phong
kiến ngày xưa đă như thế và sự tan ră
của các chế độ độc tài tồn trị
ngày nay cũng sẽ kinh qua con đường này. Chế
độ độc tài tồn trị cĩ thể
đổ nhanh khơng ? Xin thưa: Nĩ cĩ thể con
nằm ỳ ra rất lâu, nhưng cũng cĩ thể
đổ rất nhanh, nhanh hơn ngồi cả sự
tưởng tượng của nhiều người, một
khi t́m ra được phương pháp chống nĩ
hữu hiệu.
Thí
dụ, các chế độ độc tài tồn trị
ở Liên xơ và các nước Đơng Âu đă bị
sụp đổ từ đầu thập niên 90 chỉ
sau chưa đầy hai thập niên thực hiện sách
lược ”hợp tác để biến đổi“
do các nước dân chủ phương Tây chủ
trương. Trái lại, ở đâu sách lược
tẩy chay được thi hành th́ ở đĩ chế
độ tồn trị cịn được củng
cố. Điển h́nh như trường hợp Cuba, nằm
sát Hoa ḱ và bị Mĩ phong tỏa kinh tế, quân
sự...suốt gần nửa thế kỉ, nhưng cho
tới nay nĩ vẫn nằm ́ ra, nay Washington phải thay
đổi sách lược. Chế độ độc tài
tồn trị ở Trung hoa (TH), mới sau hơn hai
thập niên bị miễn cưỡng phải cải cách
và mở cửa, đang đứng trước nguy cơ
tự giải thể hay bị giải thể. Việc gia
nhập WTO từ cuối năm 2001 cho thấy Bắc kinh
đă chính thức nh́n nhận những qui luật của
kinh tế thị trường và phải hội nhập
vào thế giới, trong đĩ các nước dân chủ
và tư bản đang nắm phần chủ động.
Giang Trạch dân, nguyên Chủ tịch ĐCSTH và cựu Chủ
tịch nước CHNDTH, tại lễ kỉ niệm 80
năm thành lập ĐCSTH đă cơng khai tuyên bố về
thuyết ”Ba đại diện“. Theo đĩ, ĐCSTH cần
phải mời các thành phần tư sản gia nhập
đảng này, bên cạnh hai thành phần hiện cĩ là
cơng-nơng. Như vậy giới lănh đạo CSH
đă cơng khai phủ nhận học thuyết Marx-Lenin
về vai trị độc
tơn của giai cấp lao động trong việc
thủ tiêu giai cấp tư sản của chế
độ tư bản.
Sự
sụp đổ của Liên xơ và các nước CS
Đơng Âu bắt nguồn từ đâu ? Ngồi những
lí do nội tại của các xă hội này -đă áp dụng
một mơ h́nh XHCN khơng phù hợp với nhu cầu
của con người- cịn cĩ các nguyên nhân tác động
từ bên ngồi. Từ cuối thập niên 60 nhiều
chính khách ở Tây Âu đă thấy rằng chính sách ”tẩy
chay“ và ”ngăn đe“, khơng những khơng ngăn
chặn được chế độ tồn trị,
ngược lại cịn giúp nĩ cĩ những cớ
để tăng cường các biện pháp hà khắc
đàn áp đối với người dân ở trong
nước và thái độ hiếu chiến đối
với bên ngồi.
Nhiều
chính khách Âu châu đă nhận ra được những
điểm rất yếu của chế độ này,
nĩ chỉ tồn tại v́ người dân ở
đĩ khơng được dịp biết
được đời sống của người dân
b́nh thường trong các xă hội dân chủ. V́ thế sách
lược ”Biến đổi qua tham gia“ (Wandel durch
Annäherung), trong đĩ nổi rơ nhất là chính sách
”Ost-Politik“ của Willy Brandt, cố Thủ tướng
Đức và nguyên Chủ tịch đảng Dân chủ xă
hội Đức (SPD) chủ trương từ cuối
thập kỉ 60. Cốt lơi của chủ
thuyết này là, trong kỉ nguyên vơ khí hạt nhân, thay
đổi chế độ độc tài tồn trị
khơng thể bằng chiến tranh và tẩy chay, phong
tỏa, mà chỉ cĩ thể qua việc gia tăng các liên
hệ thương mại, kinh tế, khoa học, kĩ
thuật và cả những lănh vực khác như chính
trị, ngoại giao, thơng tin và du lịch.
Cuộc
vận động đạt đến cao điểm là
Hội nghị thượng đỉnh Helsinki 1975 (thủ
đơ Phần lan) về An ninh và Hợp tác châu Âu, trong
đĩ TT Mĩ Ford và
Chủ tịch ĐCSLX và Chủ tịch nước LX Breshenew
cùng với các nguyên thủ của 33 nước khác của
Âu châu và Gia nă đại đă tham dự. Hội nghị
đă đạt được những cơ sở
đồng thuận lớn trong nhiều lănh vực về
tài binh, thay chủ trương đối đầu
bằng hịa b́nh, cơng nhận biên giới sau Thế
chiến hai giữa các nước Âu châu, hợp tác trong
kinh tế, thương mại và khoa học kĩ
thuật. Đáng kể nữa là Hội nghị cũng
thơng qua quyết định nh́n nhận các hoạt động nhân quyền
theo các Cơng ước của LHQ là các quyền chính
đáng của các cơng dân và chính quyền các nước
tham dự hội nghị phải tơn trọng. Bên
cạnh đĩ cịn cĩ việc thỏa thuận gia
tăng trao đổi thơng tin, du lịch giữa
người dân và các đồn thể thuộc hai khối
Đơng -Tây lúc ấy.
Nĩi
chung, đối với phương Tây, đây là chủ
trương muốn bắt cọp th́ khơng thể
đứng ngồi mà phải vào hang của nĩ.
Phải hiểu được những căng thẳng
về an ninh và chính trị ở Âu châu, và nhất là ở
Đức sau Thế chiến thứ hai, mới thấy rơ
được tầm mức quan trọng về kết quả
của hội nghị Helsinki. Cần lưu ư, trong một
số năm Washington rất nghi kị chủ trương
này, coi đây cĩ thể là kế hoạch li tán của
Mạc tư khoa nhằm tách Tây Âu khỏi liên minh với
Mĩ hoặc ít ra Tây Âu sẽ đứng trung lập
giữa Nga và Mĩ.
Sau
Hội nghị Helsinki, khơng khí căng thẳng của
chiến tranh lạnh ở Âu châu đă từng bước
được thay thế bằng sự hợp tác đa
diện cùng cĩ lợi và tín cậy giữa hai bên. Chính
nhờ đĩ mà các phong trào đấu tranh cho tự do,
dân chủ và nhân quyền ở Liên xơ và nhiều
nước Đơng Âu đă trỗi dậy rất nhanh và
rất mạnh. Đáng kể như nhà hoạt động
nhân quyền Sacharow ở Liên xơ (cũ), Nghiệp
đồn Solidarnosc và Giáo hội Cơng giáo ở Ba lan và nhĩm
Hiến chương 77 của nhà văn Havel ở Tiệp
khắc...
Vài
năm sau đĩ một số các phong trào này đă đi
tiền phong thay đổi bộ mặt chính trị ở
Liên xơ, Ba lan và Tiệp và mở đường cho
cuộc cách mạng nhung hầu như khơng đổ
máu để chuyển biến các chế độ dộc
tài tồn trị sang dân chủ đa nguyên, cĩ lợi
cho nhân dân các nước và ngay cả các đảng CS. V́
hầu như tất cả các đảng CS trong các
nước này vẫn được tự do hoạt
động, ở một vài nước qua những
cuộc bầu cử dân chủ họ trở lại
nắm chính quyền một cách hợp pháp.
Vào
cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 khi
những biến động dồn dập diễn ra
ở Đơng Âu và Liên xơ, từ các TT Reagan (Mĩ),
Mitterand (Pháp) tới thủ tướng Kohl (Đức)
khơng ai tiên liệu được cĩ thể diễn
ra nhanh chĩng với mức độ lớn lao như
vậy và lại khơng đổ máu. Ngay cả cựu
thủ tướng Đức và là tác giả của „Ost
Politik“, cố TT Willy Brandt cũng khơng lường
được !
XĂ HỘI
KÍN VÀ XĂ HỘI MỞ - ĐIỀU KIỆN CHO MỘT XĂ
HỘI TỒN TRỊ TỒN TẠI
Ngồi
việc nắm vững bối cảnh quốc tế, trong
việc hoạch định chiến lược
đấu tranh nhân quyền chúng ta cũng cần phải
hiểu rơ những đặc thù của xă hội VN
hiện nay, nắm vững những mặt mạnh cũng
như mặt yếu của chế độ độc
tài.
Xă
hội độc tài là một xă hội kín, trong đĩ
tầng lớp cầm quyền tự cho ḿnh cái quyền
biết hơn, biết hết và thơng minh hơn mọi
người. Từ đĩ họ cũng tự cho ḿnh
cái quyền được
hưởng quyền và lợi ưu tiên và tối đa.
Họ mong muốn người dân trong các xă hội chỉ
làm cơng việc ngoan ngỗn nghe theo lời của lănh
đạo. Nhưng lănh đạo cũng thừa biết
đây khơng phải việc dễ, nên đă suy nghĩ
ra trăm phương ngàn kế để nhắm tới
mục tiêu làm cho mọi người trong xă hội phải
phục tùng tuyệt đối người cĩ quyền
hành (người thơng minh nhất!).
Phương
thức tổ chức của xă hội kín (tồn trị)
cĩ năm (5) đặc điểm chính:
1.
Chỉ cĩ một ư thức hệ duy nhất
được coi là đỉnh cao của trí tuệ và khoa
học nhất.
2.
Chỉ cĩ một đảng duy nhất được
coi là thành phần ư thức nhất đại diện chân
chính cho tồn dân, là tổ chức cĩ kỉ luật
nhất và cĩ sức mạnh vạn năng.
3.
Tất cả các hoạt động trong xă hội từ
chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hĩa, tơn
giáo... đều đặt dưới sự tồn
trị duy nhất của một đảng.
4.
Các sinh hoạt của người dân ở trong
nước từ đi lại, sinh sống, suy tư, tín
ngưỡng, giáo dục đều được chế
độ tổ chức theo những khuơn khổ và
mức độ đă định trước.
5.
Các liên hệ với thế giới bên ngồi, ngay cả
với những nước đồng minh, đều
phải theo những qui định của đảng
cầm quyền. V́ thế những cuộc tiếp xúc
giữa người dân với người ngoại
quốc ở ngay trên đất nước ḿnh hầu
như khơng cĩ, những chuyến đi ra
nước ngồi cho các cơng dân lại càng hi hữu
hơn, ngoại trừ những phái đồn đi tuyên
truyền.
Đây
là năm (5) đặc điểm căn bản trong cách
tổ chức của một xă hội độc tài
tồn trị từ Tây sang Đơng. Muốn thay đổi
chế độ tồn trị th́ phải loại bỏ
được năm yếu tố này. Loại
bỏ nĩ như thế nào sẽ được tŕnh bày
ở phần sau.
Để thực hiện
được một xă hội kín, cách vận hành ở
trong nước là đảng độc tài phải t́m
mọi cách làm cho người dân lệ thuộc hồn
tồn vào nhà nước, kiểm sốt dạ dầy qua
chế độ tem phiếu, hạn chế đi lại
qua chính sách hộ khẩu và kiểm sốt tư
tưởng qua biện pháp chỉ được
đọc sách báo của đảng...Ngồi ra, họ
cịn lập lên những bức tường hữu h́nh
và vơ h́nh để ngăn cấm mọi thơng tin
từ bên ngồi vào trong nước và cũng cản
trở mọi tin tức từ trong nước ra bên ngồi
! Trong một xă hội kín, người cơng dân khơng
cĩ cá tính, khơng cĩ bộ mặt khác nhau, khơng
cĩ ngơn ngữ và suy tư khác nhau, tất cả
giống nhau như một cái máy. Trung ương mở
một cái th́ tất cả các máy đều chạy, khi
trung ương tắt th́ mọi máy đều ngưng !
Như
vậy xă hội kín hồn tồn đối lập
với xă hội cơng dân, xă hội dân sự, mà chúng ta,
những người đấu tranh nhân quyền, đang
nhắm tới. Xă hội cơng dân hay xă hội
dân sự là một xă hội mở và cĩ những
đặc tính:
1.
Mỗi người b́nh đẳng trong các sinh
hoạt của xă hội, được tự do hành
động nhưng cũng tự ư thức trách nhiệm
về những hành động tự do của ḿnh.
2.
Trong một xă hội cơng dân, mỗi người là
một nhân cách độc lập, cho nên họ
tự tổ chức riêng cuộc sống hàng ngày, tự
quyết định về đời sống.
3.
Họ cĩ quyền tự do đi lại,
tự do phát biểu trước những vấn
đề chung của cộng đồng và tự do
kết hợp với những người khác.
4.
Xă hội cơng dân là một xă hội đa nguyên về tổ
chức. Các tổ chức được tự do
thành lập. Quyền đối lập được
thừa nhận. Đảng cầm quyền cũng bị ràng
buộc chặt chẽ bởi hiến pháp và các luật
pháp, ngồi ra cịn bị kiểm sốt của các
cơ quan lập pháp, tư pháp và báo chí.
5.
Xă hội cơng dân là một xă hội đa nguyên về ư
thức hệ. Khơng cĩ một ư hệ nào
được độc quyền, mọi tư
tưởng được tự do phổ biến theo
hiến pháp và luật pháp.
Như
vậy, xă hội cơng dân là một xă hội mở, các
chính đảng, các tổ chức nghề nghiệp và
quyền lợi được tự do thành lập và
hoạt động, các cơng dân được tự do
quyết định về cuộc sống riêng của ḿnh
và tự do tham gia vào đời sống cộng đồng.
XĂ HỘI VIỆT NAM ĐANG BIẾN
ĐỔI VÀ TRỞ THÀNH MỘT XĂ HỘI BÁN MỞ
Trước
đây gần 20 năm, dưới những điều
kiện vơ cùng bất lợi và bức bách, Đảng
Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đă phải ban bố
một số đổi mới để cứu chế
độ trước nguy cơ sụp đổ. Họ
thực hiện một đường lối đổi
mới nửa chừng, trong đĩ chỉ thực
hiện một số cải cách kinh tế, nhưng trong
chính trị và tổ chức xă hội họ vẫn cố
duy tŕ chế độ độc đảng. Trong
đối ngoại, v́ đa nghi và khơng tư tin, nên
họ cũng chỉ cho mở hé cửa mà thơi. Nghĩa
là chỉ muốn cho Dollar chẩy vào, nhưng lại t́m
mọi cách ngăn cản những luồng tư
tưởng dân chủ tự do, mà họ gọi đĩ
là những ruồi muỗi và khí độc. Họ đă
đặt cho chính sách đổi mới của họ là
”Kinh tế thị trường định hướng xă
hội chủ nghĩa“. Đây là chủ trương rất
cĩ tính tốn của họ: Làm sao dưới những
hồn cảnh quốc tế mới vơ cùng bất
lợi, chỉ thay đổi rất giới hạn và theo
một tốc độ trong vịng kiểm sốt để giữ mục tiêu trước sau là
phải duy tŕ chế độ độc đảng.
Đĩ là phương châm: ”Bất biến, vạn biến“
Nhưng
sau 17 năm ”đổi mới“, trong xă hội VN hiện
nay người ta thấy rất rơ sự mâu thuẫn
giữa dân và đảng, cụ thể hơn là giữa
đại đa số nhân dân bị đàn áp và bĩc
lột với một thiểu số rất nhỏ là thành
phần cai trị bất tài và tham nhũng. Trong khi nhân dân
mong muốn và địi hỏi phải đổi mới
nhanh và đổi mới tồn bộ xă hội th́
giới cầm quyền nhất định chống
lại, họ mới chỉ nhượng bộ một
phần rất nhỏ. Tuy nhiên trong 17 năm qua, mặc
dầu chính sách ”đổi mới“ của chế
độ cịn rất hạn chế, nhưng nhân dân
Việt Nam cũng đă biết nắm được những
cơ hội mới và đang làm xă hội thay da
đổi thịt. Nhiều khu cơng nghệ mới ra
đời, những lưới điện đă
được truyền tải cả về các nơng
thơn, nhiều hạ tầng cơ sở như
đường xá, những cao ốc và nhiều trung tâm du
lịch mới ra đời. Những dịch vụ
điện tử thơng tin tân ḱ như điện
thoại, internet... cũng đang bắt dễ rất nhanh
ở VN trong vài năm gần đây. Quan trọng hơn
nữa là đă cĩ những thành cơng rất lớn và
rất nhanh trong nơng nghiệp và tư doanh. Nhờ
đĩ VN đă từ một nước phải
nhập cảng gạo hàng năm lên tới 1-2 triệu
tấn trong thập niên 80, nay đă trở thành một
nước xuất cảng gạo đứng hàng thứ
hai trên thế giới, mức xuất cảng hiện nay
lên tới khoảng 4 triệu tấn. Chỉ mơi ba
năm gần đây, khi Luật doanh nghiệp tư nhân ra
đời, th́ các xí nghiệp và cửa hàng của tư
nhân đang mọc lên rất nhanh, làm ăn hiệu quả
và cạnh tranh với các doanh nghiệp nhà nước
chỉ làm ăn thua lỗ.
Những thành cơng này là sáng
kiến, sức lao động và cơng lao tranh đấu
của nhân dân VN chứ khơng phải là tài cán ǵ của
chế độ. Bởi v́ chính chế
độ trong nhiều thập niên đă chống lại
những địi hỏi này của nhân dân, đă khăng
khăng thực hiện mơ h́nh XHCN sơ cứng làm thui
chột mọi sáng kiến, tài năng và sức lực
của nhân dân và đất nước, đă làm cho hàng
triệu người phải rơi vào nạn đĩi và
đất nước tụt hậu, trở thành một
trong những nước nghèo nhất trên thế giới
vào cuối thế kỉ 20.
Những
thành cơng trong nơng nghiệp, kinh doanh và một số
những cơng tŕnh mới đă chứng tỏ tinh
thần sáng tạo cao, lịng kiên nhẫn và đức
tính chăm chỉ của nơng dân, doanh gia, chuyên viên và
cơng nhân VN. Đúng ra những tăng trưởng và thành
cơng chắc chắn sẽ cao hơn và lớn hơn
nếu sự đổi mới được thực
hiện đồng bộ và tồn diện. Mặt khác,
những thành quả to lớn bước đầu
cũng đă chứng minh rằng, chính mơ h́nh CNXH
trước đây đă phá hủy mọi sáng kiến và
nhiệt tâm của người dân và đă đưa VN vào
nghèo đĩi, lạc hậu. V́ nếu khơng
như thế th́ chắc chắn VN ngày nay cũng ở
mức phát triển ít nhất là ngang ngửa với
một số nước trong khu vực như Thái lan, Nam
Hàn hay Đài loan !
Những
thành quả trong kinh tế đă cải thiện một
phần đời sống vật chất của
người dân, cũng từ đĩ tạo cho
người dân tự tin
hơn ở ḿnh, ít lệ thuộc hơn vào
đảng và trong một số lănh vực đă dành
được tự chủ hơn trong cuộc sống,
trong tư duy. Thật vậy, thái độ và tâm lí
của nguời dân VN đối với chế độ
và nhĩm cầm quyền đă thay đổi rất
nhiều kể từ sau 1975. Từ tâm lí nể
sợ phe chiến thắng, coi những người lănh
đạo chế độ như những bậc thánh
tồn năng, đă mau chĩng chuyển sang thái
độ khinh thường cán bộ và thờ ơ
với chế độ, v́ sự tham nhũng của
những cán bộ cĩ quyền lực và sự vơ tài
và bất lực của lănh đạo trong việc
giải quyết những nhu cầu thực tế của
nhân dân và những vấn nạn của đất
nước.
Hiện
nay thái độ tự chủ và chán ghét của
người dân đối với chế độ,
đối với lănh đạo cịn đi xa hơn:
Tự chủ hơn trong cuộc sống, độc
lập hơn trong suy nghĩ và hành động. Mở nghe
các đài ngoại quốc phát thanh tiếng Việt như
BBC, RFA, RFI, VOA...một cách cơng khai khơng cịn
phải là một chuyện hạn hữu mà đang phổ
biến trong nhiều gia đ́nh từ thành phố tới
nơng thơn. Trong những quán cà phê, tiệm
phở...người ta đă dám trao đổi với nhau
về những chuyện thời sự trong nước hay
địa phương. Đă cĩ những cuộc biểu
t́nh ở một số địa phương và ngay ở
thủ đơ Hà nội. Thậm chí cịn cĩ cả
những cuộc biểu t́nh với hàng ngàn người
đi chiếm các trụ sở đảng và chính quyền
ở Thái b́nh của nơng dân, ở Tây nguyên... của
đồng bào sắc tộc và cả những cuộc đi
hành hương hay buổi lễ tơn giáo với hàng
chục ngàn tín đồ tham dự.
Tín
hiệu rất đáng mừng nữa là sự đứng
lên của các giới chuyên viên, trí thức, nhân sĩ và
văn nghệ sĩ. Trong đĩ chứa đựng
nhiều dẫn chứng độc đáo: 1. Một
số nhân vật cơng khai lên tiếng địi dân chủ
và chống độc tài lại chính là những cán bộ
cấp cao và trung cấp đă tững giữ những
chức vụ quan trọng trong đảng, chính quyền
hay các tổ chức quần chúng của chế độ
như cố trung tướng Trần Độ, cựu
Viện trưởng Viện Triết học Hồng Minh
Chính, GS Nguyễn Thanh Giang, Đại tá Phạm Quế
Dương, đảng viên lăo thành Nguyễn Hộ,
Nguyễn Văn Chấn (đă mất). 2. Nhiều
người là những trí thức, văn nghệ sĩ tên
tuổi như thi sĩ Bùi Minh Quốc, nữ văn sĩ
Dương Thu Hương, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ
Phu, GS Trần Khuê... 3. Nhiều người xuất thân
từ miền Nam: GS Nguyễn Đ́nh Huy, BS Nguyễn Đan
Quế, GS Nguyễn Ngọc Lan các HT Thích Huyền Quang,
Quảng Độ, các LM Nguyễn Văn Lư, Phạm Văn
Lợi, Chân Tín, Lê Quang Liêm (Hịa hảo)... 4. Từ
những hoạt động đối kháng cĩ tính cách
cá nhân, riêng rẽ và rời rạc nay đang chuyển thành
những họat động mang tính cách ít nhiều cĩ
kết hợp . Như cuộc vận động chống
chế độ đă nhượng đất cho Trung hoa
với sự tham gia của nhiều người từ Nam
ra Bắc, hay việc lập Hội chống tham nhũng,
Nhĩm Dân chủ.... 5. Đáng lưu ư nữa là , gần
đây một số trí thức trẻ cũng đă
nhập cuộc trong phong trào đấu tranh nhân quyền và
dân chủ, nổi tiếng như LS Lê Chí Quang, BS Phạm Hồng
Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ B́nh...
Nĩi tĩm lại, tuy
những ”đổi mới“ cịn rất hạn chế
và què quặt, nhưng chỉ sau 17 năm đang từ
một xă hội kín, VN đă trở thành một xă hội
bán mở. Do đĩ nhiệm vụ của những
Người hoạt động Nhân quyền và những
Người Dân chủ phải là làm sao thúc đẩy
tiến tŕnh xă hội mở ra nhanh hơn nữa,
để cuối cùng VN sẽ tiến tới một xă
hội mở thực sự và tồn diện.
SÁCH LƯỢC DÂN CHỦ HĨA
VIỆT NAMTRONG
ĐIỀU KIỆN TỒN CẦU HĨA
Trong
việc chuyển đất nước từ độc
tài sang dân chủ, chúng ta cĩ một cơ may rất
hiếm là cùng một lúc đă diễn ra ba sự kiện
rất quan trọng trên thế giới. Đĩ là sự tan
ră của thế gới CS, kỉ nguyên Internet và trào lưu
tồn cầu hĩa trên nhiều b́nh diện. Các diễn
biến chính trị, kinh tế và kĩ thuật với
tầm vĩc tồn cầu đang đưa lại cho VN
những cơ hội rất thuận tiện để
chúng ta, những Người Dân chủ, nếu cĩ
một sách lược đấu tranh khơn khéo th́ cĩ
thể chuyển hĩa đất nước từ
độc tài sang dân chủ mau hơn và gọn gàng hơn.
Một số điều kiện vơ cùng thuận
tiện trong thời đại hiện nay là:
1.
Chủ nghĩa Marx-Lenin đă mất sức thuyết
phục, chẳng cịn ai tin nữa.
2.
Từ đĩ những mơ h́nh xây dựng xă hội theo
một chế độ độc tài tồn trị
dưới sự chuyên chế của một đảng,
kinh tế tập trung bao cấp đă trở thành những
lực cản trong xă hội.
3.
Tiến tŕnh tồn cầu hĩa về tài chánh, kinh
tế, khoa học kĩ thuật và thơng tin điện
tử tạo ra những điều kiện mới, gây nên
những sức ép rất mạnh và cĩ hiệu lực
cao, buộc một số chế độ độc tài
cịn sĩt lại phải đi đến chọn
lựa, hoặc nhập cuộc cùng chơi tức là
tự giải thể, hoặc bị giải thể.
Những
Người hoạt động Nhân quyền cần
nắm vững những đặc điểm t́nh h́nh
ở trong nước và những diễn biến trên
thế giới để biết khai thác các thuận
lợi, hăy tích
cực và chủ động t́m ra một sách lược
đấu tranh thích hợp để từng bước
đưa xă hội bán mở ở VN thành một xă hội
mở.
Như đă tŕnh bày ở trên,
t́nh
h́nh đặc trưng của xă hội VN vào đầu
thế kỉ 21 là đang cĩ mâu thuẫn rất gắt
gao giữa thế lực cầm quyền vẫn muốn
t́m mọi cách kéo dài chế độ độc tài
để hưởng đặc quyền đặc
lợi, và đằng khác là đại đa số nhân dân
đang mong muốn và quyết đấu tranh loại
bỏ nạn độc tài, tham nhũng để xây
dựng một nước Việt Nam mới dân chủ,
tự do và phú cường để mau chĩng sánh vai cùng
với những dân tộc văn minh khác ! Ngồi ra, trong
những điều kiện quốc tế đang vơ
cùng bất lợi, nên khả năng chống đỡ
của các thế lực độc tài ngày càng bị thu
hẹp và các bộ máy cùng biện pháp đàn áp của
họ đang bị mất hiệu năng.
Nhiệm
vụ cơ bản của chúng ta là t́m những
bước đi vững chắc và những h́nh thức
tranh đấu thích hợp để thúc đẩy
tiến tŕnh h́nh thành một xă hội cơng dân ngày một
vững chắc và mở rộng. Như phần trên đă
tŕnh bày, xă hội độc tài tồn trị ở VN
cĩ năm (5) đặc điểm, trong đĩ cĩ
hai điểm đầu tiên là hai điểm mấu
chốt, đĩ là 1.
Chỉ cĩ một ư thức hệ duy nhất
được coi là đỉnh cao của trí tuệ và khoa
học nhất. Ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. 2. Chỉ cĩ một
đảng duy nhất được coi là thành phần ư
thức nhất đại diện chân chính cho tồn dân,
là tổ chức cĩ kỉ luật nhất và cĩ
sức mạnh vạn năng. Đĩ là ĐCSVN. Cho tới
cuối thập kỉ 80 (thế kỉ trước) các
chế độ độc tài tồn trị từ Tây
sang Đơng đă đứng vững trên hai cái chân này !
Nhưng
cả thế giới đă chứng kiến vào đầu
thập niên 90, Liên xơ, cái nơi của của thành tŕ
XHCN, đă tự sụp đổ và kéo theo sự tan
vỡ của các nước CS Đơng Âu. V́ thế chủ
nghĩa Marx và cách tổ chức xă hội theo mơ h́nh
Lenin-Stalin đă chứng minh là mơt sự khơng
tưởng và đă là một sự phí phạm nhân
mạng và tài sản rất to lớn cho nhiều dân
tộc. Do đĩ điều kiện đầu tiên cho
sự tồn tại của chế độ đơc
tài tồn trị đă bị thực tế phủ
nhận. Tức là một vài chế độ
độc tài tồn trị cịn sĩt lại, trong
đĩ cĩ chế độ CSVN, chỉ đứng khập
khiễng một chân! Đĩ là vai trị
độc tơn của Đảng Cộng sản.
Những
người lạc quan tếu, những tổ chức
cĩ hành động mơng lung phiêu lưu sẽ cổ
xúy hay xúi bậy là bây giờ chỉ cần tập trung
sức mạnh vào tập đồn độc tài đánh
một cái rụp là xong. Trong thực tế, khi các phe
nhĩm độc tài cịn nắm trong tay chính quyền,
quân đội và cơng an th́ đĩ chỉ là những
chủ trương thiêu thân khơng đi đến
đâu. Chẳng những thế, nĩ cịn đưa
tới những hậu quả vơ cùng khốc hại cho
nhân dân và đất nước, một cuộc nội
chiến sẽ lại tiếp diễn với hàng triệu
sinh mạng lại phải hi sinh, các cơng tŕnh xây
dựng sẽ bị tàn phá. Hậu quả dẫn tới
là hận thù, nghèo đĩi và tụt hậu. Đĩ là
kết quả thảm khốc của các cuộc chiến
ở VN từ hạ bán thế kỉ 20 mà tồn dân
tộc VN, trong đĩ cĩ chúng ta vừa là nạn nhân
và nhân chứng. Ngồi ra, trong thời đại tồn
cầu hĩa giải pháp chiến tranh khơng cĩ
sức thuyết phục các nước dân chủ.
Một
sách lược khơn ngoan và khả thi phải làm sao từng
bước vơ hiệu hĩa những mĩng vuốt và
làm tê liệt sức mạnh của độc tài (quân
đội, cơng an, mật vụ, tịa án...), từ
đĩ tạo những điều kiện cần
thiết để nhân dân tự tin, tự hàng ngũ
hĩa để cuối cùng cơ lập được
các phe nhĩm độc tài cực đoan cịn sĩt
lại. Trong hồn cảnh của VN và chiều
hướng tồn cầu hĩa đang phát triển
như hiện nay th́ đây là sách lược rất
khả thi. Cĩ nghĩa là, trong thực tế chúng ta
sẽ khơng chủ trương đánh ngay vào trung tâm
của chế độ, nhưng t́m cách bao vây và cơ
lập để vơ hiệu hĩa những bộ máy và
sức mạnh của nĩ. Cuối cùng chế độ
độc tài sẽ rơi vào t́nh trạng như một
chiếc xe hơi khơng cịn xăng nhớt, khi ấy
nhĩm lănh đạo độc tài bảo thủ cuối
cùng ương ngạnh nhất dù muốn cho máy nổ
cũng sẽ bị bất lực. Nhân dân và các lực
lượng dân chủ sẽ thu lại cái xe một cách
nguyên vẹn và tồn bộ, chỉ cần đổ
xăng và dầu là xe sẽ chạy b́nh thường!
Để
thực hiện sách lược giải thể chế
độ tồn trị, chúng ta cần phải đi theo
một tiến tŕnh ngược lại so với việc
xây dựng chế độ độc tài tồn trị.
Nghĩa là chúng ta phải thúc đẩy những tiến
tŕnh:
1.
Làm cho người dân trong nước được
tự chủ và độc lập hơn đối
với chế độ trong cuộc sống hàng ngày.
2.
Làm cho những liên hệ của VN với thế giới
bên ngồi, nhất là với Mĩ và EU, càng mở rộng
và sâu hơn.
3.
Tiến tới giai đoạn để nhân dân tự hàng
ngũ hĩa trong các hoạt động kinh tế, giáo
dục, xă hội, tơn giáo và cuối cùng cả trong chinh
trị nữa.
Khi
ba lănh vực này đă đạt được những
thành quả nhất định (khơng nhất thiết
phải hồn tồn hay tồn thể) th́ bộ máy
đàn áp của chế độ sẽ bị bất
lực và trở nên vơ hiệu. Khi ấy, nhĩm
bảo thủ cực đoan sẽ phải chọn
lựa hoặc là tự giải thể hoặc là bị
giải thể. Tựu chung lại, sách lược này
đi từ hạ tầng lên thượng tầng, trong
đĩ phát triển sức xây của nhân dân cũng
đồng thời là phát triển sức chống của
nhân dân đối với chế độ.
MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP:
PHƯƠNG PHÁP PHẢI PHÙ HỢP MỤC TIÊU
Mục
tiêu là hướng nhắm tới, điều ước
mong. Nhưng liệu nĩ cĩ đạt được
hay khơng tùy thuộc vào phương pháp áp dụng. Cĩ
những mục tiêu đă được đề ra
cả 10 năm, 50 năm, thậm chí cĩ khi cả
thế kỉ mà vẫn khơng đạt được,
nếu các phương pháp đấu tranh khơng phù
hợp. Phù hợp ở đây bao hàm một nghĩa
rộng: phù hợp với những điều kiện
đặc thù (lịch sử , tâm lí, chính trị và kinh
tế,) nội tại của xă hội ấy; đồng
thời cũng phải phù hợp với mơi
trường bên ngồi, tức là hồn cảnh quốc
tế, trong đĩ cĩ những tương quan lực
lượng trên thế giới và trào lưu của
thời đại.
Sự
tương quan giữa mục tiêu và phương pháp vơ
cùng quan trọng, nĩ cho biết nhận thức và
tầm nh́n của những người đấu tranh.
Nếu một tổ chức nhân quyền đề ra
mục tiêu thực hiện một xă hội tơn
trọng nhân quyền với dân chủ, tự do, nhưng
lại chủ trương hợp tác với các tổ
chức bạo lực sẵn sàng
đàn áp đối thủ bằng tù đày, tra
tấn, kế cả thủ tiêu th́ phương pháp này
đi ngược hồn tồn với mục tiêu.
„Mục tiêu biện minh cho phương tiện“, chỉ là
một cách ngụy biện và lừa đảo nguy
hiểm. Xă hội VN ngày nay là hậu quả của
việc này và hầu hết chúng ta đều là nạn nhân
của nĩ. Nh́n lại chúng ta cĩ thể thẩm
định được cơng và sức bỏ ra cho
mục tiêu cĩ bơ khơng, hay là quá cao, hoặc quá thấp, cĩ đạt
được khơng? Nĩi cách khác, nếu hiểu
được tương quan giữa mục tiêu và
phương pháp th́ cĩ thể thấy trước
hiệu năng và kết quả của cơng việc. Nếu
khơng ước định thận trọng và cân
nhắc, rất cĩ thể cơng bỏ ra quá lớn mà
mục tiêu vẫn ở ngồi tầm tay ! Thí dụ
rất rơ ràng như cuộc đấu tranh vơ cùng gian
khổ suốt gần thế kỉ vừa qua của nhân
dân ta cho „độc lập, tự do và hạnh phúc“,
nhưng cuối cùng vẫn tay trắng !
Trở
lại với trọng tâm của bài này là sách lược
đấu tranh nhân quyền như thế nào thích hợp
cho VN và khả thi trong điều kiện quốc tế
hiện nay để đạt mục tiêu thay đổi
chế độ chính trị ở VN từ độc tài
sang dân chủ vào thời điểm đầu thế kỉ
21 ?
Là
những người đấu tranh cho nhân quyền,
đứng trước cảnh đĩi nghèo của
người dân, tụt hậu của đất
nước, bị đàn áp của những tu sĩ và nhân sĩ
dân chủ, sự tham nhũng trắng trợn và bĩc
lột cơng khai của những người cĩ
quyền lực- khơng ai trong chúng ta cĩ thể làm
ngơ được. Chúng ta càng khơng thể
tưởng tượng được, chính những
người lănh đạo chế độ đang nhân
danh nhân dân, nhân danh tổ quốc , nhân danh tự do và
hạnh phúc của con người lại cĩ thể
vơ trách nhiệm đến như thế, lại cĩ
thể tham lam và tàn ác với nhân dân đến như vậy
! Cho nên, nếu cĩ ư thức về nhân quyền th́
việc đứng lên đấu tranh -bất cứ ở
cương vị nào, từ người dân b́nh
thường tới chuyên viên, trí thức, tu sĩ, từ
các đồn thể chính trị tới các tơn giáo,
văn hĩa, xă hội và nhân quyền- là chuyện tự
nhiên phải làm, rất hợp t́nh hợp lí.
Nhưng
làm như thế nào để từng bước
đẩy lùi được thế lực độc tài
và cuối cùng loại nĩ ra khỏi đời sống chính
trị để thay thế vào đĩ một chế
độ dân chủ? Đĩ mới là câu hỏi trung tâm
của những đấu tranh cĩ tinh thần trách
nhiệm. Khơng phải mục tiêu đúng (chống
độc tài) th́ phương pháp nào cũng hợp lí,
cũng dùng được. Như đă nĩi ở trên,
cách giải thích mục tiêu biện minh phương
tiện đă bị lạm dụng quá nhiều ở VN và
đă chứng tỏ những sai lầm vơ cùng nguy
hại cho đất nước.
Hiện
nay vẫn cĩ một số người và vài tổ
chức chủ trương và địi hỏi tẩy
chay chính trị và ngoại giao, kêu gọi Mĩ và Âu châu
khơng thiết lập ngoại giao với chế
độ CSVN. Nhưng kết quả như thế nào th́
ai cũng biết, hầu hết các nước trên thế
giới đều cĩ quan hệ ngoại giao với VN.
Tuy nhiên, qua đĩ khơng nên hiểu một cách
đơn giản hay thất vọng (và càng khơng nên nghe
tuyên truyền của chế độ) rằng, các
nước dân chủ đă nh́n nhận chế độ
độc tài. Cơng nhận ngoại giao ở đây
phải hiểu về mặt quốc tế cơng pháp,
nh́n nhận một chủ thể chính trị trong bang giao
quốc tế mà thơi.
Trong
thời gian gần đây, vẫn cịn một số
người kêu gọi tẩy chay khơng về thăm
nhà, khơng gởi tiền về cho thân nhân ở VN,
khơng đầu tư ở trong nước, khơng mua
hàng VN... Ngồi ra, họ cịn yêu cầu các nước
Mĩ và Liên minh Âu châu khơng buơn bán với VN. Họ
đưa ra lập luận coi đấy là sách
lược hữu hiệu nhất để phong tỏa
túi tiền của chế độ độc tài, và làm
như thế th́ chế độ này sẽ mau sụp
đổ !
Nhưng
thực tế lại đang diễn ra hồn tồn khác.
Số kiều bào về thăm nhà năm sau đơng
hơn năm trước.Trong dịp Tết vào các năm
gần đây cĩ hàng trăm ngàn người về
thăm gia đ́nh, bạn bè hay nơi quê cha đất
tổ, những nơi thân thương ngày trước.
Số tiền của kiều bào gởi về để
giúp đỡ thân nhân, đầu tư kinh tế, ủng
hộ các cơ quan giáo dục, y tế và xă hội..
cũng gia tăng từ năm này sang năm khác, Chỉ
riêng tiền gởi về cho thân nhân ở trong nước
hiện đă lên tới trên hai tỉ Mĩ kim hàng năm.
Một số tiền rất lớn, khoảng 8% tổng
sản lượng quốc gia của VN hiện nay.
Ngồi ra, tất cả các nước dân chủ phương
Tây đều cĩ mậu dịch với VN. Hoa ḱ cũng
đă kí Hiệp định Thương mại với VN,
hợp thức hĩa những hoạt động thương
mại giữa hai nước. Kim ngạch ngoại
thương giữa Mĩ và VN đă gia tăng rất
lớn trong hai năm gần đây
Những
sự giúp đỡ và ủng hộ của kiều bào cho
thân nhân, hay những hoạt động đầu
đầu tư, thương mại của các
nước ngồi tại VN khơng nên và khơng thể
giải thích một cách quá giản lược tùy tiện
là một sự tiếp tay cho chế độ độc
tài. Ngược lại, phải nh́n những hoạt
động này một cách đa diện và các hiệu
quả của nĩ về trung hạn và trường ḱ.
Phải nh́n rơ những mặt mạnh và mặt yếu
của mỗi giải pháp.
Về mặt t́nh cảm và nhân
đạo, việc giúp đỡ các người thân,
ủng hộ các tơn giáo, học sinh, các cơ quan xă
hội... là một t́nh cảm tự nhiên của con
người cần được khuyến khích trong
bất cứ thời đại nào và chế độ
nào. Ngăn cản nĩ cũng vơ ích. Đây khơng
chỉ riêng ở VN hiện nay mà đang diễn ra ở Cuba, Trung hoa và
tại nhiều nước cựu CS ở Đơng Âu và Liên
xơ . Trước đây hàng triệu người Tây
Đức, Ba lan, Hung… (sống ở Hoa ḱ) cũng đă gởi
tiền giúp đỡ người thân và bạn hữu
ở Đơng Đức, Ba lan...Đài loan là một trong những
nước đầu tư lớn nhất ở lục
địa Trung hoa. Hàng triệu Hoa kiều ở Mĩ và
nhiều nước Á châu hàng năm gởi hàng tỉ
Mĩ kim về giúp các thân nhân, hoặc đầu tư
ở Trung hoa. Hẳn chính quyền Đài loan, một chế
độ chống Cộng rất cực đoan, khơng ngu dại để cho
các cơng ti và tư nhân Đài loan làm như vậy. Hàng
triệu Hoa kiều ở nước ngồi cũng
khơng phải là khờ dại. Họ cĩ những nhu
cầu chính đáng và nhiều người , đồn thể
cĩ những sách lược lâu dài.
Một
nghịch lí khác là, một số người kêu gọi
tẩy chay giao thương với VN và cho đĩ là cách
ủng hộ hiệu quả và tích cực cho các phong trào
dân chủ ở trong nước. Nhưng họ đă
khơng lưu ư, chính những người đang
đứng lên phát động địi dân chủ ở
trong nước lại hoan nghênh việc kí kết Hiệp
định thương mại Việt-Mĩ mạnh
mẽ nhất. Từ các nhân sĩ dân chủ Bắc
hà nổi tiếng như
cố tướng Trần Độ, GS Hồng Minh Chính,
TS Nguyễn Thanh Giang, nữ văn sĩ Dương Thu
Hương, tới các nhà đấu tranh cho nhân quyền
ở miền Nam như BS Nguyễn Đan Quế, GS Nguyễn
Đ́nh Huy, GS Nguyễn Ngọc Lan và cả những nhà lănh
đạo Phật giáo như các HT Thích Huyền Quang, Thích
Quảng Độ, TT Tuệ Sĩ, các linh mục cĩ uy tín
trong giáo hội Cơng giáo như Chân Tín, Nguyễn Văn
Lư,Phạm Văn Lợi... cũng đă lên tiếng
ủng hộ cĩ điều kiện cho Hiệp
định thương mại Việt -Mĩ nĩi riêng
và mở rộng sự hội nhập quốc tế
của VN nĩi chung.
Chính
các vị này đang sống ở trong nước, hiểu
rơ những hồn cảnh khĩ khăn và thấy
được những cơ hội tốt, biết rơ
được những chỗ yếu của chế
độ....Họ nhận thấy rằng, tiến
tŕnh dân chủ hĩa ở VN trong điều kiện
nghặt nghèo dưới chế độ độc tài hà
khắc nhất thế giới, chỉ cĩ thể
tiệm tiến, mức độ đạt
được mau hay chậm tùy thuộc rất nhiều
vào mức độ hội nhập của VN vào dịng
chẩy quốc tế trong tất cả các lănh vực.
Mở cửa càng lớn, hội nhập càng nhanh th́
tiến tŕnh dân chủ của VN cũng sẽ thành cơng
chắc chắn và nhanh hơn.
Sự
mở rộng giao thương và hội nhập quốc
tế sẽ cải thiện cuộc sống vật
chất và tinh thần cho người dân VN ở trong
nước. Đây là những điều kiện cơ
bản để thốt khỏi sự lệ thuộc vào
chế độ và thiết lập một sự tự
chủ cho ḿnh từ cuộc sống hàng ngày tới
những suy tư của mỗi người. Đây là
những điều kiện căn bản để h́nh
thành một xă hội cơng dân, như đă nĩi ở
trên. Mặt khác, một khi chấp nhận mở cửa và
hội nhập quốc tế th́ chế độ CSVN, dù
muốn dù khơng, khơng sớm th́ muộn phải
chấp nhận luật chơi dân chủ, qui luật
cạnh tranh quốc tế tiến lên hay tụt hậu. V́
thế, tiến tŕnh dân chủ hĩa VN đồng thuận
với tiến tŕnh tồn cầu hĩa !
Nếu quan sát xă hội VN
từ cuối thập kỉ 80 trờ về đây, th́
khơng ai phủ nhận được rằng, cuộc
”đổi mới“ bắt đắc dĩ và rất què
quặt của chế độ, nhưng nĩ cũng
đang mở cho đất nước ta những cơ
hội mới, cuộc sống của nhân dân dễ
thở hơn, các cuộc vận động dân chủ,
nhân quyền và những người tham gia ngày càng
đơng, với những khí thế mới, từ
đĩ chế độ mỗi ngày trở nên bị
động hơn và nội bộ phân hĩa mạnh
hơn !
Từ
khi phải đổi mới miễn cưỡng, nên
chế độ này đang rút vào thế thủ, bỏ
trống nhiều địa bàn hoạt động mà
trước đây họ vẫn độc quyền thao
túng. Nhiều người dân chủ ở trong và ngồi
nước đă nhận rơ được thời cơ
và đang từng bước nhẩy vào các địa bàn
này đấu tranh trực diện và đă dành
được một số những thắng lợi ban
đầu. Nhiệm vụ chung của chúng ta lúc này
khơng nên hơ hào tẩy chay, ngược lại cần
phải tiếp tay và giúp đỡ tích cực cho những
Người Dân chủ và các Tơn giáo ở trong nước
đang mạnh bạo và can đảm đấu tranh
bằng những phương thức và phương
tiện phù hợp với từng địa phương
và mơi trường ! Giữ thái độ tích cực và
chọn thế đấu tranh chủ động sẽ
đẩy lùi được bĩng tối độc tài
và mở rộng ánh sáng dân chủ tới VN !
Cùng
với các dân tộc khác, đất nước chúng ta
đang chuyển vào thế
kỉ 21 và đang ở giai đoạn đầu của
kỉ nguyên tồn cầu hĩa về thơng tin, kinh
tế, khoa học và kĩ thuật. Tiến tŕnh này sẽ
khơng dừng lại mà sẽ mở ra mạnh hơn
cả về tốc độ và khơng gian, khơng
chỉ giới hạn trong các nước kĩ nghệ và
tân kĩ nghệ mà đang tràn tới các nước
đang phát triển. Nĩ cũng khơng giới hạn
trong các nước dân chủ mà đang vươn tới
cả những xă hội độc tài. Nĩ sẽ
khơng dừng trong thơng tin điện tử, tài chánh,
thương mại, khoa học và kĩ thuật mà sẽ
mở rộng sang các lănh vực nhân quyền, chính trị.
Trong kỉ nguyên tồn cầu hĩa sự liên đới
giữa các nước càng mật thiết và đa dạng
hơn.
Trong
tiến tŕnh này, một số xă hội độc tài, trong
đĩ cĩ VN, dù muốn dù khơng cũng phải
hội nhập chứ khơng thể sống trong hoang
đảo hay ốc đảo ở sa mạc ! Cần
thấy rơ tất cả mặt mạnh và mặt yếu
của tiến tŕnh này để chuyển biến
đất nước từ độc tài sang dân chủ
và hội nhập thế nào cĩ lợi ích tối đa
cho đất nước.
Những
người đấu tranh nhân quyền cần phải
lưu ư, hồn cầu hĩa tự nĩ khơng thay
đổi được chế độ chính trị
ở một nước, mà nĩ chỉ tạo ra mơi
trường và các điều kiện thuận tiện cho
việc thay đổi đời sống chính trị.
Cĩ thay đổi hay khơng và thay đổi nhanh hay
chậm, điều này nằm hệ tại ở ngay các
nước liên hệ. Liệu các lực lượng dân
chủ ở các nước này cĩ biết hàng ngũ
hĩa và biết đứng lên viết lên trang sử dân
chủ hay khơng. Mĩ, Nhật, hay EU sẽ
khơng làm thay chúng ta, v́ đấy khơng phải là nhu
cầu trực tiếp đối với họ, khơng
phải là quyền lợi sống cịn của họ.
Xét
về nhiều phương diện trong bối cảnh
hồn cầu, việc nhẩy vào trực tiếp của
các nước này chưa chắc đă đưa
đến thành cơng, mà rất cĩ thể sẽ
tạo ra những khủng hoảng lớn về an ninh và
kinh tế khơng riêng trong khu vực mà cả thế
giới. (Thí dụ như trường hợp ở Irak hiện
nay!). V́ thế, đây là cơng việc và nhiệm vụ
của chính người dân các nước đang sống
trong các chế độ độc tài. Họ phải
tự đứng lên, phải tự hàng ngũ hĩa
đấu tranh cho các quyền chính đáng của cá nhân ḿnh
và dân tộc ḿnh. Nếu tự chứng tỏ ḿnh cĩ
thực lực và khả năng th́ các tổ chức dân
chủ tư nhân và chính quyền của các nước dân
chủ sẽ giúp đỡ và tiếp sức ! Kinh
nghiệm ở Ba lan, Tiệp khắc, Liên xơ và Đơng
Đức trước đây đă chứng minh việc này !
Một
phản biện nữa đưa ra chống lại các quan
hệ thương mại, kinh tế... với chế
độ Hà nội, là các nước Tây phương
chỉ lo lợi nhuận chứ khơng để ư ǵ
đến nhân quyền, dân chủ... Đây chỉ là suy nghĩ
theo cảm tính, phủ nhận những thực tế. Ai
chụi khĩ đọc bản Hiệp định
Thương mại Việt Mĩ th́ sẽ thấy, tuy
khơng cĩ điều khoản nào nĩi trực
tiếp về nhân quyền, nhưng cĩ nhiều
điều ràng buộc
địi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải
để cho các doanh nghiệp tư nhân ở trong
nước được hoạt động b́nh
đẳng với các doanh nghiệp quốc doanh, tức là
khuyến khích vai trị của tư nhân, một
điều kiện căn bản để h́nh thành
một xă hội dân sự thay thế một xă hội tồn trị. Nhưng
phải nhớ, dân chủ cho VN, dân chủ cho
đồng bào ta là chuyện trước tiên và cuối cùng
phải là việc của chính người Việt Nam,
của từng cơng dân cĩ ư thức, của từng
tổ chức hiểu biết trách nhiệm.
Người Mĩ và Âu châu ở cách xa VN hàng chục ngàn
dặm khơng cảm thấy nhu cầu bực bội
trực tiếp như hàng triệu dân VN.
Trong
thời đại tồn cầu hĩa, tẩy chay là
phương pháp tranh đấu thụ động, nĩ
như người đánh đàn lạc điệu,
khơng cĩ ai nghe, v́ khơng được nhân dân trong
nước hưởng ứng và khơng được
quốc tế ủng hộ, cho nên khơng đĩng
gĩp thực tiễn vào việc chuyển hĩa
đất nước. Nếu khơng muốn ngồi
chơi một ḿnh th́ hăy nên
cĩ thái độ tích cực, sách lược
chủ động giúp đỡ những người thân,
các người đối kháng dân chủ và các phong trào
địi dân chủ ở trong nước để
sớm h́nh hành một xă hội cơng dân ngay chính trong
lịng chế độ độc tài. Hăy khai
triển thật khơn ngoan những lợi điểm
của tiến tŕnh hồn cầu hĩa và những
thế bí của chế độ trong việc hội
nhập quốc tế để đưa tiềm năng
và sức mạnh tự chủ trong đời sống và
suy tư của người dân ngày một nâng cao. Từ
đĩ sẽ dấy lên một phong trào dân chủ, nhân
quyền rộng răi và vũ băo áp đảo
được các thế lực độc tài !
VAI TRỊ QUAN TRỌNG CỦA „MẠNG
LỨƠI NHÂN QUYỀN“ HƠM NAY VÀ NGÀY MAI
Mới ra đời đựơc sáu
năm, thời gian tương đối cịn ngắn,
nhưng Mạng lứơi Nhân quyền Việt Nam đă
làm được nhiều việc rất hữu ích trong
việc chống lại các hành động chà dạp nhân
quyền của chế độ tồn trị ở VN.
Những người theo dơi sự hoạt động
của MLNQ phải ghi nhận những cố gắng và
thành cơng sau đây:
-
Đă qui
tụ được nhiều người biết cách
hoạt động nhân quyền. Cụ thể như
trong thời gian đầu chỉ lên tiếng ủng
hộ những người và các tổ chức dân
chủ trong nước ở miền Nam. Nhưng nay
MLNQ đă ủng hộ tích cực cả những
Ngừơi Dân chủ ở miền Bắc, trong
đĩ cĩ cả những người từng là
đảng viên CS. Chính nhận thức mới này
đang tạo thêm uy tín và sức mạnh cho MLNQ.
-
Ngay từ
bước đầu đă biết kết hợp
với các tổ chức quốc tế khác cũng
hoạt động về nhân quyền để
hợp tác bảo vệ nhân quyền ở VN. Đáng
kể là với Tổ chức Theo dơi Nhân quyền
của Mĩ (Human Rights Watsch) cĩ trụ sở ở
New York, Tổ chức Ân xá Quốc tế cĩ trụ
sở ở London, Hội kí giả khơng biên giới
và Ủy ban Nhân quyền LHQ.
Trong thời gian gần đây một
số thành viên của MLNQ đang hoạt động
một cách âm thầm, nhưng rất hiệu quả, trong
một số tổ chức trên để yểm trợ
lại những hoạt động của các Tổ
chức này. Nhờ sự liên đới hai chiều này
đă tạo thêm sức mạnh và uy tín cho MLNQ trong mơi
trường quốc tế, nhất là ở Mĩ.
-
Trong thời
gian gần đây, một số người cĩ trách
nhiệm của MLNQ cũng đă t́m cách phối hợp
với một số tổ chức và chuyên viên trong các
Cộng đồng VN ở Hoa ḱ, Âu châu và Úc châu
để phân cơng và hợp tác trong các hoạt
động nhân quyền và dân chủ. Điều này
tiết kiệm được nhân lực, tài lực
cho nhau, khơng những thế cịn tránh
được sự dẫm chân lên nhau. Mặt khác,
những sự hợp tác này làm gia tăng t́nh thân
hữu và tín nhiệm lẫn nhau giữa những
tổ chức của Ngừơi Việt dân chủ.
Những sự thành cơng ban đầu
rất tích cực này là nhờ MLNQ qui tụ
được các thế hệ khác nhau, từ các vị
cao niên nhiều kinh nghiệm và uy tín tới những
người trung niên nhiều nhiệt huyết, kết hợp
được cả một số phụ nữ tích
cực và cĩ uy tín trong cộng đồng. Điều
đáng chú ư nhất và cũng là điểm son của MLNQ
là cĩ sự tập hợp của nhiều khuynh hứơng khác nhau, nhưng trong khi làm việc
đều giữ tinh thần làm việc dân chủ và
cĩ hiệu năng.
Cách hoạt động của MLNQ trong
những năm qua đang đem lại những lợi ích
rất cụ thể trong việc tranh đấu cho nhân
quyền ở VN. Từ việc tố cáo trứơc
dư luận quốc tế về những hành
động chà đạp nhân quyền của CSVN cũng
như việc vận động chính giới Mĩ và các
Cộng đồng ngừoi Việt trong việc trả
tự do cho các tu sĩ và những Ngừơi Dân chủ
bị giam giữ ở trong nứơc.
Như chúng ta thấy, các hoạt
động nhân quyền khơng chỉ quan trọng trong
giai đoạn hiện nay, mà nĩ cịn giữ một
vai trị quan trọng và rất thiết thực trong giai
đoạn chuyển tiếp từ độc tài sang dân
chủ ở trong nước. V́ hiện nay và trong một
tương lai gần VN cịn vắng bĩng một vài
chính đảng dân chủ cĩ uy tín và đủ bản
lĩnh, cho nên trong giai đoạn giao thời, các tơn
giáo, các tổ chức chuyên viên, trí thức và các tổ
chức hoạt động nhân quyền sẽ cĩ
thể đĩng vai trị vừa hổ trợ và trung
gian để h́nh thành một xă hội dân chủ ở VN.
Rất mong MLNQ sẽ tiếp tục vươn lên
để đảm nhận những vai trị quan
trọng trong thời gian trứơc mắt!
TIỂU SỬ
TÓM
LƯỢC
* Tốt nghiệp Cử nhân Khĩa I trường Chính
trị-Kinh doanh Viện Đại học Đà lạt
1968.
* Du học tại Đức 1969. Cao học Chính trị
tại Viện Otto-Suhr-Institut, Đại học Tự do
Tây Bá linh.
* Tiến sĩ Chính trị học 1978 tại
Đại học Tây Bá linh với luận án bằng
tiếng Đức:
Chính sách Việt
Nam của Hoa ḱ
Từ học thuyết Johnson tới chủ
thuyết Nixon-Kissinger.
Hay sự thay đổi chính sách ngoại
giao của Mĩ.
Luận án đă in thành sách 540 trang, xuất
bản 1978
* Sách thứ hai cũng viết bằng
tiếng Đức:
T́nh
h́nh chính trị tồn Việt Nam từ 1975- 1982:
Ước vọng và thực tế !
Xuất
bản 1985, 270 trang
* Giảng dậy và nghiên cứu trong
một số Đại học và các Viện nghiên cứu
ở Đức về vấn đề Việt Nam và Bang
giao Quốc tế.
* Chủ tịch Tổ chức Nhân
quyền Việt Nam ở Đức (1982-1990)
* Chủ bút tạp chí Nhân Quyền
(1982-1990)
* Chủ tịch Hiệp hội Dân
chủ và Phát triển Việt Nam
* Chủ bút tạp chí Dân chủ & Phát
triển