VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC TÔI

PHƯƠNG NAM - AUSTRALIA

 

Hồi nhỏ tôi rất thích câu chuyện cổ tích Tấm Cám: cô Tấm xinh đẹp, thảo hiền nhưng luôn bị mẹ con nhà Cám ghen ghét t́m cách hăm hại. Thế rồi Tấm bị chết đi, hóa thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, thành cái khung cửi, và cuối cùng Tấm từ quả thị chui ra giúp bà cụ phúc hậu kia mọi việc nhà. Một ngày nọ, nhân dừng chân ở quán nước ven đường, t́nh cờ nhà vua trông thấy những miếng trầu têm cánh phượng rất khéo, giống hệt như của vợ ḿnh têm ngày nào. Vua bèn ngỏ ư với bà cụ muốn gặp người têm trầu, Tấm bước ra, vua vô cùng sửng sốt và mừng rỡ được gặp lại vợ ḿnh, lại c̣n xinh đẹp hơn xưa. Vua cảm ơn bà cụ và xin được rước Tấm về cung. Từ đó hai người sống bên nhau hạnh phúc đến trọn đời - người ở hiền cuối cùng rồi cũng gặp lành. C̣n mẹ con nhà Cám - những kẻ gieo gió đă gặt băo, tội ác đă bị trừng phạt đích đáng. Câu chuyện kết thúc thật "có hậu".

Nhưng khi lớn lên, xem xét lại câu chuyện dưới một cách nh́n khác, tôi mới giật ḿnh nhận ra rằng : bên cạnh tính thảo hiền th́ cô Tấm cũng có tính ác độc, v́ nếu hoàn toàn hiền cô không thể khuyên Cám: "nếu muốn da trắng em chỉ việc đào một cái hố thật sâu rồi ngồi xuống đó.", Cám tưởng thật nghe lời, đoạn Tấm sai người đem nước sôi dội xuống làm Cám chết ngay tức khắc. (có người c̣n kể là tự tay Tấm dội !) Vẫn chưa hết: sau đó Tấm lấy xác Cám rồi làm mắm gửi về cho d́ ghẻ! (trong những sách xuất bản gần đây, chi tiết này đă được bỏ đi), mẹ Cám không biết vừa ăn vừa khen ngon. Đến khi ăn hết nh́n xuống đáy hũ thấy đầu lâu con gái ḿnh, mụ sợ quá rú lên một tiếng rồi ngă vật ra đất chết. Thế là chỉ v́ quá căm phẫn trước những việc làm thất đức của mẹ con nhà Cám mà các cụ ta ngày xưa đă vô t́nh đẩy cô Tấm vốn xinh đẹp, thảo hiền là vậy vào ṿng tội lỗi. Đă có vua là phải có pháp đ́nh rồi th́ tại sao không làm theo phéùp nước? Nếu ai cũng đều làm như vậy th́ xă hội sẽ đi về đâu?

Tương tự trong truyền thuyết Chuyện Đẻ Trăm Trứng ta cũng thấy: tại sao ông Lạc Long Quân lại bàn với bà Âu Cơ chia đàn con của họ ra thành hai nhóm 50/50 để người dẫn lên núi, người dẫn xuống biển? Sao ông bà không cùng nhau ở lại mà làm ăn sinh sống và nuôi dạy đàn con của ḿnh trưởng thành? v́ ông bà đă… ly dị đâu! Sau này " đứa nào" muốn đi mở mang bờ cơi th́ tùy "chúng nó". Mới có … 100 mặt con th́ làm ǵ mà đă sợ thiếu đất canh tác ! v.v… Cái lư do ông đưa ra rằng bà thuộc giống Tiên, ông thuộc giống Rồng nên không thể ăn ở với nhau lâu được và nay th́ ông phải xuống thủy cung để ở với mẹ! tôi cho rằng không có sức thuyết phục, v́ điều đó ông đă biết từ trước khi cưới rồi cơ mà! (thà rằng ông cứ nói là 2 người tính t́nh không hợp nhau th́ c̣n khả dỹ!).

Thế là cũng chỉ v́ muốn chứng minh rằng dân tộc Việt Nam ta là cùng một mẹ đẻ ra, là "đồng bào" của nhau mà các cụ ta ngày xưa lại nỡ chia rẽ một gia đ́nh đang sống với nhau hạnh phúc là vậy. Hơn nữa giá như các cụ kể thêm là có một cặp "Long Quân - Âu Cơ" khác cùng thời, cũng đẻ ra 100 cô gái th́ vấn đề sẽ… đồng bộ hơn! Quả thật tôi cứ thắc mắc măi là các vua Hùng - những người con trai của ông, bà khi lớn lên đă kén vợ ở đâu! Không, tôi hoàn toàn không có ư ǵ báng bổ đến tổ tiên ta. Thật t́nh tôi cũng rất thích câu chuyện này, tuy nó chỉ là truyền thuyết nhưng nó như một bức thông điệp của ông cha ta từ ngàn xưa, muốn nhắn gửi tới Đàn Chim Việt hôm nay: dù ai đang ở đâu, đi đâu và làm ǵ th́ chúng ta đều là anh em cùng một giống ṇi. V́ vậy phải luôn luôn biết đoàn kết, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau.

Từ hai câu chuyện trên có thể giúp ta những gợi ư sau:

a - Trong cùng một vấn đề thường có tính hai mặt tương phản nhau. Nếu chỉ thấy được mặt này mà không thấy được mặt kia hoặc ngược lại th́ cách giải quyết nó sẽ không đồng bộ. Có thể lúc này ta thấy nó ổn nhưng khi khác, hoàn cảnh cũng đă khác đi lại thấy nó rất không ổn, có khi c̣n sai hoàn toàn. Lúc ấy phải dứt khoát đoạn tuyệt với nó để cái mới ra đời, thay thế và phát triển theo quy luật.

b - Cuộc sống là rất đa dạng và phong phú, nên trong cùng một vấn đề mỗi người khác nhau thường có cách nh́n nhận và giải quyết nó cũng khác nhau. Nếu đấy là những vấn đề riêng th́ quyết định cuối cùng thuộc về những cá nhân đó. Nhưng nếu đấy là những vấn đề chung, liên quan đến nhiều người th́ phải tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, tức số ít phải chấp thuận quyết định của số nhiều. Nói như vậy không có nghĩa là số c̣n lại bị bỏ rơi, một quyết định tốt nhất phải là sự tổng hợp cao nhất mọi ư kiến, dù là nhỏ. Một điểm quan trọng nữa là những người liên quan phải có được những thông tin trung thực và đầy đủ trước khi họ ra quyết định cuối cùng.

c - Cuộc sống càng hiện đại th́ yêu cầu xem xét lại những vấn đề của ngày hôm qua xem chúng có c̣n phù hợp với hôm nay hay không, lại càng phải được đặt ra một cách cấp bách và nghiêm túc. Từ đó sẽ t́m ra những phương cách giải quyết chúng sao cho thích hợp với hiện tại.

Từ những gợi ư trên trong bài viết này tôi xin được tŕnh bày 5 vấn đề sau đây:
1 - Hệ thống xă hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20 vừa qua (1917 - 1991).
2 - Hoàn cảnh mà chủ tịch Hồ Chí Minh đă chọn con đường đi cho dân tộc Việt Nam.
3 - Đường lối "xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa" ở Việt Nam hiện nay.
4 - Nền dân chủ Việt Nam và một ư kiến đề nghị.
5 - Vấn đề đoàn kết dân tộc - những niềm tin tưởng.

Tôi hiểu rằng đây là những vấn đề rất rộng và phức tạp, đă có nhiều người viết và nói về nó. Nhưng điều đó chẳng những không ngăn cản tôi nói lên ư kiến riêng của ḿnh, mà ngược lại, nó là những nguồn tư liệu phong phú, nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với tôi. Với hy vọng rằng trong số những điều viết ra, nếu có điều nào đó có ích cho đất nước ḿnh, th́ đó chính là niềm khích lệ lớn đối với tôi rồi.

Viết về quê hương Việt Nam nhà thơ Nguyễn Đ́nh Thi đă có bài sau đây:

Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh c̣ bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đă chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
Đất nghèo nuôi những anh hùng
Ch́m trong máu lửa lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
Việt Nam đất nắng chan ḥa
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm t́nh thủy chung
Đất trăm nghề của trăm vùng
Khách phương xa tới lạ lùng t́m xem
Tay người như có phép tiên
Trên tre lá cũng dệt ngh́n bài thơ
Nước bâng khuâng những bến đ̣
Đêm đêm c̣n vọng câu ḥ Trương Chi
Đói nghèo nên phải chia ly
Xót xa ḷng kẻ rời quê lên đường
Ta đi ta nhớ núi rừng
Ta đi ta nhớ ḍng sông vỗ bờ
Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô
Bát cơm rau muống quả cà gịn tan…

Có lẽ không người Việt Nam nào, khi đọc bài thơ này lại không thấy được một phần máu thịt của ḿnh ở trong đó. Cái mảnh đất h́nh chữ S nằm bên bờ Thái B́nh Dương ấy là Tổ Quốc chung của mọi người con đất Việt, dù họ đang sống ở trong hay ngoài nước . Tôi không có khả năng làm thơ để viết về đất nước ḿnh, nhưng cũng như bao người Việt Nam khác, tôi yêu đất nước tôi và đó chính là động cơ duy nhất để tôi viết bài này, trong đó có cả câu "súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa" cũng cần phải được nh́n nhận lại. Và bây giờ, xin mời quư vị và các bạn hăy cùng tôi lần lượt đi qua 5 phần trên.

1 - Hệ thống xă hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20 vừa qua (1917 - 1991).

1.1- Sự h́nh thành:

- Cuộc cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đă diễn ra và giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực, lật đổ được chế độ Nga hoàng và lập nên một nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới. Tức nhà nước Liên Xô sau này, do Lê Nin đứng đầu. (V.I Lenine 1870 - 1924).

- Năm 1945 trên đường tiến vào Berlin, hồng quân Liên Xô đă giúp hàng loạt nước Đông Âu thoát khỏi ách phát xít. Sau đó các nước này ra nhập vào hệ thống xă hội chủ nghĩa gọi tắt là phe XHCN, do Liên Xô đứng đầu. Sau có thêm bốn nước nữa là: Trung Quốc (1949), Cộng ḥa DCND Triều Tiên (Bắc Hàn - 1953), Cu Ba (1959) và Việt Nam (miền Bắc 1954, cả nước 1975). Đưa tổng số các nước trong toàn hệ thống lên 13 nước. Hệ thống ấy tồn tại đến năm 1991 th́ tan ră, do sự sụp đổ của các nước Đông Âu và Liên Xô, đến nay chỉ c̣n lại bốn nước sau nói trên.

Có 3 đặc điểm lớn trong hệ thống này là:

a) Hầu hết đều có điểm xuất phát thấp: khá nhất là các nước Đông Âu, sau đó là Liên Xô và thấp nhất là bốn nước c̣n lại. (cụ thể là: nền công nghiệp chưa phát triển,tŕnh độ dân trí và dân chủ c̣n thấp, người dân c̣n nghèo, ... đặc biệt hai nước Trung Quốc và Việt Nam c̣n bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi thuyết Khổng, Mạnh và người dân vẫn c̣n rất tin vào số mệnh.)

b) Đa số đều ra đời sau các cuộc chiến tranh hoặc nội chiến, mà ở đó các ĐCS lên nắm chính quyền.

c) Vai tṛ quyết định của Liên Xô: nếu không có Liên Xô th́ chắc chắn không thể có hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 vừa qua.

Như chúng ta đă biết: nhân tố quyết định cho thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga là vai tṛ lănh đạo của đảng cộng sản Nga, ĐCS Nga lại bắt nguồn từ phong trào cộng sản quốc tế. Nó xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 19 ở Tây Âu bởi chủ nghĩa Mác, c̣n được gọi là Chủ nghĩa cộng sản (Karl Marx 1818 - 1883). Chủ nghĩa Mác lại được h́nh thành bởi học thuyết của ông. V́ vậy muốn đi t́m nguyên nhân h́nh thành cũng như tan ră của phong trào cộng sản quốc tế nói chung, cũng như của hệ thống XHCN nói riêng trong thế kỷ 20 vừa qua, chính là việc đi t́m cơ sở h́nh thành nên học thuyết Mác

Có thể tóm tắt phần cốt lơi đă h́nh thành nên học thuyết ấy như sau : Mác cho rằng xă hội tư bản sở dĩ có bóc lôït là do có sự tư hữu về tư liệu sản xuất. Hễ tư hữu càng nhiều th́ bất công càng lắm, khi mâu thuẫn do nỗi bất công ấy gây ra lên tới đỉnh cao, th́ chỉ có cách giải quyết duy nhất là thủ tiêu nguyên nhân sinh ra nó. Tức là phải "xóa tư hữu" thông qua một cuộc Cách mạng vô sản, bằng con đường bạo lực . Trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, Mác viết chung với Ăng-Ghen (F.Engels 1820 -1895) năm 1848 có đoạn : "Những người cộng sản có thể tóm tắt lư luận của ḿnh thành một luận điểm duy nhất là: xóa bỏ chế độ tư hữu".

Và ông tiếp: lực lượng ṇng cốt của cuộc cách mạng vô sản là giai cấp công nhân, đặt dưới sự lănh đạo của đảng cộng sản (ĐCS). Khi cách mạng thành công rồi th́ một nhà nước vô sản sẽ ra đời để xây dựng một chế độ mới, dựa trên cơ sở "công hữu". Đây là chế độ công bằng và dân chủ nhất cho tất cả mọi người, chưa hề có trong lịch sử loài người. V́ nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với mọi h́nh thức bóc lột.

Cuối cùng Mác kêu gọi: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!" và một khi cách mạng vô sản giành được toàn thắng th́ thế giới sẽ đại đồng. Mùa xuân của nhân loại sẽ đến ngay trên trái đất này chứ chẳng phải đi t́m kiếm ở đâu xa. Lúc ấy vai tṛ lănh đạo của các ĐCS, vai tṛ quản lư của các nhà nước vô sản sẽ không c̣n cần thiết nữa, nó sẽ tự triệt tiêu .(!)

Quả thật nếu được như vậy th́ ai không muốn, chẳng thế mà trong suốt một thế kỷ rưỡi qua đă có biết bao nhiêu người say mê nó. Người vô sản đă đành, rất nhiều người hữu sản cũng quyết dấn thân, bởi v́ họ nghĩ tới muôn đời con cháu mai sau. Thế nhưng có điều là ngay ở điểm xuất phát của học thuyết này : "Sở dỹ có bóc lột là do có sự tư hữu" đă có sự bất ổn lớn. V́ để chứng minh nó, Mác đă khảo sát quá tŕnh mà ông gọi là "Tái sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa". Ở đó ông chia nó thành hai quá tŕnh nhỏ hơn là sản xuất và lưu thông hàng hóa, và ông nhận xét :

Trong lưu thông không tạo ra giá trị cho hàng hóa, dù là trao đổi ngang giá hay không ngang giá. Chỉ có trong quá tŕnh sản xuất mới tạo ra được giá trị cho hàng hóa, và cũng chỉ có duy nhất yếu tố người công nhân mới có khả năng tạo được giá trị mới, lớn hơn cái giá trị mà nhà tư bản đă thuê anh ta dưới h́nh thức tiền lương. Giá trị chênh lệch ấy gọi là giá trị thặng dư, mà người công nhân đă bị nhà tư bản bóc lột toàn bộ.

Giả sử mọi lập luận của Mác dẫn tới nhận xét trên là đúng hết, th́ điều quan trọng sau đây cũng đủ làm cho nó sai, nguyên nhân là trước đó ông đă tự đặt ra những giới hạn để khảo sát quá tŕnh này. Đó là :

- Về không gian: chỉ ở một vài nước Tây Âu phát triển nhất lúc bấy giờ như Anh,Pháp, Đức, Ư,...

- Về đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu: chủ yếu quan tâm đến mối quan hệ giữa nhà tư bản và người công nhân trong ngành công nghiệp cơ khí.

- Về thời gian nghiên cứu : chủ yếu là từ thập niên 40 đến 60 của thế kỷ 19.

Khi nhân loại chỉ mới biết đến cái cỗ máy chạy bằng hơi nước được phát minh ra đầu tiên năm 1712. Nó cũng được coi là thời điểm đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Măi tới năm 1876, trước khi Mác mất 7 năm (1883) th́ động cơ đốt trong mới xuất hiện, khi mà Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản đă ra đời, Quốc Tế Vô Sản I do Mác và các đồng chí của ông cũng đă được thành lập tại London - Anh (1864), và năm 1892 - 9 năm sau khi Mác mất, th́ công ty cung cấp điện đầu tiên trên thế giới (General Electric) mới được ra đời tại Mỹ.

- Không có các yếu tố xuất nhập khẩu như: XNK hàng hóa, lao động, công nghệ, tư bản (vốn), ... mà thời Mác cũng đă có. (ông đưa ra rất nhiều bảng biểu về nó nhưng chỉ để minh họa, chứ không đưa nó vào khảo sát như là một yếu tố của quá tŕnh này.) - V.V…

Những vùng đất khác trên thế giới, những ngành khác trong nền kinh tế, những thành phần khác trong xă hội như : các viên chức chính phủ (kể cả quân đội và cảnh sát), các nhà hoạt động chính trị, tư tưởng, tôn giáo, văn hóa, khoa học, văn nghệ sỹ, chủ đất, tiểu chủ, tiểu nông, bần cố nông, v.v ... được ông gọi chung là "các giai cấp trung gian", tuy có được ông nhắc đến nhưng rất không đầy đủ, thậm chí có những yếu tố gần như bỏ trống. Chẳng hạn như vùng đất châu Á ông rất xa lạ.

Với một bài toán mà các dữ kiện vừøa thiếu hoặc nếu có lại bị giới hạn tới mức ấy, th́ ngay cả vào thời Mác nó đă cho kết quả khác đi rồi. Và một khi kết quả khác đi th́ cách giải quyết vấn đề cũng phải khác đi, như vậy mới là hợp lư. Hơn nữa, cứ giả sử nó đúng ở Tây Âu nhưng chắc ǵ nó đă đúng ở Đông Âu, Liên Xô, Châu Á, Phi, Mỹ, Úc ?… (ta giả sử thôi, v́ trong thực tế là không có một nước XHCN nào ở Tây Âu cả). Đúng trong ngành công nghiệp cơ khí, nhưng c̣n các ngành khác, với các giai tầng khác trong xă hội th́ sao? Những mâu thuẫn giải quyết thế nào? Đúng trong nền kinh tế đóng, nhưng chắc ǵ đă đúng trong nền kinh tế mở, có xuất nhập khẩu? v.v…

Rất tiếc là từ kết quả trên (A), c̣n được gọi là lư luận về giá trị thặng dư, Mác đă dùng nó làm cơ sở ban đầu để phát minh ra hàng loạt các kết quả khác sau đó (B). Rồi cuối cùng ông đă thừa thắng đẩy vấn đề tới tận "mùa xuân của nhân loại" như chúng ta đă biết. Nhưng có A th́ mới có B, mà A đă sai rồi th́ B làm sao đúng được? Chưa kể là trong những cái B ấy lại có những điểm vô lư của riêng chúng nữa:

Ví dụ, Mác cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển trong xă hội có giai cấp, (c̣n được gọi là lư luận về đấu tranh giai cấp). Nhưng cũng chính ông lại cho rằng: trong xă hội cộng sản nguyên thủy c̣n hoang sơ nên chưa có giai cấp, và trong xă hội Cộng sản chủ nghĩa tương lai th́ không c̣n sự phân biệt giai cấp nữa. Vậy th́ chúng lấy đâu ra động lực để phát triển? Ông cho rằng trong tương lai con người sẽ có ư thức xă hội rất cao, nó sẽ chiến thắng con người cá nhân, và đó chính là động lực cho sự phát triển xă hội. Nhưng liệu điều đó có đạt được hay không ? Tôi xin được trở lại vấn đề này ở những phần dưới. Rơ ràng Mác đă đẩy sự đấu tranh giai cấp lên ngôi đầu và ấn sự thi đua trí tuệ của con người xuống dưới một cách rất chủ quan. Chính sai lầm chết người này của ông đă gây ra biết bao đau thương, tang tóc cho nhân loại ở thế kỷ sau.

Nói tóm lại từ một bài toán nhỏ, lại cho kết quả sai, Mác đă dùng nó làm cơ sở để xây dựng nên cả một học thuyết được cho là khoa học, nhằm giải quyết một bài toán xă hội cực lớn. Chẳng những cho một nước mà cho toàn thế giới, chẳng những cho một giai đoạn mà cho măi măi về sau, v.v ... Nếu chỉ xét riêng về mặt phương pháp luận không thôi, cũng thấy là Mác đă rất sai lầm từ chính tính "khái quát hóa" cao này rồi.

C̣n xét về nội dung th́ ngày nay chỉ cần một người có tŕnh độ quan sát và nghiên cứu trung b́nh cũng có khả năng chứng minh được là Mác sai. (dù góc độ tiếp cận và cách nh́n nhận của mỗi người khác nhau là khác nhau.). Đơn giản là v́: khác với một bài báo chỉ là sự tập hợp những quan điểm của người viết th́ nó có thể đúng ở chỗ này, sai ở chỗ kia (trừ của các ngành khoa học tự nhiên). Nhưng một khi đă gọi là học thuyết khoa học rồi, mà những điểm sai của nó lại toàn là những "ḥn đá tảng" cả, th́ nhất định nó phải là một học thuyết sai. Càng sống ở các nước phát triển, càng có điều kiện để nhận biết nó. Điều này giải thích v́ sao tất cả các nước có nền kinh tế phát triển, không có nước nào đi vào con đường XHCN, mặc dù họ có phong trào cộng sản sớm nhất. V́ sao bốn nước XHCN c̣n sót lại đến nay đều là những nước có điểm xuất phát thấp nhất của hệ thống, và v́ sao số lượng các nước trong phe chỉ dừng lại ở con số 13. Có chăng là thêm một vài nước nghèo nữa ở châu Phi, Mỹ la tinh, Trung Á, v.v... nhưng tên tuổi cũng thoắt ẩn, thoắt hiện rất khó xác định!

Nói như vậy không có nghĩa là hễ ai chứng minh được Mác sai là thông minh hơn Mác, mà chính là bởi thời đại thông minh đă dạy họ. Theo tôi Mác vẫn xứng đáng là một trong những bộ óc xuất sắc của nhân loại trong 1000 năm qua, như một cuộc b́nh chọn gần đây đă xác định. Xong cũng như những nhà tư tưởng lớn khác, ông vừa vượt lên trên thời đại của ḿnh, nhưng cũng bị chính thời đại ấy quy định.

Ngay khi Mác c̣n sống, đă có nhiều người nhận ra những điểm sai trong học thuyết của ông, kể cả Ăng-Ghen người bạn và người đồng chí thân thiết nhất của Mác, mất sau ông 12 năm. Biểu hiện rơ nhất của việc nhận thức lại này là: chỉ 6 năm sau khi Mác mất th́ Quốc Tế Vô Sản II đă được thành lập ở Paris - Pháp (1889), với chủ trương mềm hơn : giai cấp vô sản sẽ giành chính quyền bằng con đường đấu tranh nghị trường, bất bạo động. Đảng xă hội Pháp, tiền thân của ĐCS Pháp sau này đă theo Quốc Tế II. Năm 1919 Lê Nin đă thành lập ra Quốc Tế III và "phục hồi" lại con đường dùng bạo lực để giành chính quyền cho phong trào cộng sản quốc tế.

Từ những tŕnh bày trên ta rút ra kết luận: cơ sở h́nh thành nên học thuyết của Mác là sai, v́ vậy cơ sở h́nh thành nên hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 vừa qua cũng là sai từ gốc. Thời Mác đă sai, thời nay lại càng sai.

1.2 - Sự tan ră :

Sau chiến tranh thế giới thứ II năm 1945 là thời điểm mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thế kỷ (1945 - 1991) giữa hai phe XHCN và TBCN, một phe do Liên Xô, phe c̣n lại do Mỹ đứng đầu. (thật ra cụm từ "phe Tư bản chủ nghĩa" cũng không hẳn là chính xác, v́ "Chủ nghĩa tư bản" th́ nhân loại đă có từ ngàn đời nay, chứ không phải mới có từ khi nền văn minh công nghiệp xuất hiện. Nhưng khác với CNCS là có tác giả cụ thể, c̣n nó th́ không. Hay nói đúng hơn, toàn bộ nhân loại từ xưa đến nay đều là "tác giả" của nó. (xem tuyển tập Hà Sỹ Phu - website http://members.aol.com/vietnamgo/hasphu.htm)

Xen kẽ trong thời kỳ trên cũng có những cuộc chiến tranh nóng cục bộ giữa hai phe như : chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam. Nhưng trong 3 năm 1989 - 1991, khi các nước Đông Âu và Liên Xô tan ră th́ giữa hai phe lại không hề có một cuộc chiến tranh nóng nào. Có người cho rằng chính v́ những cuộc chạy đua vũ trang, chạy đua không gian,… kéo dài với quy mô lớn đă làm cho nền kinh tế của nhiều nước XHCN, nhất là của Liên Xô bị " hụt hơi" dẫn tới sự sụp đổ. Nhưng theo tôi nếu đă gọi là "cùng chạy đua" rồi th́ "hơi" bên nào mà chẳng "hụt"!

Những nguyên nhân th́ có nhiều, kể cả sự "hụt hơi" trên, ngoài ra c̣n là vai tṛ quan trọng, có khi lại rất tế nhị của những nhân vật lớn lúc ấy như: đức giáo hoàng Giôn-Pôn II (John Paul II), các cựu tổng thống Mỹ R.Ri-Gân (Ronald Reagan), Gioóc-Bút (George Bush), cựu thủ tướng Tây Đức Hen-mút-Côn (Helmut Kohl), cựu tổng bí thư ĐCS Liên Xô M.Goóc-ba-chốp (Mikhail Gorbachev) * (những dấu * trong bài viết này tôi xin được trở lại kỹ hơn trong những lần tới, khi có điều kiện). Nhưng cái chính vẫn phải là phải đi t́m những yếu kém từ bên trong của hệ thống này.

Theo tôi có ba nguyên nhân lớn sau :

a - Do triệt để sử dụng phương pháp bạo lực đă làm phân hóa sâu sắc và toàn diện trong nội bộ từng nước, và giữa các nước trong toàn hệ thống.

b - Do chủ quan và phiến diện trong cách nh́n nhận về con người, nên Mác đă đưa ra luận điểm: hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiên tiến nhất trong xă hội, và Đảng cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lănh đạo đất nước.

c - Do không tôn trọng các quy luật khách quan.

Cụ thể là:

a - Do triệt để sử dụng phương pháp bạo lực:

Hầu hết các lănh tụ cộng sản đều có những phát biểu nhằm quán triệt sâu sắc điều này. Chẳng hạn như :

Với Mác : Bạo lực là bà đỡ của mọi cuộc cách mạng.

Với Ăng-Ghen : Không có vũ khí phê phán nào có thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí .

Với Lênin : Kẻ nào chỉ thừa nhận có đấu tranh giai cấp không thôi, th́ kẻ đó vẫn chưa phải là người Mác - xít. Chỉ người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính vô sản th́ mới là người Mác - xít.

Với Mao Trạch Đông : Quyền lực chính trị nằm ở trên đầu ṇng súng. hay: Súng đạn đẻ ra chính quyền. v.v…

Thật ra sai lầm trên lúc đầu là do Mác, nhưng sau đó là do Lê Nin và những người cộng sản nắm quyền tiếp theo đă phạm, khi họ vấp phải những khó khăn trong thực tiễn, không như Mác h́nh dung ban đầu. V́ vậy nó đă được kéo dài lê thê từ trong chiến tranh sang luôn cả thời kỳ "Xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH" ở tất cả các nước trong phe. Nh́n vào thực tiễn ta thấy rất rơ điều này :

a.1 - Sự phân hóa trong nội bộ từng nước :

Từ năm 1917 đến nay, chỉ tính riêng giai đoạn xây dựng ḥa b́nh thôi cũng đă đầy máu và nước mắt rồi. Đầu tiên là ở Liên Xô, sau lan ra toàn hệ thống. (xem Báo Cáo Mật Của N.Khrushchev Về Tội Ác Của Stalin - N.Khơ-rút-xốp (1879 - 1953) - Website www.lmvntd.org, mục tài liệu / nhân vật.). Hàng chục, hàng trăm triệu người đă bị bắt bớ, đánh đập, hành hạ,... nhiều người trong số họ đă bị chết do đói, rét, khát, bệnh tật hoặc bị giết v́ các tội danh như: phản cách mạng, chống đảng, chống CNXH, chống chính quyền nhân dân,... mà việc quy kết cho nhân dân những tội danh trên là rất tùy tiện và vô tội vạ.

Nếu ai đó đă xem bộ phim "Để sống" (To Live) của đạo diễn nổi tiếng Trung Quốc Trương Nghệ Mưu, có nữ diễn viên Củng Lợi đóng sẽ thấy : để tồn tại hay không tồn tại, người dân Trung Quốc đă phải chịu đựng như thế nào trong suốt thời kỳ Mao Trạch Đông cầm quyền (1949 - 1976). Sau này chính những người dân Trung Quốc đă tự hàn gắn cho nhau những vết thương của quá khứ, chứ không phải là Mao Trạch Đông và những người lănh đạo trong ĐCS Trung Quốc đă ủng hộ cuồng tín ông ta, mặc dù chính họ là những người đă gây ra những tội ác đó. Họ cho đến nay vẫn ăn qụyt nhân dân Trung Quốc những món nợ lớn đă vay từ những cuộc "Đại nhảy vọt", "Đại cách mạng văn hóa", vụ "Quảng trường Thiên An Môn" năm 1989, v.v...

Ở Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ: các chiến dịch lớn nhỏ như Cải tạo hóa, Tập đoàn hóa, Hợp tác hóa, Quốc hữu hóa, Công tư hợp doanh hóa,... chẳng những đă không đoàn kết hóa được dân tộc, mà chỉ làm cho dân tộc phân hóa hơn. Nếu tính cả yếu tố chiến tranh nữa th́ sự phân hóa này c̣n tăng lên nhiều lần. Nước mắt của nhân dân hết chảy xuôi, rồi lại chảy ngược, nhưng không hề làm cho cái ác dừng tay. Thế là sau bao nhiêu năm chiến tranh máu lửa, nhưng trên đất nước Việt Nam vẫn chưa "hiền như xưa", súng gươm vẫn được giữ lại để dùng vào những công việc khác với chống giặc ngoại xâm. Điều này th́ bất cứ người Việt Nam nào cũng biết. Nó như những thanh gươm treo lơ lửng trên đầu họ, vô h́nh đấy nhưng cũng rất hữu h́nh đấy. Có lẽ nhiều người thuộc trường phái sùng bái bạo lực ở Việt Nam, cứ thắc mắc hoài là tại sao ngày xưa vua Lê Lợi lại hoàn kiếm sớm thế? Thắng quân Minh rồi th́ cứ giữ nó lại mà sài cho ... quân ḿnh ! (chắc là hồi ấy ông chưa được học tập và quán triệt Chủ nghĩa Mác - Lê Nin!). Trên đây là sự phân hóa trong nội bộ từng nước, nhưng giữa các nước trong hệ thống cũng có sự phân hóa nghiêm trọng.

a.2 - Sự phân hóa giữa các nước trong hệ thống:

Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra nhập vào hệ thống, th́ hầu hết các nước Đông Âu đă muốn thoát ra khỏi sự khống chế của Liên Xô, v́ các lư do sau :

- Phần lớn đều có điểm xuất phát trước chiến tranh cao hơn Liên Xô.
- Đă biết được những tội ác của Stalin đối với nhân dân Liên Xô trước đó, bản thân họï cũng đă từng là nạn nhân.
- Muốn nhận sự viện trợ của Mỹ theo kế hoạch Marshall giúp các nước khôi phục lại nền kinh tế sau chiến tranh.
- Các lư do khác biệt về văn hóa, tôn giáo, sắc tộc, ...

Những sự kiện diễn ra ở Tiệp Khắc năm 1947, Đông Đức và Tiệp Khắc năm 1953, Hunggaria và Ba lan năm 1956,... đă chứng minh điều này. Nhưng điển h́nh nhất là sự kiện "Mùa xuân Praha" diễn ra tại Tiệp Khắc năm 1968 : Hàng trăm ngh́n quân cùng hàng ngàn máy bay, xe tăng, đại bác,...thuộc khối quân sự Vác-Sa-Va (Warszawa) do Liên Xô đứng đầu (giai đoạn do L.Brezhnev làm tổng bí thư ), đă tiến vào nước này nhằm "tiễu trừ bọn phản cách mạng,tay sai của đế quốc Mỹ!", sau đó bắt đi nhiều UVTƯ đảng, bộ trưởng giải về Mátxcơva (Moscow). Bản thân tổng bí thư A.Dubcek và thủ tướng Tiệp lúc bấy giờ là Cernik cũng bị triệu sang Mátxcơva. Để rồi sau đó một đoàn đại biểu do chủ tịch nước Tiệp là Svoboda dẫn đầu đă bị ép phải kư một văn bản tại Mátxcơva, với hai thỏa thuận quan trọng :

- Ngưng ngay công cuộc cải tổ, mà thực chất là muốn xây dựng một mô h́nh CNXH nhân bản hơn, nhằm thay thế cho mô h́nh CNXH kiểu trại lính có từ thời Stalin.

- Chấp nhận một lực lượng quân sự Liên Xô gồm 75,000 quân "tạm" đóng tại đây. Lực lượng này ở lại Tiệp 23 năm, tới tháng 5/1991 trước khi Liên Xô tan ră (12/1991) mới rút về.

Kể từ đó lư tưởng cộng sản hầu như đă mất hẳn trong ḷng nhân dân Tiệp Khắc nói chung và những người cộng sản Tiệp chân chính nói riêng, họ coi đất nước họ đă bị quân đội nước ngoài chiếm đóng trái phép. Chính họ - những người cộng sản ấy, đă góp phần rất lớn cùng nhân dân giành được thắng lợi trong "Cuộc cách mạng nhung" vào 10 ngày cuối tháng 11/1989. Những cuộc biểu t́nh quy tụ nhiều chục ngàn người đă liên tiếp nổ ra tại khắp nơi trên đất Tiệp sau sự kiện trên. Ngay tại quảng trường chính của thủ đô Praha đă có hai sinh viên tự thiêu vào tháng 1 năm 1969, trong lúc đoàn người đang biểu t́nh. Và sự hy sinh của họ đă không uổng phí, bởi v́ có "Mùa xuân Praha" th́ 9 năm sau mới có "Hiến chương 77" của hàng trăm nhà trí thức và những đảng viên Cộng sản Tiệp tiến bộ. Nó như một Bản Tuyên Ngôn chung đ̣i dân chủ, làm rung chuyển cả khối XHCN. Để rồi từ đó mới có thắng lợi của "Cuộc cách mạng nhung" 12 năm sau.

Rơ ràng giải pháp "cộng sản" cũng đă không giải quyết được vấn đề "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại !" như Mác kêu gọi. Mối bất ḥa giữa hai nước đàn anh Liên Xô và Trung Quốc là rất sâu sắc, không thể hàn gắn được, và cũng đă có những cuộc xung đột vũ trang diễn ra tại biên giới Trung - Xô. Nó lớn tới mức mà không biết vô t́nh hay cố ư, CT Hồ Chí Minh trong di chúc của ḿnh đă vội chia chủ nghĩa cộng sản ra thành hai : chủ nghĩa Mác - Lê Nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản ! Giải pháp ấy cũng không làm tan đi được đầu óc bá quyền nước lớn, muốn thôn tính nước nhỏ bằng bạo lực, có từ ngàn năm của các thế lực cầm quyền phương Bắc đối với dân tộc Việt Nam.

Có ai ngờ rằng sau 30 năm với hai cuộc chiến tranh, th́ dân tộc ta lại phải bước tiếp vào hai cuộc chiến tranh nữa, ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc, mà nguyên nhân sâu xa đều do chính quyền Bắc Kinh gây ra. Máu xương của hàng trăm ngàn những người lính trẻ, những người dân Việt Nam vô tội lại phải đổ xuống. Mặc dầu họ - những người nay đă khoác áo cộng sản, từng nhiều lần tuyên bố: "T́nh đoàn kết gắn bó giữa hai dân tộc là như môi với răng, môi hở th́ răng lạnh". (có lẽ nên là như môi với… lưng th́ tốt hơn!). V́ điều kiện địa lư, chúng ta không có cách lựa chọn nào khác hơn. Chúng ta luôn mong muốn cùng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, nhất là với nhân dân Trung Quốc - những người cũng đă chịu quá nhiều thương đau. Nhưng với lịch sử đă qua, với những ǵ vẫn đang tiếp tục cho chúng ta thấy bản chất bá quyền nước lớn của đầu óc đại Hán, là không hề thay đổi trong các giới cầm quyền ở Trung Quốc. Chẳng những là đối với Việt Nam, mà c̣n đối với các nước khác trong khu vực. Đây là khó khăn nhưng cũng là thuận lợi để Việt Nam có thể thiết lập được những mối quan hệ bền vững với các nước này. Từ đó sẽ tạo ra những đối trọng đủ mạnh đối phó với họ. Chính sợi dây ràng buộc "cùng ư thức hệ" hiện nay mới là nguy hiểm nhất, nó làm cho thế giới và các nước trong khu vực nghi ngại chúng ta. Sợi dây ấy có thể đứt bất cứ lúc nào như nó đă từng bị đứt, và bên chịu thiệt tḥi vẫn là dân tộc Việt Nam. (một khi đă biết được dă tâm muốn "đánh tráo nỏ thần" rồi mà vẫn cho phép họ được "ở rể", th́ những kẻ có tội với dân tộc chính là những "An Dương Vương" thời nay !)

b - Do chủ quan và phiến diện trong cách nh́n nhận về con người nên Mác đă đưa ra luận điểm : hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiên tiến nhất trong xă hội, và Đảng cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lănh đạo đất nước.

Từ khi nền văn minh công nghiệp xuất hiện, th́ bất cứ xă hội nào chịu ảnh hưởng của nó cũng có nhiều giai tầng khác nhau như đă liệt kê ở trên. Ta giả sử ứng với mỗi giai tầng ấy có một hệ tư tưởng, rồi lại có một ban giám khảo chấm điểm khách quan, th́ chắc ǵ hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đă đạt trên mức trung b́nh? Thế mà Mác cũng lại đưa nó lên vị trí hàng đầu, với ư định không hề giấu giếm là sẽ tiến tới chi phối, rồi triệt tiêu dần các hệ tư tưởng c̣n lại "bằng con đường tự nguyện"! Trong thực tế th́ sự chống đối này là rất gay gắt. Có những người suốt đời đi "tiễu trừ bọn phản cách mạng" nhưng "tiễu" măi mà bọn "phản cách mạng" kia không "trừ" đi, mà lại càng cộng thêm! Mác thật mâu thuẫn khi một mặt, ông kêu gọi mọi người hăy cùng nhau xây dựng một xă hội công bằng và b́nh đẳng. Nhưng mặt khác, ông lại bày ra chuyện "mâm trên - mâm dưới" ngay từ đầu như vậy.

Lư thuyết th́ đă là như thế, thực tế c̣n tệ hại hơn nhiều : đó là sự thống trị của một thiểu số cầm quyền trong ĐCS lên toàn bộ xă hội, kể cả các đảng viên thường cùng toàn bộ khối "liên minh công - nông", mà lúc này hầu hết đều đă thuộc giai cấp bị trị. Mác đặt trọn niềm tin của ông vào các ĐCS, v́ ông cho rằng đó là "bộ phận ưu tú nhất của một giai cấp tiên tiến nhất trong xă hội "! Cứ cho là như vậy đi, nhưng thử hỏi có cái ǵ làm cho người ta đam mê bằng thứ quyền lực được tập trung ở mức độ cao, được kéo dài không kỳ hạn và c̣n là duy nhất ?

Thực tế phe XHCN đă chứng minh rằng: không phải như Mác nói "Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân", mà chính quyền lực mới là "thuốc phiện" của nhiều người cộng sản cầm quyền. Có những người sau khi đă rời chức vụ rồi, nhưng cứ ra ngẩn vào ngơ, tinh thần bất an v́ vẫn c̣n muốn "phục vụ cách mạng đến hơi thở cuối cùng"! Để rồi đă có người đă thấy vậy mà đưa ra nhận xét: "Cái đít con người ta cóù trí nhớ, nó nhớ cái ghế!".

Sự đam mê ấy lại càng được cộng hưởng thêm khi nó được gắn với tiền, lúc này cũng lại được đem tập trung lại. Nếu như ăn, uống, ngủ, nghỉ người ta c̣n thấy có dấu hiệu của sự băo ḥa th́ nỗi đam mê quyền, tiền là không hề có dấu hiệu nào. Giả sử lúc đầu con người xă hội trong anh có thắng thế, th́ cũng chỉ một thời gian sau nó cũng sẽ bị con người cá nhân trong anh nuốt chửng. Mọi cố gắng nhằm "chống chủ nghĩa cá nhân" trên quy mô toàn xă hội đều thất bại, trừ khi phần hồn ĺa khỏi phần xác! Đó là quy luật muôn đời, không trừ một đảng phái, giai cấp, tôn giáo hay dân tộc nào. Lịch sử nhân loại đă có rất nhiều ví dụ về nó.

V́ vậy bài toán lợi - quyền mà Mác hy vọng có thể giải quyết được qua giải pháp "cộng sản" cũng hoàn toàn chủ quan và phiến diện. Nó đă bị chính những người cộng sản cầm quyền phá vỡ: một khi mà đá bóng là anh, thổi c̣i cũng lại là anh, th́ nhân dân chỉ c̣n có "mỗi" một việc là cứ lầm lũi làm ra cờ, cúp, giải thưởng để anh luôn luôn được đứng trên bục cao nhất mà thôi. Thử hỏi những cô Tấm ngày nay có c̣n động lực để "vớt tép" nữa hay không, khi mà tép trong giỏ của ḿnh đă bị kẻ khác lừa trút hết? Những người chăm chỉ, dễ tin người và lương thiện th́ chỉ c̣n "một con cá Bống", c̣n những kẻ lười biếng, giảo hoạt và vô lương tâm th́ lại được thưởng "yếm đào".

Người ta thấy rơ sự bất công lớn giữa những người lao động trực tiếp làm ra của cải, vật chất cho xă hội, với hầu hết các quan chức lớn nhỏ trong các ĐCS. Cái kiểu "nấu cháo bằng ŕu" này đă diễn ra thường trực, lâu dài và trên quy mô lớn trong toàn phe XHCN. Lê Nin đă từng có nhận xét : " Ngân hàng trong nền kinh tế TBCN là một tổ chức ăn bám b́nh phương". Nhưng ở các nước XHCN, thực tế đă cho thấy rằng: Có nhiều cá nhân, tổ chức mà mức độ ăn bám có số lũy thừa bậc cao hơn nhiều lần. Vấn đề là phải tạo ra một cơ chế kiểm tra, kiểm soát đầy uy lực của toàn xă hội lên các thế lực cầm quyền, chứ không phải là cứ "chốt" vấn đề từ trên như vậy, rồi đặt cho nhân dân một niềm tin tù mù rằng: trên ấy toàn là những "v́ sao" th́ ắt nó sẽ tỏa sáng! Theo tôi có lẽ Mác cũng có tính cả tin như có lần ông tâm sự với con gái của ḿnh rằng đấy là đức tính mà ông dễ tha thứ nhất.

c - Do không tôn trọng các quy luật khách quan:

Ví dụ như trong kinh tế là gần như phủ nhận hoàn toàn quy luật giá trị, coi nhẹ vai tṛ của hàng hóa, tiền tệ. T́m mọi cách, kể cả bằng bạo lực thường trực để thu hẹp những cơ sở h́nh thành nên nền kinh tế thị trường. V́ cho rằng chúng sẽ dẫn tới sự cạnh tranh, vô chính phủ, cá lớn nuốt cá bé và cuối cùng là sự khủng hoảng xă hội. Cơ chế chỉ huy tập trung ở các nước trong phe XHCN rất có lợi thế trong điều kiện chiến tranh, v́ nó cho phép huy động tới mức tối đa mọi nguồn lực cho cuộc chiến. Nhưng chiến tranh là cái bất b́nh thường của cuộc sống, nó không phải là cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. C̣n trong điều kiện ḥa b́nh th́ vấn đề lại khác hẳn, ở đó đ̣i hỏi những nỗ lực sáng tạo bền bỉ của từng cá nhân, nhằm làm ra những sản phẩm khác nhau, phục vụ cho những nhu cầu cũng rất khác nhau của xă hội. Chứ không phải là mọi người cùng đi về một hướng, cùng thực hiện một mục đích, v.v...

V́ vậy những lợi thế của cơ chế này trong chiến tranh lại là những trở lực lớn trong xây dựng ḥa b́nh. Biểu hiện cụ thể của nó là lối suy nghĩ cứng nhắc, một chiều dẫn tới cách làm việc độc đoán, duy ư chí và bất chấp quy luật. Hậu quả là những sản phẩm được làm ra thường là thiếu tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngày càng mang tính toàn cầu hóa cao. Trong nền kinh tế XHCN, điều mà các nhà sản xuất quan tâm hơn cả là làm sao hoàn thành được kế hoạch nhà nước giao, chứ không phải là tính hiệu quả. V́ vậy nó cũng không cần để ư đến thị hiếu, sức mua của người tiêu dùng. Ví dụ ở Liên Xô trước đây người ta thường đúc luôn giá bán lẻ vào nhiều sản phẩm, chẳng hạn một bàn là giá 7 rúp (Rouble: đơn vị tiền tệ của Liên Xô), hay một quạt tai voi giá 14 rúp được bán ra vào giữa thập niên 60 th́ đến giữa thập niên 70 nó vẫn giữ nguyên giá bán như vậy. (điều này th́ nhiều anh chị em ta ở Liên Xô nắm khá chắc!).

Về mặt h́nh thức ta thấy được tính "ổn định" của giá cả, nhưng về mặt bản chất th́ đó là sự vi phạm nghiêm trọng các quy luật kinh tế khách quan. T́nh h́nh cũng tương tự ở các nước khác trong phe, như ở Trung Quốc với chiếc xe đạp Phượng Hoàng, ở Việt Nam với chiếc xe đạp Thống Nhất, với giá gạo mậu dịch bốn hào một cân, v.v ... được giữ vững nhiều chục năm *.

Ở trong các lĩnh vực khác cũng có một t́nh h́nh tương tự, ví dụ trong lĩnh vực văn hóa với những sản phẩm tinh thần được làm ra thường mang tính rập khuôn, giáo điều, lên gân và xa lạ với đời sống con người. Nó cũng làm "lưỡi gỗ hóa", thậm chí là trơ chẽn hóa trong hầu hết những cuộc trả lời phỏng vấn của các lănh tụ cộng sản, những người phát ngôn, ... đây là căn bệnh chung và có tính "nghề truyền nghề"! Tất cả đă làm "đồng phục" hóa và "Gà công nghiệp" hóa hầu hết mọi thành viên trong xă hội, mọi người ăn, mặc, ở, đi lại, ... giống nhau, thậm chí cách nói năng, suy nghĩ cũng ít khác nhau. V́ vậy nó đă bóp chết rất nhiều khả năng sáng tạo, lối suy nghĩ độc lập,... của những con người sống trong các xă hội XHCN. Mọi sự đều mang dáng vẻ nhợt nhạt, thiếu sức sống. Để rồi khi mở cửa ra với thế giới bên ngoài th́ thường bị hụt hẫng, lúng túng như những chú Gà công nghiệp dưới ánh nắng chói chang của mặt trời. Tất cả đều cam chịu một mức sống thấp đều nhau. Giả sử có ai đó muốn "nhô lên" th́ cũng bị cơ chế ấy mau chóng kéo xuống. Trừ một lớp người đặc biệt đă tạo nó.

Toàn hệ thống c̣n có một đặc điểm nữa là: hầu hết đều ra đời sau chiến tranh hay nội chiến, v́ vậy có những con người có công trong các cuộc chiến ấy. Xă hội phong kiến trước đây phân biệt rất rơ giữa chức và tước, nhưng nay th́ tất cả đă bị lẫn lộn: người ta thường thưởng chức cho nhau thay v́ ban tước, mặc dù ngay cả điều này cũng có những bất công lớn. Hậu quả là thước đo giá trị về con người bị biến dạng, cũng như trong kinh tế quy luật giá trị bị bóp méo. Sự" truyền ngôi" cho nhau những tưởng là đă mất, nhưng nó đă không mất đi mà c̣n diễn ra nhuộm nhoạm, phổ biến hơn theo những tính toán cá nhân của những người nắm quyền lực. V́ vậy trong đa số trường hợp nó đă không chọn được những người tốt nhất cho công việc chung. Có khi không phải là 9 bỏ làm 10 mà 3 - 4, thậm chí chẳng có giá trị ǵ cũng "bỏ làm 10"! Kể cả chức vụ cao nhất của các nước này là chức tổng bí thư ĐCS. Điều đó đă tạo ra những cuộc chạy đua mà "năng lực" của các ứng cử viên được "đo" ở cổng sau chứ không phải cổng trước. Chúng càng làm cho những con người chân chính nản ḷng, hệ thống do vậy gần như đă mất hết động lực.

Biểu hiện trong tâm lư xă hội là: sau những hăm hở của một niềm tin trong sáng buổi ban đầu, th́ nay là sự thất vọng, chán nản, buông xuôi. Nó gây ảnh hưởng xấu, có tính dây chuyền đến mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xă hội. Chẳng hạn là t́nh trạng nhà nước th́ "giả vờ" trả lương cho công nhân viên, rồi họ cũng lại "giả vờ" làm việc lại cho nhà nước. Năng suất và chất lượng lao động càng ngày càng tụt dốc thảm hại, trong khi vấn đề năng suất lao động lại là vấn đề quan trọng nhất, chủ yếu nhất. Chính nó, theo Lênin sẽ quyết định sự thành bại của phương thức sản xuất này so với phương thức sản xuất kia.

Hàng hóa và các loại dịch vụ ngày càng đơn điệu và khan hiếm, xă hội tẻ ngắt và buồn chán. Từ quy luật "Năng suất lao động không ngừng tăng lên dưới CNXH" bị phá vỡ đă kéo theo hàng loạt "các quy luật riêng có" khác của CNXH như : "Quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân", "Quy luật đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao" (c̣n được gọi là "Quy luật cơ bản của CNXH"), ... đều đă bị gẫy đổ. Cùng với sự thoái hóa nghiêm trọng của hệ thống chính trị, đă dẫn đến sự tan ră của toàn hệ thống XHCN như nó đă diễn ra. Lê Nin đă từng viết:" Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ". Các nước XHCN đă tự bảo vệ được ḿnh trong các cuộc chiến tranh nóng, nhưng đă không làm được điều đó trong xây dựng ḥa b́nh, và đă thua trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua.

Từ những tŕnh bày trên ta rút ra kết luận : hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 đă tự sụp đổ, v́ nó bắt nguồn từ một học thuyết sai lầm, dẫn đến sự h́nh thành nên một cơ chế làm triệt tiêu hầu hết mọi động lực cho sự phát triển xă hội. Nó đă vĩnh viễn ra đi chứ không phải tạm thoái trào, để rồi một ngày nào đó sẽ phục hồi và quay trở lại như có những người đă từng phát biểu hoặc hy vọng. (tất nhiên có người làm vậy chỉ là để giả vờ trước nhân dân mà thôi). Cuộc "đại thực nghiệm" cho học thuyết của Mác ấy đă đại thất bại, sau 74 năm tồn tại trên nhiều vùng đất rộng lớn và đông dân cư của thế giới. Nó là một tai họa lớn cho nhân loại nói chung và nhất là cho nhân dân các nước XHCN nói riêng.

Trong suốt một thập niên qua ở các nước Đông Âu và các nước cộng ḥa cũ thuộc Liên Xô đă diễn ra nhiều cuộc bầu cử tự do. Có một t́nh h́nh là: bất cứ một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nào dù đă đổi tên gọi, nhưng nếu có ư định phục hồi lại Chủ nghĩa xă hội th́ đều bị thất bại trước những lá phiếu của nhân dân. Cuộc bầu cử tổng thống Nga vào tháng 3/2000 vừa qua đă chứng minh thêm cho điều này. Có nhiều người vốn là những đảng viên cộng sản cũ đă thắng cử, điều đó cũng là b́nh thường. Nhưng nguyên nhân thắng cử là bởi họ đă thực sự là đại diện cho tiến tŕnh dân chủ mới, và cử tri bầu họ là v́ lẽ đó, chứ không phải là để quay về với con đường trước kia.

Những hỗn loạn, xung đột của nước Nga hậu cộng sản gần 10 năm qua là có thật, nhưng phải thấy rằng chúng là biểu hiện của những mâu thuẫn sâu xa đă có từ lâu trong quá khứ, nay mới có điều kiện để bung ra. Trước đây chúng đă bị dập đi bởi sự bưng bít thông tin và bởi bạo lực của nền chuyên chính vô sản, làm cho người ngoài khó thấy được. Nó chỉ chứng tỏ rằng: hễ càng ủ những mâu thuẫn ấy càng lâu th́ khi đủ điều kiện phát nổ, chúng sẽ càng nổ lớn. Và một tổng thống Nga Bôrít-Enxin (Boris Yeltsin) nát rượu, tính khí thất thường. không phải là đại diện xứng đáng cho một nước Nga mới.

Cũng cần nhắc lại là so với các nước Đông Âu th́ thời gian Liên Xô xây dựng Chủ Nghĩa Xă Hội nhiều hơn những nước này đúng 30 năm, tức xây dựng trước 28 năm (1917/1945) và thêm 2 năm nữa (1989/1991). Nếu ai chỉ chú tâm nhấn mạnh đến những tiêu cực mà lại quên đi những bước chuyển ḿnh thành công khác của nước Nga, các nước cộng ḥa thuộc Liên Xô cũ và của các nước Đông Âu là thiếu sự khách quan. Cách nh́n ấy là rất phiến diện, thậm chí c̣n là sai nếu lại đưa nó ra như một con ngoáo ộp đe doạ người dân, nhằm mục đích khước từ đổi mới chính trị. Bằng cách đó họ đă đi ngược lại với trào lưu dân chủ mới.

Một số nhận xét thêm:

Anh Hà Sỹ Phu - tiến sỹ sinh học hiện đang ở tại Đà Lạt, trong bài viết Chia Tay Ư Thức Hệ có viết "lư thuyết của Mác như một cô gái cực đẹp nhưng lẩn thẩn "! Tôi chỉ xin góp thêm một ư: cô gái ấy đă bắt đầu bước vào đời sống nhân loại từ năm 1917, và nay th́ phải cộng thêm tuổi cho cô gái lẩn thẩn này ! Mác đă từ bỏ tầng lớp trên của ḿnh để đứng hẳn về phía giai cấp cần lao. Ôâng đă dành trọn sự nghiệp của ḿnh để nghiên cứu và phát hiện ra nhiều căn bệnh trong ḷng XHTB, giúp nhân loại t́m cách sửa chữa và điều chỉnh nó. Đó là đóng góp rất lớn của ông. Nhưng nếu ông dừng lại ở đấy mà không kêu gọi xóa hẳn cái cũ, xây dựng cái mới, với xuất phát điểm là dùng bạo lực, th́ nhân loại đă không phải trả giá đắt như ở thế kỷ 20 vừa qua. Thực tế nhân loại đă "chống cộng" là theo ư nghĩa này, chứ không phải là trọn gói, kể cả tinh thần xă hội rất cao đẹp cùng những đóng góp thật sự của Mác . V́ nếu là "trọn gói" tất nhiên sẽ gây phân hóa, để rồi rất dễ lâm vào t́nh trạng của những người cứ xô đại vào cánh cửa đă mở sẵn. Họ vừa tự gây thương tích cho ḿnh rất đáng tiếc, vừa làm đau đớn những người xung quanh.

Chủ nghĩa cộng sản có được bao nhiêu năm th́ phong trào chống lại chủ nghĩa ấy cũng có được bấy nhiêu năm. Chính sự thông minh, khôn khéo của nhân loại và của nhiều nhân vật lớn trên thế giới, đă góp phần quyết định chiến thắng được phong trào cộng sản nói chung và phe XHCN nói riêng, trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua. Chúng ta tin rằng nếu c̣n sống đến hôm nay, th́ công việc đầu tiên mà Mác làm là xem xét lại toàn bộ học thuyết của ḿnh. Bởi v́ ông là một nhà khoa học thật sự, và biết đâu nhân loại sẽ được thấy một vị "Anh hùng chống Mác" lại chính là Mác cũng nên! Nhưng tôi cũng lại nghĩ thêm: có khi ông t́m đến để xin lại đứa con tinh thần của ḿnh, th́ ông lại bị chính những người đang khư khư giữ nó nhất quyết chống lại. (nhiều khi chủ nhà lại c̣n dễ hơn là mấy ông gác cổng!).

Với một ông Mác viết những Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản,Tư Bản Luận, … dưới ánh đèn điện, lại được sự trợ giúp của truyền h́nh nhiều kênh, của mạng lưới thông tin toàn cầu (Internet), điện thoại, fax, ... sẽ khác với một ông Mác ngồi viết nó dưới những ngọn nến. Một ông Mác đi máy bay nhất định cũng không giống với một ông Mác đi xe lửa hay xe ngựa! Tổng kết về CNCS, cựu tổng thống Ba Lan Lếch-Valêxa (Lech walesa) đă có một câu nói lên sự thật phũ phàng, nhưng cũng thật chính xác: "Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất để đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản!".

1.3 - Sự phát triển của xă hội loài người từ khi có chủ nghĩa Mác tới nay :

Trong thực tế xă hội loài người đă vận động và phát triển hoàn toàn khác hẳn với những ǵ mà Mác đă dự đoán: cách mạng vô sản đă không nổ ra trước tiên ở các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển nhất. (ông dự đoán là nước Đức :"Những người cộng sản chú ư nhiều nhất đến nước Đức, v́ nước Đức hiện nay đang ở vào đêm trước của một cuộc cách mạng vô sản ..." - trích Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản). Mà lại nổ ra ở nước Nga, lúc ấy chỉ là một nước TBCN phát triển trung b́nh. Cái "mắt xích" ấy yếu nhất và bị "đứt" là bởi chiến tranh và nội chiến, do nước Nga Sa Hoàng tham dự đă làm cho nước Nga suy kiệt, nhân dân Nga, nhất là các tầng lớp công - nông - binh bất măn đến cùng cực. Chính họ đă là lực lượng ṇng cốt cho cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 giành được thắng lợi. Nó tuyệt đối không phải là sự vận động và phát triển của "Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và tŕnh độ phát triển của lực lượng sản xuất" mà Mác đă chỉ ra.

Những trường hợp của bốn nước XHCN c̣n sót đến ngày nay lại càng khẳng định thêm cho điều này. Chưa kể đến Mông Cổ (Mongolia) mà đa số người dân vốn chỉ quen với đời sống du mục trên thảo nguyên, th́ đă lấy đâu ra mâu thuẫn giữa "tính chất xă hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất", vậy mà cũng nhảy được một lúc 2 - 3 bậc lên CNXH ! (Trung Quốc và Việt Nam nhảy cóc một bậc là vẫn c̣n … ít!). Dự đoán trên đă sai, nhưng dự đoán sau đây c̣n sai tệ hại hơn nữa: trong Tư Bản Luận - quyển I ông viết "Giờ tận số của chế độ tư hữu TBCN đă điểm"!

- Trước và sau Mác nhân loại đă ra sức t́m kiếm nhiều phương cách khác nhau để giải quyết bài toán lợi - quyền. Kết quả là ngày càng có nhiều người vô sản hôm qua trở thành những người hữu sản hôm nay bằng lao động chân chính của họ. Luật pháp cũng thay đổi để bảo vệ và khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thị trường chứng khoán cũng phát triển mạnh đă đẩy nhanh quá tŕnh "cổ đông hóa". (nước Úc hiện nay có khoảng 5 triệu cổ đông trên tổng số gần 20 triệu dân, chiếm hơn 25% dân số. Có 500,000 các doanh nghiệp gia đ́nh, chiếm 50% lực lượng lao động toàn xă hội. Trong một cuộc nghiên cứu gần đây th́ nước Úc có 230,000 nhà triệu phú so với 75,000 cách đây 7 năm,tức là trung b́nh cứ 80 người dân th́ có 1 triệu phú.) Nghĩa là họ vừa là người làm thuê, lại vừa là người làm chủ hoặc tự làm chủ hoàn toàn. Từ đó cái tâm lư đấu tranh một mất một c̣n kiểu "Được là được tất cả, mất chỉ mất gông cùm xiềng xích !" hay "quyết phá sạch tan tành" đă ngày càng bị đẩy lùi trong các xă hội văn minh. Nếu "đấu tranh này là trận cuối cùng" (những lời trong bài Quốc Tế Ca ), th́ sau "trận cuối cùng" ấy họ sẽ mất nhiều hơn là được . Nhiều bộ luật cũng đă ra đời để hạn chế t́nh trạng cạnh tranh, vô chính phủ. Ví dụ là luật chống độc quyền: nếu công ty Microsoft hiện nay của Mỹ mà không có luật trên hạn chế, th́ nó đă nuốt nhiều chú "cá bé" lắm rồi. Và nhà tỷ phú Bill Gates cùng một số bạn hữu của ông là những ví dụ điển h́nh, mà chỉ bằng tài năng và quyết tâm của họ đă trở thành những ông chủ lớn, từ những vốn liếng rất nhỏ nhoi ban đầu.

- Hệ thống chính trị cũng có những thay đổi về chất để chuyển từ nền Dân chủ tư sản cho một thiểu số sang nền Dân chủ đa nguyên cho nhiều người. Ở đó xă hội nh́n nhận và tôn trọng những khác biệt về tư tưởng, quan điểm chính trị, chủng tộc, tín ngưỡng, thành phần xuất thân, ... nghĩa là mọi quyền của con người đều được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Chỉ trừ ai hoặc nhóm người nào "khác biệt" đến mức đi tuyên truyền, cổ vũ hoặc trực tiếp nhúng tay vào các hoạt động bạo lực, khủng bố, tự hủy, v.v…

Đặc biệt nhất là quyền tự do ứng cử và bầu cử, qua đó người dân vừa bầu ra một chính phủ có kỳ hạn nắm quyền. Đồng thời cũng bầu ra những lực lượng chính trị khác làm đối lập xây dựng đủ mạnh, để kiểm soát mọi hoạt động của chính phủ đương quyền. Thời gian ở vị trí đối lập chính là thời gian học việc của họ, và tất cả đều có thể bị thay thế bằng những lực lượng chính trị mới, nếu họ nói mà không làm hoặc làm không được việc. Họ sẽ không có nhiềư "cơ hội" để miệt mài làm ngụy biện và đạo đức giả với cử tri - những người đóng thuế. Đồng thời giới truyền thông cũng có những quyền lực thật sự để thực hiện các chức năng phản ánh, hướng dẫn, giám sát và dự báo xă hội của họ một cách độc lập. Mặt khác c̣n là sự thăng bằng và chế ngự lẫn nhau của ba cơ quan quyền lực : lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nó không cho phép một cá nhân hay một đảng phái nào có quyền chi phối hoặc đứng hẳn lên trên nó.

Tất nhiên ngay cả ở những xă hội phát triển nhất th́ không phải mọi việc đều đă ổn thỏa. Vẫn c̣n có những bất công, có khi là rất lớn. Nhưng đấy là xă hội được nhiều người dân chấp nhận, và họ vẫn luôn ra sức phát hiện những điểm không ổn ấy, để t́m cách điều chỉnh cho nó ngày một hoàn thiện hơn. C̣n ư tưởng xây dựng một xă hội mới hoàn toàn công bằng và b́nh đẳng, th́ cả vềà lư luận và thực tiễn đều cho thấy rằng: chính nó mới thực sự là không tưởng, để rồi đă sa vào thảm cảnh "đi nhờ con cáo này để đuổi con cáo kia."! Mà con cáo mới này lại có nhiều móng vuốt hơn, răng cũng to và khỏe hơn do đó cũng "vồ" được nhiều gà hơn !

2 - Hoàn cảnh mà CT Hồ Chí Minh đă chọn con đường đi cho dân tộc Việt Nam.
(Chủ tịch Hồ Chí Minh 1890 - 1969)

Theo các văn kiện chính thức của ĐCS Việt Nam, cũng như CT Hồ Chí Minh lúc sinh thời đă nhiều lần khẳng định th́ con đường mà CT Hồ Chí Minh đă chọn cho dân tộc Việt Nam chính là con đường của Lê Nin, tức con đường XHCN. Cơ sở h́nh thành của nó ra sao, đúng sai thế nào th́ như đă biết. Ở đây chúng ta chỉ đi t́m hiểu xem hoàn cảnh nào đă dẫn CT Hồ Chí Minh t́m đến với con đường ấy :

Paris năm 1920, lúc này chàng trai 30 tuổi Nguyễn Ái Quốc tức CT Hồ Chí Minh sau này đă là thường trú nhân ở đây được 3 năm. Anh cũng mới ra nhập đảng xă hội Pháp được 1 năm. (CT Hồ Chí Minh sinh sống ở Pháp 6 năm từ 1917 - 1923).

Liên tiếp trong hai ngày 16 và 17/7 tờ Nhân đạo (L’humanité) cơ quan ngôn luận của đảng xă hội Pháp đăng bài viết nhan đề: "Đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lê Nin, đây là một bài viết 8 trang và như sau này CT Hồ Chí Minh kể lại đại ư : "Trước đó tôi chưa hề đọc một cuốn sách nào của Lê Nin viết, nó làm tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên, ngồi một ḿnh trong pḥng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta! Đây là con đường giải phóng dân tộc chúng ta! ... Và từ đó tôi đă có một sự lựa chọn: tán thành Quốc Tế III và hoàn toàn tin theo Lê Nin, nhất quyết đi theo ngọn đuốc của Lê Nin vĩ đại để soi sáng đường cho cách mạng Việt Nam".

Tuy nhiên có điểm sau đây cũng do ông kể lại: "Trong đề cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính, ...".

Tôi không có ư nói rằng hễ người nào không biết ngoại ngữ hoặc có biết nhưng không giỏi th́ không thể chọn được đường đi cho dân tộc ḿnh, nhưng ở vào hoàn cảnh của ông lúc đó, là người Việt Nam duy nhất đi theo con đường của Lê Nin, như chính ông và những đồng chí của ông đă nhiều lần khẳng định, mà với một bài viết không dài lắm ông đọc vất vả như vậy, th́ sẽ không dễ ǵ ông hiểu được toàn bộ tư tưởng của Lê Nin, lại càng khó có thể hiểu được những tư tưởng của Mác . (v́ như chúng ta biết là văn phong của Mác đọc rất khó hiểu, mà anh Nguyễn lúc ấy lại không có các tác phẩm của ông bằng tiếng Việt trong tay.).

Một điểm nữa cũng cần phải lưu ư là việc tán thành Quốc Tế III của ông là ở vào một hoàn cảnh khác sau đó :

Nước Pháp - Thành phố Tours cuối tháng 12/1920, lúc này đảng xă hội Pháp nhóm họp đại hội lần thứ 18 để thảo luận và quyết định một vấn đề quan trọng: nên tiếp tục theo Quốc Tế II như truyền thống hay theo Quốc Tế III? anh Nguyễn cũng được đảng chọn làm đại biểu đại diện cho xứ Đông Dương thuộc Pháp tham dự đại hội. Sau này CT Hồ Chí Minh cũng đă kể lại đại ư : " Sau phần bỏ phiếu, người nữ thư kư ghi biên bản của đại hội hỏi : Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc Tế III? - Ông đáp: Rất đơn giản, tôi không phân biệt rơ sự khác nhau giữa Quốc Tế II, Quốc Tế II rưỡi hay Quốc Tế III. Tôi cũng không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác, nhưng tôi hiểu rơ một điều: Quốc Tế III rất chú ư đến vấn đề giải phóng thuộc địa, đến tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi. Đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu,…". (có tài liệu viết rằng đoạn đối thoại trên là xảy ra trước phần bỏ phiếu, nhưng theo tôi điều đó không ảnh hưởng ǵ đến thực chất của vấn đề.).

Theo đánh giá của nhiều người th́ câu chuyện ấy nói lên rằng đó là những khoảnh khắc lịch sử để CT Hồ Chí Minh "Đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến yêu CNXH sâu sắc". Theo tôi đây là một điểm lớn cần phải phân tích kỹ hơn *, nhưng cũng qua đó lại thêm một lần nữa khẳng định tính "hên - xui, may - rủi" trong việc chọn đường đi cho dân tộc của ông : một khi mà vào tháng 7 ông đă "nhất quyết đi theo ngọn đuốc của Lê Nin vĩ đại" rồi, mà 5 tháng sau đó ông vẫn không hề biết rằng Quốc Tế III chính là do Lê Nin sáng lập từ năm 1919 để dứt khoát chọn ngay từ đầu, vừa là để củng cố thêm cho con đường mà ḿnh đă chọn, vừa ủng hộ cho người thầy lớn của ḿnh. V́ vậy có thể nói trộm vía ông rằng: Hoàn cảnh mà CT Hồ Chí Minh đă chọn đường đi cho dân tộc vào năm 1920 ấy chẳng khác nào hoàn cảnh của một người ... bắt mèo ở trong bị! Hay nói một cách khác th́ nó cũng tương tự như hoàn cảnh của một người đang ngồi trong ... ṣng bài! Trong điều kiện làm việc đơn phương, vừa đói thông tin, vừa nghèo phương án đến như vậy, th́ chẳng cứ ǵ chàng trai Nguyễn Tất Thành, mà bất cứ ai dù có là vĩ nhân đi chăng nữa, nếu có chọn được một con đường nào đó cho dân tộc, th́ chắc chắn nó cũng sẽ có độ rủi ro cao, lành ít dữ nhiều mà thôi. (sau đại hội trên những ai bỏ phiếu cho Quốc Tế III đă tách ra để thành lập ĐCS Pháp, v́ vậy đại hội Tours c̣n được gọi là đại hội sáng lập ĐCS Pháp.).

Một câu hỏi đặt ra là nếu CT Hồ Chí Minh không chọn con đường của Lê Nin, th́ Việt Nam sẽ đi theo con đường nào? Câu trả lời là: Việt Nam sẽ đi theo con đường các nước Đông Nam Á (ASEAN) đă đi, mà Việt Nam chỉ mới ra nhập từ năm 1995 đến nay. Nếu như vậy đất nước đă không bị chậm nhiều chục năm so với thế giới, không phải gánh chịu những hậu quả kéo dài đến tận hôm nay, mà tôi xin tŕnh bày rơ hơn ở phần sau. Cũng như đă tránh được mức độ khốc liệt vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ I (1946 - 1954). Và dĩ nhiên cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ II (1954 - 1975) cũng đă không xảy ra. Máu xương của nhiều triệu con người Việt Nam ở cả hai phía đă không phải đổ xuống.

Toàn bộ cục diện quốc tế và khu vực châu Á - Thái B́nh Dương đă chứng minh điều này. Điển h́nh là trường hợp của Malaysia: tuy các phong trào khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của nước này, kể cả phong trào cộng sản đều bị thất bại nặng nề, nhưng vẫn được người Anh trao trả lại độc lập vào năm 1957. Một số nước khác th́ sớm hơn như : năm 1946 có Philippines thuộc Mỹ, Syria và Liban thuộc Pháp. Năm 1947 có Ấn Độ, Pakistan và năm 1948 có Miến Điện (Myanmar), SriLanka, Palestin đều thuộc Anh và Indonesia thuộc Hà lan năm 1949, v.v… (riêng Thái Lan do nét đặc thù riêng nên không phải là một nước thuộc địa trước đó.)

T́nh h́nh các nước khác ở châu Phi, Mỹ La tinh, v.v… cũng là như vậy. Tất cả đều giành được độc lập dù ở đó có hay không có các đảng cộng sản lănh đạo, có phong trào khởi nghĩa vũ trang hay không. Đây là kết luận chung của các sử gia khách quan, chứ tôi không hề có ư định làm cái anh chàng "Khổng Minh sau trận đánh". Việc trao trả lại nền độc lập từ các nước chủ thuộc địa cho các nước thuộc địa cũ không phải diễn ra đồng thời, mà kéo dài từ năm 1945 đến giữa thập niên 60 trong thế kỷ 20. Trong đó nổi bật lên vai tṛ can thiệp của nước Mỹ, với đầy đủ cả những mặt xấu lẫn tốt của nó *.

V́ vậy nếu ai nói rằng: CT Hồ Chí Minh đă có công đầu trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam, rồi sau đó lănh đạo ĐCS Việt Nam đưa dân tộc vào quỹ đạo của CNXH th́ đúng. Nhưng nếu lại nói đấy là con đường duy nhất để Việt Nam giành lại được độc lập là sai. Càng sai hơn nữa nếu gắn thêm vào đấy những giá trị như : hạnh phúc và ấm no, b́nh đẳng và bác ái, dân chủ và tự do, v.v… Thậm chí có người cho đến lúc này vẫn c̣n so sánh mức sống chung của nhân dân hôm nay với trước cách mạng tháng 8/1945!(mà có khi cả làng chỉ vài nhà có xe đạp). Tôi cho rằng bằng cách đó họ đă tự gây thích thú cho ḿnh nhưng đă làm khổ cả một dân tộc .

Nguyên soái Giu-Cốp (Zhukov), 4 lần anh hùng Liên Xô - người có công rất lớn với nhân loại trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II, đă viết trong cuốn hồi kư Nhớ Lại Và Suy Nghĩ của ông : "Người ta có thể xuyên tạc hay bóp méo lịch sử, nhưng không ai có thể làm lại được lịch sử ...". Ngày nay sau gần 80 năm trôi qua, dân tộc Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để chọn lại con đường đi cho dân tộc ḿnh. Nhất định cả dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người chọn. Và v́ đây là vấn đề của cả dân tộc th́ phải để cho cả dân tộc ấy chọn. Không ai hoặc bất cứ một lực lượng chính trị nào có quyền đứng ra nhân danh dân tộc để tự ấn định hay khước từ quyền tự quyết thiêng liêng ấy, v́ những lợi ích riêng của họ. Chính điều đó mới là vừa thiếu đạo đức, vừa thiếu văn minh!

3 - Đường lối
"Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa"
ở Việt Nam hiện nay.

3.1 - Hoàn cảnh ra đời:

Đường lối này bắt đầu ở Việt Nam vào cuối thập niên 80, nhất là sau đại hội VII ĐCS Việt Nam năm 1991, tên đầy đủ hơn của nó là: "Xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lư và điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN, với thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai tṛ chủ đạo". Nó cũng là sự tiếp nối của đường lối đổi mới kể từ đại hội VI ĐCS Việt Nam năm 1986. Nó diễn ra trong bối cảnh toàn phe XHCN trước, sau ở từng nước đều đă phải đi t́m những con đường mới nhằm thay thế cho con đường cũ đă thất bại. Nhưng khác với trước là có cả một học thuyết lớn dẫn đường, th́ những con đường mới đều là những giải pháp t́nh thế. Cụ thể là :

- Với các nước Đông Âu và Liên Xô sau nhiều trăn trở, cuối cùng họ chấp nhận thất bại, kiên quyết đoạn tuyệt hẳn với quá khứ và làm lại từ đầu, nhằm bắt kịp ḍng chảy của thời đại.

- Với Cu Ba và Bắc Hàn th́ vẫn tiếp tục cố thủ, không đổi cũ mà cũng chẳng đổi mới. Gần đây mới có những chuyển động, đang được thế giới quan tâm theo dơi.

- Với Trung Quốc là đường lối "Xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc", được bắt đầu từ năm 1978. Thực chất của nó là sự thay thế từ thuyết "Hai ngọn gió Đông - Tây" của Mao Trạch Đông sang thuyết "Hai con mèo đen - trắng" của Đặng Tiểu B́nh. (một khi mà "gió Đông" không thổi bạt được "gió Tây" th́ người ta quay sang "bắt chuột" bằng bất cứ loại mèo nào, dù là mèo đen hay mèo trắng!). Điều này một mặt tạo ra động lực để nền kinh tế - xă hội Trung Quốc chuyển ḿnh, nhưng mặt khác nó cũng cho người ta thấy : đây chính là một màn "thoát y vũ" ngoạn mục nhất về lư tưởng cộng sản!

- Với Việt Nam th́ tương tự như Trung Quốc : đổi mới kinh tế nhưng cương quyết không chấp nhận đổi mới chính trị.

3.2 - Cơ sở của đường lối mới:

Bây giờ ta đi vào phân tích xem đường lối mới có cơ sở khoa học hay không? Nếu có th́ dân tộc phải ủng hộ nó. Nếu không th́ cả dân tộc phải cương quyết đấu tranh cho cái mới ra đời, thay thế và phát triển theo quy luật:

- Xét về tính chất sở hữu th́ giữa hai nền kinh tế thị trường và nền kinh tế XHCN là hoàn toàn khác nhau: một cái chủ yếu là dựa trên cơ sở "tư hữu", c̣n cái kia lại chủ yếu dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nếu đem "trộn" chúng lại với nhau th́ sẽ nảy sinh một quá tŕnh ngược: mỗi bước tiến của cái này sẽ là một bước lùi của cái kia và ngược lại.

- Xét về bản chất chính trị ứng với chúng th́ cũng lại hoàn toàn khác nhau (theo Lê Nin th́ chúng hơn kém nhau tới hàng triệu lần!). Nếu cũng đem "trộn" nền kinh tế này với nền chính trị kia th́ ngoài việc nó mâu thuẫn với những nguyên lư chung, nó c̣n mâu thuẫn với chính "vấn đề cơ bản của triết học Mác-xít" rằng: "vật chất quyết định ư thức", "tồn tại xă hội quyết định ư thức xă hội" hay "cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng", v.v… (anh Hà Sỹ Phu gọi sự kết hợp này là "đứa con lai láu cá"!).

Giả sử có một nền chính trị nào đó mà trước kia đă phù hợp với nền kinh tế XHCN, rồi nay lại cũng "sài" được luôn cho nền kinh tế thị trường, th́ theo tôi có lẽ nó cũng giống như những viên thuốc ... xuyên tâm liên chữa khỏi bách bệnh, được quảng cáo rầm rộ ở Việt Nam ngày nào! V́ vậy tôi rất "khâm phục" vào tính "linh hoạt" của nhiều vị "thầy lang" ta, nghĩa là bệnh "hàn" hay "nhiệt" ǵ th́ các vị cũng đều chỉ định cho cả dân tộc uống "xuyên tâm liên" hết.

Có thể có một cách so sánh khác như sau: việc đưa ra công thức "trộn" trên cũng chẳng khác nào bảo cứ đun ... một góc vuông thêm 10oC nữa th́ sẽ được … nước sôi! V́ nhân dân được họ giải thích rằng: độ của góc vuông là 90, c̣n độ sôi của nước là 100! Nhiều khi tôi cứ tự hỏi tại sao người ta lại bày chuyện cho cả một dân tộc lụi cụi đi "đun góc vuông" hoặc miệt mài "uống xuyên tâm liên" như vậy ? Nhất định phải có cái ǵ đó rất cụ thể, rất hữu h́nh chứ. Phải chăng cái đó là: dù đất nước sẽ tiến hay lùi, hay " nửa chừng xuân" th́ đó không phải là điều mà những người khởi xướng nó quan tâm. Điều quan trọng nhất là phải làm sao khẳng định cho bằng được rằng: "ĐCS Việt Nam vẫn luôn luôn là lực lượng chính trị duy nhất lănh đạo đất nước, trước đây là vậy, ngày nay là vậy và măi măi sau này cũng sẽ là như vậy - đây là vấn đề có tính nguyên tắc"! Tất cả mọi cái gọi là đường lối hay một cái ǵ khác tương tự chỉ là h́nh thức * và để tŕnh diễn mà thôi. Nếu quả là như vậy th́ "bà chị" kia ác quá, đă biết "lá diêu bông" là thứ không hề có trên cơi đời này rồi mà vẫn cứ bắt người khác đi t́m, c̣n ḿnh th́ lẳng lặng đi "lấy chồng". Lại c̣n đi bước nữa, bước nữa!

Từ những tŕnh bày trên ta rút ra nhận xét: cũng như trước kia, đường lối mới hiện nay cũng hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn. V́ vậy khi đi vào cuộc sống tất nhiên nó sẽ nảy sinh ra nhiều hậu quả khôn lường. Nó không tránh khỏi sự khập khiễng, chắp vá theo kiểu "râu ông - cằm bà", và sớm muộn ǵ cũng đi vào bế tắc và khủng hoảng xă hội.

3.3 - Một số nét tiêu biểu của thực trạng xă hội Việt Nam hôm nay:

Thực trạng xă hội Việt Nam hôm nay th́ dư luận cùng các nhà đầu tư, giới phân tích thời cuộc trong, ngoài nước cũng như các báo cáo của đảng, quốc hội và chính phủ Việt Nam đă đề cập rất rơ. Dưới đây tôi chỉ xin đưa ra một số nhận xét tiêu biểu theo cách nh́n riêng của ḿnh.

a - Sự lập lờ giữa hai vế của đường lối:

Đó là những cú "bật tường" ngoạn mục giữa thành tích và khuyết điểm. Nhiều người có xu hướng dồn hết mọi tội lỗi, xấu xa cho cái "gă thị trường nhơ nhuốc" kia. (nhưng khổ một nỗi là nếu lại tống cổ gă ta đi cho khuất mắt th́ xă hội lại sẽ không có động lực như trước.). C̣n những ǵ được cho là tử tế, hay ho th́ chính là bởi "chàng định hướng thanh tao"! Cũng phải thấy rằng "chiến thuật bật tường" này đă có từ thuở:

Mất mùa th́ tại thiên tai
Được mùa là bởi thiên tài đảng ta!

và trước đó nữa, cứ thế "các thế hệ cầu thủ trong câu lạc bộ" ấy truyền ngón nghề này lại cho nhau. Cuối cùng th́ hầu như tất cả đều nhuần nhuyễn và đội bị "phơi áo" chính là nhân dân Việt Nam. Ngày nay mọi người đều thấy rằng biểu hiện cụ thể và rơ ràng nhất của tính "định hướng XHCN" là sự lănh đạo đất nước duy nhất của ĐCS Việt Nam, c̣n trừu tượng và mờ nhạt nhất là những chính sách về phúc lợi xă hội, những khoản ngân sách dành cho y tế, giáo dục, v.v ...

b - Sự bất công xă hội sâu sắc:

Nếu bây giờ có ai đó c̣n nói rằng "xét cho cùng th́ quyền lợi của đảng và của toàn dân tộc luôn luôn thống nhất làm một !", th́ tôi cho rằng bằng cách đó tuy họ chưa đưa ai lên được sao Kim, sao Hỏa! Nhưng đă tự đưa ḿnh lên tới đỉnh cao nhất của sự ngụy biện và thói đạo đức giả. Những người dân Việt Nam, nhất là những người nông dân quanh năm chân lấm, tay bùn đă bị bóc lột đến cùng cực cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ như những người suốt đời phải "đóng hụi" nhưng chẳng bao giờ