TỰ DO NGÔN LUẬN,
QUYỀN CĂN BẢN CỦA CON NGƯỜI
VÀ NỀN TẢNG CỦA THỂ CHẾ DÂN
CHỦ
Nguyễn
Học Tập
(Bài
tham luận tại ĐH Mạng lưới Nhân Quyền
kỳ VI)
A – Quyền căn bản của con
người.
Ước vọng
dân chủ, quyền b́nh đẳng, quyền tự do ngôn
luận cùng với một số quan niệm về
quyền tự do khác của con người
được viết thành văn bản trên dưới
200 năm nay, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa
Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách
mạng Pháp 1789.
Nhưng những
đ̣i hỏi của con người được
đối xử b́nh đẳng với người khác,
có quyền tự do phát biểu ư kiến để phổ
biến tư tưởng của ḿnh đến
người đồng loại, nhứt là đến
những người cùng sống gần gũi ḿnh,
sống trong cộng đồng với ḿnh, có quyền
quyết định lấy đời sống của cá
nhân ḿnh, quyết định để bảo vệ
người thân thuộc ḿnh và bảo vệ nhà cửa,
đất đai nơi ḿnh đang cư ngụ, là
những nhu cầu căn bản của con người
đă có từ ngàn xưa, từ thuở con người
xuất hiện trên mặt đất.
Những nhu cầu
căn bản trên của con người chúng ta vừa
liệt kê, không có ǵ khác hơn là quyền b́nh đẳng,
quyền tự do ngôn luận và thể chế dân chủ.
Các tư
tưởng đó, chúng ta có thể t́m thấy dấu
vết ngay trong ngôn ngữ Hy Lạp, từ thời
Cộng Hoà Athene, thế kỷ thứ 2-3 sau Thiên Chúa Giáng
Sinh.
-
Ngoài ra từ ngữ “ Demokratía”, là danh từ kép, do “ demos” : dân chúng; “krátos”:
quyền hành. Quyền hành của Quốc Gia thuộc
về dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền
lực Quốc Gia. Hay “ quyền
tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân”
hay “ Dân Chủ”, nói như
ngôn từ của chúng ta,
-
Chúng ta cũng có “ Isonomía” là danh từ kép, do “ ísos”: như nhau; “ nómos”:
luật lệ. Luật lệ như nhau cho tất cả
mọi người hay “ mọi
người đều b́nh đẳng trước pháp
luật”.
-
Và chúng ta cũng có “ iségoria” là danh từ kép, do “ ísos”: như nhau; “ agorà”:
cộng đồng. Mọi người đều như
nhau, ngang nhau trong cộng đồng đang nhóm họp.
Mọi người có quyền lên tiếng, bày tỏ ư
kiến và biểu quyết như nhau trong cộng
đồng đang tựu họp để quyết
định mục đích và phương thức phải
có liên quan đến cuộc sống chúng trong Thị Xă “ Polis”. Mọi người
đều có quyền lên tiếng như nhau trong các
buổi họp của cộng đồng để
quyết định đường lối tổ chức
( Politica, Politique, Policy, Politik
) cho cuộc sống chung trong cộng đồng Thị Xă
( Polis ) hay “ tự do ngôn luận”.
Thể chế dân
chủ tự do, quyền b́nh đẳng trước pháp luật,
quyền tự do ngôn luận vừa kể và những
quyền căn bản khác bất khả xâm phạm
của con người, được Hiến Pháp Cộng
Hoà Liên Bang Đức 1949
liệt kê từ điều 2 đến điều
19, trước khi định nghĩa thể chế
Quốc Gia ở điều 20. Điều đó cho
thấy Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức
đặt nhân vị và các quyền bất khả xâm
phạm của con người, trong đó có quyền
tự do ngôn luận là quyền tối quan trọng, ở địa
vị trung tâm điểm và tối thượng trong
tổ chức Quốc Gia, ngay cả trước khi
định nghĩa để xác định thể
chế Quốc Gia.
Quốc Gia
được xây dựng để phục vụ con
người chớ không ngược lại. Do đó
Quốc Gia đứng ra bảo vệ con người ngay
ở điều khoản đầu tiên của Hiến
Pháp:
“ Nhân phẩm con người bất khả xâm
phạm…
Những
quyền căn bản bất khả xâm phạm của con
người sẽ được kể sau đây là
những quyêàn có giá trị bắt buộc trực tiếp
đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp”
( Điều 1, đoạn 1 và 3, Hiến Pháp 1949 Cộng
Hoà Liên Bang Đức).
Các cơ chế
quốc gia là những chủ thể trực tiếp được quy trách cho
việc tôn trọng và bảo vệ các quyền bất
khả xâm phạm của con người, trong đó có
quyền tự do ngôn luận.Tôn trọng và bảo vệ
không có nghĩa chỉ là bảo vệ khỏi bị vi
phạm, đàn áp, mà c̣n tạo các điều kiện
thuận lợi
để bảo đảm
cho các quyền trên có thể được thực thi và
tồn tại.
B – Tự do ngôn luận
nền tảng của thể chế dân chủ.
Một trong những
đăïc tính không thể thiếu của nền dân
chủ, nếu muốn được gọi là dân chủ
thật sự, là những người lănh đạo Quốc
Gia nói chung và Chính Quyền nói riêng là những người
lănh đạo do sự đồng thuận của đa
số.
Nói cách khác, Chính Quyền trong thể chế
dân chủ là Chính Quyền được chính danh hóa
(légitimé) do sự đồng thuận của đa số.
Trong thể chế
dân chủ, không ai tự cho ḿnh là đại diện
của dân, hành xử quyền của dân, do dân và v́ dân, là
đội ngủ tiền phong của nhân dân,
nếu không được đa số dân chúng
đồng thuận phong tước cho.
Quyền hành của
thể chế dân chủ là quyền hành phát xuất từ
hạ cấp, được thành phần dân chúng bị
trị phong cho, ngược
với quyền hành trong chế độ quân chủ hay
độc tài tự tôn, cho rằng quyền lực ḿnh hành
xử là quyền bính do họ tộc, cha truyền con
nối hoặc do chính ḿnh đoạt được, do
đảng ḿnh quy cho, do thiên mệnh hoặc do dân chúng
đồng thuận mặc nhiên giao cho không cần kiểm
chứng. Nói cách khác quyền hành trong thể chế quân
chủ hay độc tài là quyền hành phát xuất từ
bên trên.
Quyền hành không do
dân chúng đa số đồng thuận phong cho, không
phải là quyền hành dân chủ.
a)Tự do ngôn luận trong tiến tŕnh chọn
người lănh đạo.
Cách thức chọn
người đại diện ḿnh lănh đạo trong thể chế dân chủ
được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang
Đức tuyên bố:
“ Các Dân Biểu Hạ Viện ( Bundestag)
được tuyển chọn qua các cuộc đầu
phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, b́nh
đẳng và kín” ( Điều 38).
Các tĩnh từ “ phổ thông, trực tiếp, b́nh
đẳng và kín” nêu lên những đặc tính khá minh
bạch, có lẽ chúng ta không cần hay chưa cần
đề cập đến, nếu chúng ta chưa xác
định được thoả đáng tĩnh từ “ tự do”.
Từ ngữ “ tự do” ở đây, không
chỉ dùng để đề cập đến
động tác bỏ phiếu không bị giới hạn,
không bị áp chế của người dân trong lúc bỏ
phiếu, mà c̣n hàm chứa những điều kiện
phải có trước đó. Bởi lẽ không có những
điều kiện phải có ( sine
qua non) trước đó, động tác được
coi là “tự do ” trong ngày
bỏ phiếu, sẽ không thể hiện được
“tự do” bao nhiêu để
có thể tuyên bố và bảo đảm cho dân chủ.
Đó là chưa
kể đến những h́nh thức “ tự do giả tạo” của chính động
tác bỏ phiếu.
Những điều
kiện tiên quyết không thể thiếu, trước khi
có cuộc bầu cử “ tự
do”, có khả năng phong tước một cách dân
chủ cho những ai đại diện dân lănh đạo
Quốc Gia là trong thời gian chuẩn bị, các quyền “
tự do ngôn luận, tự do
truyền bá tư tưởng, tự do lập hội và
tự do gia nhập hội” phải được tôn
trọng.
Nói cách khác, trong
thời gian chuẩn bị, người dân phải có
quyền lập đảng và gia nhập đảng. Các
chính đảng được tự do thành lập và
hoạt động, có quyền tự do ngôn luận
để phổ biến đến dân chúng lư tưởng
dân chủ, các bậc thang giá trị phải
được tôn trọng, chính sách lănh đạo Quốc
Gia và các chương tŕnh khả thi và hữu hiệu mà ḿnh
muốn thực hiện cho Quốc Gia.
Muốn cho cuộc
bầu cử có ư nghĩa dân chủ thực sự, các chính
đảng phải có thời gian và tự do để
phổ biến và thuyết phục dân chúng những ǵ chúng
ta vừa đề cập.
Các chính đảng
phải có quyền tự do ngôn luận, được
xử dụng các phương tiện truyền thông
để chuyển đạt đến dân chúng chủ
trương và chương tŕnh thực hiện cho
đất nước. Các chính đảng phải
được tự do thành lập, hoạt động,
xử dụng các phương tiện truyền thông mà không
bị hâm doạ.
Các chính đảng phải được
tự do tạo ra dư luận quần chúng.
Bởi v́ nếu
chúng ta đồng ư rằng đặc tính không thể
thiếu của thể chế dân chủ là
“ Chính Quyền của thể chế dân chủ là chính
quyền được phát sinh do sự đồng
thuận của đa số dân chúng” ( Giovanni Sartori, Democrazia, Che Cosa è?, Milano,
Rizzoli, 61),
th́ “ …nền tảng
của Chính Quyền dân chủ là sự đồng
thuận của quần chúng” ( Dicey, A.V., Lectures on the
Relation Between Law and Public Opinion in England during the XIX Century,
London , MacMilan, 1905,3).
Chúng ta nên lưu ư là chúng ta đang dùng danh từ “ sự đồng thuận” (
consensus) của dân chúng thay v́ “ dư
luận quần chúng” ( opinio ). Dân chúng đồng
thuận ( consensus, do từ ngữ La Tinh cum : với nhau, và sensus
( sentire): cảm thấy. Như vậy “ đồng thuận” (consensus): cùng chung với nhau
cảm thấy, cảm thấy như nhau, từ đó liên
kết nhau, chung nhiệm vụ với nhau).
Đồng thuận với nhau hay cùng cảm thấy
như nhau về những ǵ:
-
đồng thuận
nhau về các bậc thang giá trị và lư tưởng
phải hướng đến trong việc tổ chức
Quốc Gia,
-
đồng thuận
nhau về định chế để thực hiện các
lư tưởng và giá trị đó vào cuộc sống
thực tế của cộng đồng Quốc Gia,
-
đồng thuận
chọn người đại diện ḿnh để
thừa hành.
Nhưng muốn đồng thuận phải có ư
kiến. Đồng thuận về vấn đề ǵ? Ư
kiến là đối tượng của sự
đồng thuận.
Nhưng ư kiến không tự dưng có
được. Ư kiến được phát sinh sau khi chúng
ta được thông tin, suy tư, chọn lọc, đúc
kết.
Muốn có ư kiến quần chúng thật sự
được tự do kết thành, trong thêû chế dân
chủ, chúng ta cần có 3 điều kiện:
-
tự do tư
tưởng,
-
tự do ngôn luận
để truyền bá tư tưởng,
-
các nguồn thông tin
đa nguyên.
Người dân phải được tự do thu
thập các nguồn tư tưởng và có quyền
kiểm soát những ǵ được nói ra, viết ra xem
có phù hợp với sự thật hay không, những ǵ
được nói được viết ra có phù hợp
với sự thật đă được nói ra, đă
xảy ra hay không.
Tầm mức quan trọng đó đă
được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang
Đức đứng ra bảo đảm:
“ Mọi công dân
đều có quyền phát biểu và truyền bá một cách
tự do ư kiến của ḿnh bằng lời nói, bằng
chữ viết và h́nh ảnh, và được tự do thông
tin mà không bị cản
trở, từ các nguồn truyền thông mà ai cũng tham
dự được…Tự do báo chí và tự do truyền
thông bằng đài phát thanh ( phương tiện tân
tiến nhứt đến năm 1949) và điện ảnh được bảo
đảm. Không có một sự kiểm duyệt nào có
thể được chấp nhận” ( Điều 5,
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Thiếu quyền kiểm chứng sự thật làm
bảo chứng, tự do tư tưởng và tự do ngôn
luận để truyền bá tư tưởng sẽ
biến thành tự do lường gạt, tự do mạ
lỵ, tự do truyền bá những điều thất
thiệt.
Do đó quyền tự do ngôn luận được
gắn liền với quyền tự do kiểm chứng
sự thật và tố giác những tuyên truyền thất
thiệt, lường gạt và mạ lỵ.
Nhà Nước XHCN với chế độ
độc quyền giáo dục, kiểm soát phương
tiện truyền thông, độc tôn về ư thức
hệ XHCN, nghiêm cấm văn hoá và tư tuởng, tin
tức của các “ người
nước ngoài”, có tôn trọng tự do ngôn luận,
phương tiện chính yếu để đưa
đến sự đồng thuận đích thực,
nền tảng của thể chế dân chủ không?
Hỏi để chúng ta trả lời.
Tự do tư tưởng và tự do ngôn luận
để truyền bá tư tưởng để kiến
tạo dân chủ như vừa thấy, phải
được bầu không khí an ninh che chở.
Được luật pháp che chở chưa
đủ ( giả sử luật pháp có giá trị thực
hữu trong cơ chế XHCN), cần phải có môi
trường sống không làm cho con người phải
sợ sệt. Hệ thống công an dày đặc kiểm
soát từ thành thị đến thôn quê, một cử
chỉ, một lời nói không “ nhất
trí ” với Đảng và Nhà Nước đều không
thể qua khỏi cặp mắt cú vọ của công an và
đương sự sẽ được công an chiếu
cố mời đi “ làm
việc” ở văn pḥng công an phường, công an xóm.
Và ai có đặc ân được Đảng chiếu
cố kỹ hơn, sẽ được Đảng cho
đi “ học tập cải
tạo” không biết ngày về. Trong bầu không khí
vừa kể, người dân có được an tâm, che
chở hay “ bảo đảm”
của điều 5 Hiến
Pháp 1949 CHLBĐ vừa kể không? Hỏi để chúng ta
trả lời.
Bởi lẽ “ …một
khi sợ không dám nói ra những điều ḿnh suy nghĩ,
dần dần nguời ta cũng sẽ không c̣n muốn suy
nghĩ những điều ḿnh không dám nói nữa” (
Giovanni Sartori, op. cit., 69).
Câu văn vừa trích dẫn của giáo sư Giovanni
Sartori cho thấy sự liên hệ giữa tự do tư
tưởng và tự do ngôn luận. Không có điều
kiện để con người được tự do
tư tưởng, th́ tự do ngôn luận cũng không
thể có được. Và không có tự do ngôn luận,
sẽ không thể có tự do tạo dư luận và không
có sự đồng thuận đích thực, yếu tố
thiết yếu để chọn người đại
diện một cách dân chủ lănh đạo Quốc Gia.
Nói tóm lại, không có tự do tư tưởng,
tự do ngôn luận sẽ không có Quốc Gia dân chủ
đích thực.
b) Tự
do ngôn luận và dân chủ luân phiên.
Ai trong chúng ta cũng biết, trong một thể
chế dân chủ, khi có cuộc bầu cử th́ có kẻ
thắng người thua.
Nhưng thua, không có nghĩa là bị loại khỏi
ṿng chiến, bị loại khỏi môi trường và
đường lối chính trị lănh đạo Quốc
Gia. Thành phần thiểu số không thắng cử cũng
cần thiết cho cuộc sống dân chủ như nhóm
người đắc cử đương quyền ( G.
Sartori, op. cit., 59-78).
Người Anh thường gọi thành phần thua
cuộc, thiểu số đối lập, thất cử
trong cuộc bầu cử Quốc Hội vừa qua là Chính Phủ Trong Bóng Tối (
Shadow Government).
Chính Phủ Trong Bóng Tối đang chờ để
chuẩn bị ra ánh sáng lănh đạo Quốc Gia trong
nhiệm kỳ tới, với chương tŕnh hiệu
năng hơn và hấp
dẫn hơn những ǵ giới đương nhiệm đang
làm.
Thành phần đối lập hành xử quyền
đối lập của ḿnh bằng cách chỉ trích,
kiểm soát, thắng bớt, cân bằng, điều
chỉnh chính hướng lănh đạo Quốc Gia sao cho
đường lối chính trị đó “thích hợp và hiệu năng”, mưu lợi ích
cho xứ sở.
Ngay cả việc
thành phần đối lập phản đối hay
cắt giảm ngân sách công qũy hàng năm cũng đă là
tiếng nói cảnh tỉnh cho “ thích
hợp và hiệu năng” đối với
đường lối và hoạt động của
giới đương nhiệm. Đó là chưa nói
đến những ư kiến đồng thuận, sửa
đổi hay phản đối trên những lănh vực
khác, đối nội cũng như đối ngoại.
Với khả năng trung hoà, hạn chế quyền
lực Quốc Gia mà giới đương nhiệm
đang hành xử bằng những hoạt động
của ḿnh, thành phần thiểu số đối lập
cộng tác tăng cường “ hiệu
năng” cho nguyên tắc dân chủ và pháp trị
để bảo toàn và nới rộng thêm khuôn
thước tự do của cá nhân ( Gherig, “ Gewalenteilung
zwissen Regierung und parlamentarische Opposition, in DVBL, 1971, 633s).
Sự hiện diện của thành phần thiểu
số đối lập là tiếng chuông cảnh tỉnh
luôn gióng lên bên tai rằng thời gian hành quyền của
Chính Phủ đương nhiệm được tính
từng ngày một. Cuộc đời của Chính Phủ
đương nhiệm sẽ cáo chúng vào dịp tuyển
cử tới, nếu họ không tuân luật pháp, đi
ngược lại nhu cầu và ước vọng của
dân chúng, nếu họ không quản trị hiệu năng
và v́ lợi ích chung, thay v́ thiên vị, bè phái như họ
đang làm.
Xác tính được vai tṛ trọng yếu không
thể thiếu đó của thành phần thiểu số
đối lập trong thể chế dân chủ, Hiến
Pháp 1949 CHLBĐ dành cho thành phần đối lập
khả năng thực hữu để “ chỉ trích, kiểm soát, thắng bớt, cân
bằng, điều chỉnh chính hướng Quốc Gia
” đối đầu với các âm mưu lạm quyền
lúc nào cũng có đối với giới đương
quyền.
Và đây là bằng chứng:
“ ( Viện Bảo Hiến Liên Bang sẽ quyết
định) trong trường
hợp bất đồng ư kiến hay nghi vấn về
các vấn đề hợp hiến hay bất hợp
hiến giữa luật pháp Liên Bang hay luật pháp của
Tiểu Bang đối với Hiến Pháp hiện tại,
hoặc giữa luật pháp của Tiểu Bang với các
đạo luật của Liên Bang, nếu được
Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang
hay 1/ 3 Nghị Sĩ Hạ Viện Liên Bang yêu cầu” (
Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Đoạn văn “…Chính
Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ
của Hạ Viện Liên Bang yêu cầu” cho thấy
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ nâng cao khả năng “ đối lập” của
thành phần thiểu số đối lập lên lằn
mức “ khả thi ”.
Trong một Quốc Gia Liên Bang như CHLBĐ hay Hoa
Kỳ, thành phần đa số đang chiếm đa
số ghế trong Quốc Hội và lănh đạo Chính
Phủ Liên Bang. Nhưng thành phần thiểu số
đối lập có thể đang lănh đạo Chính
Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang nào đó,
cũng như đang chiếm 1/3 số ghế trong Hạ
Viện Liên Bang. Hiến Pháp xác định là mỗi khi có
một Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3
nghị sĩ Hạ Viện Liên Bang yêu cầu là Viện
Bảo Hiến sẽ duyệt xét tích cách hợp hiến
hay vi hiến của các đạo luật mà giới
đương quyền đưa ra.
Quyết định như vậy là Hiến Pháp trao
cho thành phần thiểu số đối lập khả
năng thực hữu kiểm soát tính các hợp hiến
hay vi hiến các luật pháp được ban hành và
hoạt động của Chính Phủ cũng như thành
phần đa số trong Quốc Hội.
Nói cách khác Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đă trao cho thành
phần đối lập có thực quyền để
thừa hành “ quyền và
nhiệm vụ” đối lập của ḿnh, bênh
vực quyền lợi cho xứ sở, bênh vực
quyền và tự do cho người dân.
Thành phần thiểu số đối lập trong
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ không phải chỉ là “ nghị gù, nghị gật”, và
cũng không phải là nô bộc “ vâng, dạ” của Đảng và Nhà Nước,
trong thể chế trong đó:
“…Đảng là Bậc
Thầy không thể sai lầm về phương diện ư
thức hệ; về phương diện áp dụng
thực hành, Đảng là sự Chính Xác Tuyệt Đỉnh;
về phương diện trí thức, Đảng là
Thần Thánh” ( R.G. Wesson, Lenin’s Legacy: The Story of CPSU, in The
Breznev Party, Standford Univ., Standford, California, 1978, 255).
Như vậy, thiểu số đối lập là
yếu tố không thể thiếu để “ chỉ trích, kiểm soát,
thắng bớt, cân bằng và điều chỉnh”
cũng như là yếu tố “ dân
chủ luân phiên” ( Alternanzdemokratie) của nền dân
chủ đích thực, khác với lối hành xử
độc tài, độc đảng, tự tôn và tự
phong tước cho ḿnh để cố bám lấy quyền
lực ( Schneider- Zeh, Parlamentsrecht und Parlamentspraxis in der
Bundesrepublik Deutschland, Berlin - New York, 1989, 1063-1064).
Thiểu
số đối lập không có quyền tự do
đối lập, không có dân chủ luân phiên, sẽ không có
dân chủ.
Sự
hiện diện của thành phần thiểu số
đối lập là h́nh thức bảo vệ dân chủ và
làm cho“ Dân Chủ Cầu
Tiến, Dân Chủ Hiệu Năng “ thay v́ “ Dân Chủ Ngủ Gà Ngủ
Gật, Dân Chủ Bè Phái, Dân Chủ Đảng trị “ và
“ Dân Chủ Giả Dạng“ ( Gherig, op. cit. , id.).
Nhưng
tất cả những ǵ cao đẹp vừa kể
được Hiến Pháp giao cho thành phần thiểu
số đối lập
để bảo vệ và làm cho dân chủ
được phát huy sẽ trở nên vô dụng, nếu
Hiến Pháp không đứng ra bảo vệ quyền
tự do ngôn luận. Và đó là những ǵ Hiến Pháp 1949
CHLBĐ đă tiền liệu:
“ Mọi người đều có
quyền phát biểu tư tưởng của ḿnh bằng
lời nói, chữ viết và mọi phương tiện
truyền thông khác, có quyền được thông tin, mà
không ai được cấm cản, từ những
nguồn tin mà ai cũng có thể biết được.
Mọi hành vi cắt xén,
kiểm duyệt đều không thể được
chấp nhận“ (
Điều 5, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Không có quyền bày
tỏ ư kiến để “ chỉ
trích, kiểm soát, thắng bớt, cân bằng, điều
chỉnh “, thực quyền Hiến Pháp dành cho thành
phần thiểu số đối lập sẽ trở
thành vô dụng.
c ) Tự do ngôn luận và kiểm soát hạn chế
quyền lực.
Hai
yếu tố vừa được bàn đến, tự
do bầu cử và tự do đối lập, trong thể
chế dân chủ không có mục đích ǵ khác hơn là
tạo được một nhóm người đại
diện lănh đạo Quốc Gia nói chung và Chính Quyền
nói riêng được sự đồng thuận của
đa số chính danh hoá cho việc thừa hành quyền lực Quốc Gia ,
hành xử trong giới mức hiến định và
hiệu năng để bảo vệ người dân và
đem lại lợi ích chung cho xứ sở.
Nhưng
trong thể chế dân chủ, quyền lực Quốc Gia
được trao cho các người đại diện
thừa hành phải được người dân, chủ
nhân của quyền lực tối thượng Quốc Gia
luôn luôn kiểm soát và hạn chế, nếu không chủ
nhân của quyền lực Quốc Gia có thể trở
thành nô bộc cho giới cầm quyền, bị đàn áp
và tước đoạt bởi những người
đại diện, thay v́ được họ phục
vụ.
Đặc
tính trước tiên của các Hiến Pháp của các
Quốc Gia dân chủ Tây Âu là đặc tính bảo
chứng ( garantisme), áp dụng nhiều kỹ thuật
bắt buộc giới hành quyền đương
nhiệm phải tuân theo, xác định lằn mức không
thể vượt qua cũng như những điều
khoản bắt buộc phải thi hành, để bảo
vệ quyền và tự do của người dân, cũng
như định hướng đường lối cai
trị hiệu năng và không thiên vị.
Nhưng
điều chúng tôi muốn đề cập ở đây
không phải là nghiêng cứu và b́nh luận những kỹ
thuật hiệu năng được áp dụng
để bênh vực con người và tạo nên thể
chế dân chủ thực hữu ( démocratie substantielle) trong
các Hiến Pháp vừa được đề cập (
chúng tôi đă có dịp bàn đến trong bài “ SOẠN
THẢO VÀ TU CHÍNH HIẾN PHÁP“).
Điều
mà chúng tôi muốn suy tư ở đây, liên quan đến
quyền tự do ngôn luận đang bàn, là tự do ngôn
luận, yếu tố tối quan trọng để
chọn người đại diện lănh đạo
quốc gia một cách dân chủ thực sự và bảo
đảm cho nền dân chủ cầu tiến và hiệu
năng, qua vai tṛ của thành phần đối lập,
như đă nói.
Ngoài
ra quyền tự do ngôn luận được các Hiến
Pháp dân chủ Tây Âu dành cho dân chúng như là dụng cụ
để kiểm soát hành vi của giới đương
quyền lănh đạo.
Ai
trong chúng ta cũng biết để tránh quyền lực
tập trung vào tay một chủ thể duy nhứt, vua trong
thời quân chủ hay Đảng ở các Quốc Gia
Cộng Sản, các Quốc
Gia dân chủ hiện nay phân chia quyền lực Quốc Gia
theo hàng ngang, lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Các quyền lực Quốc Gia
được chia như vậy độc lập,
để kiểm soát và cân
bằng nhau ( Checks and Balances) theo tinh thần của
Hiến Pháp Philadelphia 1787.
Ngoài
ra cách phân chia hàng ngang như vừa nói, các Hiến Pháp dân
chủ Tây Âu hiện nay c̣n phân chia quyền lực Quốc
Gia theo hàng dọc, từ trung ương đến
địa phương, cộng đồng địa
phương ( vùng, tỉnh, quận, tổ chức xă
hội trung gian, công đoàn, tổ chức kỷ nghệ
và kinh tế…).
Nói
cách khác Hiến Pháp đă trao cho các cộng đồng
địa phương quyền tự do ngôn luận
để cộng tác xác định đường
lối chính trị Quốc Gia. Tiếng
nói của cộng đồng điạ phương không
phải là tiếng nói của người dân địa
phương chỉ liên quan đến nhu cầu và
ước vọng dân chúng sở tại, mà c̣n là tiếng
nói của những người dân cư ngụ trên một
phần lănh thổ Quốc Gia bày tỏ ư kiến và
đồng thuận liên quan đến đường
lối lănh đạo cho cả đất nước,
để kiểm soát, hảm thắng, định
hướng và quyết định trợ giúp giới lănh
đạo đương quyền.
Đó
là những ǵ Hiến Pháp 1947 Ư giao phó cho người dân
địa phương
- quyền đề xướng dự án luật
Quốc Gia:
*“ Quyền đề
xướng luật pháp thuộc về Chính Quyền,
mỗi thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội
và các cơ quan và tổ chức được luật hiến
pháp giao cho.
Dân chúng hành xử quyền đề
xướng luật pháp, qua sự yêu cầu của ít
nhứt 50.000 cử tri, bằng một dự thảo
luật viết thành điều khoản “ ( Điều 71, Hiến Pháp 1947 Ư).
*“Hội Đồng
Địa Phương ( Vùng) hành xử quyền lập
pháp và thiết định quy chế được giao cho
địa phương và các vai tṛ khác được
Hiến Pháp và Luật Pháp quy trách cho. Hội Đồng
Địa Phương có thể tŕnh bày các dự thảo
đến Lưỡng Viện quốc Hội“ (
Điều 121, id.).
- quyền triệu
tập trưng cầu dân ư, băi bỏ những đạo
luật không thích ứng với nhu cầu và ước
vọng dân chúng:
“ Trưng cầu dân ư để băi
bỏ toàn diện hay một phần điều khoản
luật pháp hoặc các sắc lệnh có hiệu lực
pháp định sẽ được đề
xướng , khi có 50.000 cử tri hoặc 5 Cộng
Đồng Địa Phương vùng yêu cầu“ (
Điều 75, đoạn 1 , id.).
- quyền đại diện của Cộng
Đồng Địa Phương tham dự bầu cử Tổng Thống:
“ Tổng Thống Cộng Hoà
được Lưỡng Viện Quốc Hội bầu
ra trong phiên họp chung của các thành viên.
Mỗi Cộng Đồng
Địa Phương Vùng có ba đại diện
được Hội Đồng Vùng tuyển chọn tham
dự cuộc bỏ phiếu, thế nào cho các thành
phần thiểu số cũng được đại
diện“ ( Điều 83,
đoạn 1 và 2, id.)
- quyền
thay đổi và bổ túc Hiến Pháp:
“ Các luật về sửa
đổi Hiến Pháp và các luật hiến pháp khác
được mỗi Viện Quốc Hội áp dụng
đều phải được Quốc Hội bỏ
phiếu tán đồng qua hai cuộc bỏ phiếu trong
khoản thời gian không dưới ba tháng. Các luật
vừa kể phải được tán đồng
của mỗi Viện Quốc Hội với đa số
tuyệt đối ( 50%+1 phiếu) ở lần bỏ
phiếu thứ hai.
Các luật trên có thể
được đưa ra trưng cầu dân ư, nếu
trong ṿng 3 tháng sau ngày công bố có 1/5 nghị sĩ của
một Viện quốc Hội, 50.000 cử tri hoặc 5
Cộng Đồng Địa Phương Vùng yêu cầu…“ ( Điều 138, đoạn 1 và 2 , id.).
- quyền
các vị Chủ Tịch Cộng Đồng Địa
Phương phải được mời tham dự các
phiên họp của Nội Các Chính Phủ ( Temistocle
Martines, Lineamento di diritto regionale, Milano, 1997, 99).
Nói
tóm lại, tất cả những kỹ thuật giới
hạn và dành quyền hạn rộng rải cho nhiều
chủ thể khác nhau trong Cộng Đồng Quốc Gia
với quyền tự do ngôn luận là dụng cụ,
Hiến Pháp không có mục đích ǵ khác hơn là quy trách,
kiểm soát và hạn chế những ai đại diện
người dân hành xử quyền lực Quốc Gia thay cho
họ, để bảo đảm việc tôn trọng và thực thi các quyền
bất khả xâm phạm của con người và hiệu
năng hoạt dộng của giới hành quyền, theo
thể thức dân chủ và cho mọi thành phần dân chúng
có quyền và có phương tiện tham dự thiết
thực vào đường lối chính trị lănh đạo Quốc Gia.
Dân
chủ, có nghĩa là người dân là chủ nhân quyền
lực Quốc Gia bất cứ lúc nào, trước khi,
đang khi và sau khi trao quyền cho người đại
diện. Bất cứ lúc nào Hiến Pháp cũng phải
tiên liệu cho người dân có phương tiện, và
quyền tự do ngôn luận là phương tiện
thiết yếu không thể thiếu, để góp phần
tích cực để phát huy và hoàn hảo hóa chính
hướng, cũng như hảm thắng, cắt bớt,
kiểm soát hay khai trừ trong giới mức hiến
định, mọi lạm quyền chống lại
phương thức hành xử thiếu hiệu năng, bè
phái và không tôn trọng nhân vị con người.
c ) Tự do ngôn luận, quyền
tự vệ của người dân.
“ Bất cứ ai tạm thời
bị bắt giam v́ bị nghi ngờ có hành vi phạm pháp,
nội trong ngày hôm sau,
đều phải được dẫn đến
trước quan toà. Vị quan toà phải thông báo cho
đương sự biết lư do bị bắt giam,
phải nghe đương sự tŕnh bày hay làm cách nào
để đương sự có thể biện minh. Sau
đó quan toà hoặc phải đưa ra trác án giam giữ
bằng chữ viết hoặc phải ra lệnh phóng thích
tức khắc“ ( Điều 104, đoạn 3 Hiến
Pháp 1949 CHLBĐ).
Điều
khoản vừa được trích dẫn cho thấy
tầm quan trọng của quyền tự do ngôn luận,
trong việc bảo vệ quyền tự do của
người dân, “ Quan
toà…phải nghe đương sự tŕnh bày hay làm cách nào
để đương sự có thể biện minh“.
Cũng
vậy:
“ Mọi người có quyền
hành xử quyền của ḿnh ở toà án để bảo
vệ chính ḿnh và lợi thú chính đáng của ḿnh.
Quyền tự vệ là quyền bất khả xâm
phạm ở bất cứ t́nh trạng và đẳng
cấp nào trong tiến tŕnh xử án.
Đối với những ai không có phương
tiện, Quốc Gia có bổn phận thiết lập ra các cơ quan , phương
tiện để họ có thể hành xử để bênh
vực ḿnh trước bất cứ phiên toà nào“ ( Điều 24, đoạn 1,2 và 3
Hiến Pháp 1947 Ư quốc).
“ Quốc Gia có bổn phận
thiết lập ra các cơ quan, phương tiện
để họ hành xử…“, điều đó cho
thấy không những quốc Gia đứng ra tuyên bố “
nhận biết và bảo
vệ các quyền bất khả xâm phạm của con
người…“ ( Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc),
mà c̣n quy trách cho chính ḿnh phải tạo các phương
tiện cần thiết để bảo đảm cho các
quyền căn bản của con người
được thực hiện và được bảo
vệ cho tồn tại, trong đó quyền tự do ngôn
luận là một.
Không
có tự do ngôn luận, người dân bị tước
đoạt quyền tự vệ, một trong những
quyền căn bản của con người.
Và
trước toà án:
-
“ Trước
toà án, mọi người có quyền phải
được các thẩm phán lắng nghe theo thể
thức luật định“ ( Điều 103,
đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ.).
C̣n
nữa, trong cuộc sống thường nhật, ai
cảm thấy các quyền tự do của ḿnh bị
cơ chế Quốc Gia xúc phạm, có thể đệ
đơn tố cáo:
-
“ Ai thấy các quyền của ḿnh bị cơ quan công
quyền vi phạm, có thể đệ đơn tố
cáo với cơ quan tư pháp. Bởi v́ không có một
cơ quan thẩm quyền nào khác hơn là thẩm quyền
của quyền tư pháp thường nhiệm…“ ( Điều 19, đoạn 4, id.).
Quyền
tự do ngôn luận của người dân trong thể
chế dân chủ được quan niệm dưới
h́nh thức tiêu cực trong các Hiến Pháp dân chủ Tây Âu,
như là dụng cụ để bảo vệ công chính cho
người dân bị t́nh nghi phạm pháp, hay trong
trường hợp bị cơ quan công quyền làm
tổn thương các quyền tự do của ḿnh, như
chúng ta vừa thấy.
Quyền tự do ngôn
luận được các Hiến Pháp Tây Âu c̣n
được quan niệm tích cực hơn, tự do phát
biểu tư tưởng của ḿnh để góp phần
xây dựng Quốc Gia, sữa chửa những thiếu
sót, bất toàn và đề nghị những phương
thức, mục đích hữu hiệu và lợi ích hơn
cho đất nước:
-
“ Mỗi người đều có quyền đệ
đơn, tự ḿnh hay cùng hợp tác với những
người khác, thỉnh nguyện thư hoặc khán thư đến cơ quan
công quyền có thẩm quyền cũng như đến
cơ quan đại diện dân cử“ ( Điều 17
Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Người dân hành
xử quyền tự do ngôn luận của ḿnh một cách
có hiệu quả hơn, nếu họ cùng chung hành xử
quyền tự do đó với người khác.
Đó là những ǵ
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc , không những không cấm cản
mà c̣n khuyến khích người dân của ḿnh hành xử
quyền tự do ngôn luận, tham gia vào các tổ chức chính đảng:
-
“ Mọi công dân đều được tự do gia
nhập thành chính đảng để cộng tác theo
phương thức dân chủ xác định chính
hướng Quốc Gia“ ( Điều 49, Hiến Pháp 1947
Ư Quốc).
Nói tóm lại, không có
tự do ngôn luận sẽ không có dân chủ , các quyền
căn bản của con người không được
bảo đảm và người dân không có phương
tiện tối quan trọng để góp phần hữu
hiệu và hoàn hảo hóa đường lối chính
trị lănh đạo Quốc Gia.