BÁO CÁO VỀ T̀NH H̀NH NHÂN
QUYỀN Ở CÁC NƯỚC, NĂM 2003
Cục
Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại
giao Hoa Kỳ
Ngày
25/2/2004
VIỆT NAM
Việt Nam là quốc gia
một đảng do Đảng Cộng sản Việt Nam
lănh đạo và kiểm soát. Đảng có vai tṛ lănh
đạo then chốt theo quy định của Hiến pháp
và việc các Đảng viên nắm giữ tất cả các
vị trí chủ chốt trong chính phủ đảm
bảo vai tṛ bậc nhất của đường
lối do Bộ Chính trị đề ra và cho phép Đảng
vạch ra những khung chính sách quốc gia lớn. Trong những
năm gần đây, Đảng đă giảm dần sự
can thiệp vào các hoạt động của Chính phủ và
cho phép Chính phủ có vai tṛ lớn hơn trong việc
thực hiện các chính sách. Quốc hội vẫn chịu
sự chỉ đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, tuy nhiên, Chính phủ vẫn tiếp tục
tăng cường năng lực và cải tổ bộ
máy quan liêu của Quốc hội gồm 498 đại
biểu. Đại biểu Quốc hội được
chọn lựa thông qua bầu cử vào tháng 5/2002 và hầu
hết các ứng cử viên đều được xem
xét lư lịch kỹ lưỡng bởi Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, một cơ quan thuộc
Đảng Cộng sản Việt Nam quản lư các tổ
chức xă hội của Việt Nam. Khoảng 90%
đại biểu là Đảng viên. Tuy nhiên, Quốc hội
tiếp tục đóng một vai tṛ ngày càng quan trọng
như một diễn đàn bàn về các vấn đề
của các địa phương và các tỉnh và là nơi
để chỉ trích t́nh trạng tham nhũng và kém
hiệu quả ở các địa phương và trong
cả nước, Quốc hội đă đạt
được những tiến bộ trong việc cải
thiện sự minh bạch trong các hệ thống quy
phạm pháp luật. Bộ phận tư pháp chịu
sự ảnh hưởng của Đảng Cộng
sản Việt Nam và của Chính phủ.
An ninh trong nước là
trách nhiệm hàng đầu của Bộ Công an, tuy nhiên,
ở những khu vực xa xôi th́ quân đội vẫn là
đại diện quan trọng nhất của Chính phủ
đóng vai tṛ xây dựng cơ sở hạ tầng và an
ninh xă hội khác, kể cả duy tŕ trật tự trị
an khi có biến động. Từ năm 2001, quân
đội đóng vai tṛ to lớn ở Tây Nguyên bằng
việc tăng cường hạn chế các cuộc
tụ tập, thực hiện bắt giữ người
và hạn chế đi lại. Bộ Công an phụ trách
cảnh sát, một lực lượng điều tra an
ninh quốc gia đặc biệt và những lực
lượng khác để đảm bảo an ninh trong
nước. Bộ Công an triển khai luật pháp và
những quy định thường hạn chế đáng
kể tự do cá nhân và vi phạm các quyền con
người khác. Bộ này cũng duy tŕ một hệ
thống đăng kư hộ khẩu và an ninh khu phố
để kiểm soát dân số, tập trung vào những
kẻ bị t́nh nghi có dính líu hay có khả năng dính líu vào
các hoạt động chính trị bất hợp pháp, tuy
nhiên hệ thống này đă trở nên kém rành mạch, gây
ảnh hưởng và xâm phạm vào cuộc sống hàng
ngày của hầu hết người dân. Trong khi chính
quyền dân sự nh́n chung duy tŕ sự kiểm soát hiệu
quả đối với các lực lượng an ninh, có
những báo cáo nói rằng có các thành phần thuộc các
lực lượng an ninh đă hành động một cách
độc lập bên ngoài thẩm quyền của chính
quyền. Lực lượng công an cũng có nhiều
vụ vi phạm nhân quyền.
Đất nước
của khoảng 80 triệu dân này đang trải qua
thời kỳ quá độ từ một nền kinh
tế hoàn toàn kế hoạch hóa tập trung sang “nền
kinh tế thị trường theo định hướng
xă hội chủ nghĩa”. Trong năm qua, tăng
trưởng Tổng Sản phẩm Quốc nội là
xấp xỉ 7% và tỷ lệ lạm phát ở mức
xấp xỉ 2,2% vào thời điểm cuối năm. Các
ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản sử
dụng 62,5% lao động và chiếm 23% tổng sản
lượng kinh tế. Công nghiệp và xây dựng đóng
góp 38,5% tổng sản lượng kinh tế, trong khi ngành
dịch vụ chiếm 38,5%. Trong năm qua, giải ngân
viện trợ phát triển chính thức đạt hơn
1,4 tỷ đô-la. Trong 10 năm qua, mức đói nghèo chung
giảm đáng kể; đến năm 2002, khoảng 30%
dân số sống dưới mức đói nghèo. Đặc
biệt, ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội,
cải cách kinh tế đă nâng cao mức sống và
giảm sự kiểm soát, can thiệp của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chính phủ vào cuộc
sống hàng ngày của người dân, tuy nhiên, nhiều
người dân ở các vùng nông thôn hẻo lánh, nhất là
các dân tộc thiểu số ở vùng Cao nguyên Tây Bắc,
Tây Nguyên và các vùng duyên hải miền trung vẫn sống
trong t́nh trạng đói nghèo nghiêm trọng. Sự chênh
lệch về thu nhập và phát triển giữa khu vực
đô thị và nông thôn và giữa các khu vực đô
thị đang tăng lên. T́nh trạng thất nghiệp
hoặc bán thất nghiệp vẫn là những vấn
đề lớn. Chính phủ đă có những bước
đi đáng kể trong việc cải thiện sự minh
bạch pháp lư đối với các doanh nghiệp. Tháng 12/2002,
Quốc hội đă sửa đổi Luật về Ban
hành Các Văn bản Quy phạm Pháp luật, luật này quy
định rằng hầu hết các văn bản pháp lư
phải được đăng trên Công báo Chính phủ.
Ngày 1/7, để đáp ứng quy định này, Công báo
Chính phủ đă được phát hành hàng ngày trong khi
trước đây Công báo ra 6 số một tháng.
T́nh h́nh nhân quyền
của Chính phủ vẫn c̣n kém và Chính phủ tiếp
tục các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chính
phủ vẫn không cho công dân quyền được thay đổi
chính phủ của ḿnh. Cảnh sát đôi khi đánh
đập những người t́nh nghi khi bắt bớ,
giam giữ và thẩm vấn họ. Một vài nguồn tin
c̣n cho biết lực lượng an ninh giam giữ, đánh
đập và chịu trách nhiệm về sự mất tích
của một số người trong năm qua. Các vụ
tùy tiện giam giữ công dân vẫn tiếp tục, kể
cả giam giữ v́ bày tỏ quan điểm chính trị và
tôn giáo một cách ḥa b́nh. Trừ một số
trường hợp ngoại lệ, điều kiện
sống trong nhà tù vẫn hà khắc, đặc biệt
ở một số tỉnh vùng sâu, và có tin một số
người đă chết v́ bị đối xử tàn
tệ trong thời gian giam giữ. Các nhà tù thường
bắt phạm nhân phải làm việc với mức thù lao
rất ít và không có tiền công. Ngành tư pháp không
độc lập hoạt động và Chính phủ không
công nhận quyền được xét xử công bằng
và nhanh chóng đối với một số công dân. Chính
phủ tiếp tục giam giữ một số tù nhân chính
trị. Chính phủ hạn chế quyền riêng tư
của công dân mặc dù vẫn tiếp tục có xu
hướng giảm bớt sự can thiệp của Chính
phủ vào cuộc sống hàng ngày của công dân. Chính
phủ hạn chế đáng kể quyền tự do ngôn
luận, báo chí, tụ tập và lập hội. Chính phủ
tiếp tục chính sách có từ lâu là không khoan dung
đối với phần lớn các h́nh thức bất
đồng chính kiến và tăng cường các nỗ
lực nhằm kiểm soát sự bất đồng chính
kiến trên Internet. Lực lượng an ninh tiếp
tục các biện pháp hạn chế đối với các
cuộc tụ tập công cộng và đi lại ở
một số vùng trong nước, chủ yếu là ở
Tây Nguyên và Cao nguyên Tây Bắc. Chính phủ cho phép các quan
chức dân bầu và dân thường được
hưởng quyền tự do ngôn luận và hội họp
nhiều hơn để bày tỏ những vấn
đề bức xúc tại những diễn đàn
được chấp thuận. Chính phủ nghiêm cấm
các tổ chức xă hội, lao động, chính trị có
tính độc lập và những tổ chức như
thế chỉ được hoạt động dưới
sự quản lư của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Chính phủ hạn chế tự do tôn giáo và
hoạt động của các tổ chức tôn giáo không
được Nhà nước chấp thuận. Cá biệt,
các tín đồ Phật giáo, Ḥa Hảo và Tin lành tích cực
trong các tổ chức không có đăng kư th́ bị chính
quyền gây phiền nhiễu và bắt giữ. Chính phủ
áp đặt một số hạn chế đối
với quyền tự do đi lại của một
số người bị coi là mối đe dọa
đối với chính quyền. Việc tiếp cận Tây
Nguyên của các nhà quan sát nước ngoài đă
được cải thiện từ năm 2002, nhưng
những người đến thăm khu vực này
thường bị theo dơi và có các viên chức an ninh đi
cùng. Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng
kể các quyền tự do dân sự với lư do an ninh
quốc gia và ổn định xă hội. Đảng
Cộng sản Việt Nam tiếp tục nỗ lực
đẩy mạnh cơ chế để công dân có thể
kiến nghị với Chính phủ và để các nạn
nhân của các vụ án oan, sai có thể được
bồi thường. Chính phủ không cho phép các tổ
chức nhân quyền được thành lập hoặc
hoạt động. Bạo lực và phân biệt xă hội
đối với phụ nữ vẫn tiếp tục là
vấn đề gây quan ngại. Nạn mại dâm trẻ
em cũng là vấn đề nhức nhối. Sự phân
biệt đối xử của Chính phủ và xă hội
đối với một số dân tộc thiểu số
vẫn tiếp tục là một vấn đề. Chính
phủ hạn chế một số quyền căn bản
của người lao động như tự do lập
hội mặc dù Chính phủ đă hợp tác với Tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO) và các nhà tài
trợ quốc tế nhằm nâng cao việc thực
hiện Luật Lao động hiện hành. Các báo cáo cho
thấy trẻ em làm việc trong t́nh trạng bị bóc
lột. Chính phủ nhận thức được
rằng lao động trẻ em là một vấn
đề và có những nỗ lực để giải
quyết vấn đề này. Buôn bán phụ nữ và
trẻ em với mục đích mại dâm ở trong
nước và ra nước ngoài tiếp tục là những
vấn đề nghiêm trọng và các báo cáo cho biết t́nh
h́nh buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc và Đài Loan
để thực hiện những vụ hôn nhân đă
được thỏa thuận hoặc bị ép buộc
vẫn tiếp diễn.
TÔN TRỌNG NHÂN
QUYỀN
PHẦN 1. TÔN
TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI, TRONG ĐÓ CÓ QUYỀN
TỰ DO KHÔNG BỊ:
a. Tước
đoạt cuộc sống một cách tùy tiện và
bất hợp pháp
Không có các vụ sát
hại chính trị trong năm qua. Tuy nhiên, có các báo cáo
về các vụ giết người do các lực
lượng an ninh thực hiện. Trong tháng 7, có tin
cảnh sát ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang đă
đánh chết Vang Seo Giao, một cựu Đảng viên
đă chuyển sang theo Thiên chúa giáo, và ném xác anh ta xuống
suối v́ đă không từ bỏ đức tin Tin lành
của ḿnh. Cũng có tin là cảnh sát đă đánh chết
một tín đồ Tin lành khác, Mua Say So, v́ đă chỉ
trích Chính phủ về việc Chính phủ được
cho là đă đánh chết anh của anh ta, Mua Bua Seng. Trong
tháng 9, cảnh sát tỉnh Nam Định đă đánh
chết Trần Minh Đức khi anh này bị bắt giam
sau một vụ xung đột gia đ́nh. Không có báo cáo ǵ
về những biện pháp nào đă được áp
dụng đối với các quan chức dính dáng
đến các vụ giết người này. Trong năm
qua, có tin cảnh sát tỉnh Quảng Nam đă tra tấn
Nguyễn Ngọc Châu đến chết trong khi hỏi cung
anh ta khi anh ta bị truy tố về tội giết
người. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đă
đề nghị truy tố 3 sỹ quan cảnh sát bị
quy là đă gây ra vụ đánh chết người nói trên;
vụ này đang chờ được xử lư vào
cuối năm 2003.
Hai sĩ quan cảnh sát
ở tỉnh Vĩnh Phú bị cáo buộc đă tra tấn
đến chết Khong Van Thoi trong tháng Một năm 2002 và
đang đợi ra ṭa vào cuối năm. Hai giám thị nhà
tù bị buộc tội giết chết phạm nhân Pham Van
Dung ở tỉnh Hải Dương tháng 9 năm 2002, và
cũng đang đợi ra ṭa v́ ngộ sát vào cuối
năm nay.
b. Mất tích
Đă có tin tức đáng
tin cậy nói rằng một số người dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên và Cao nguyên Tây Bắc đă
bị bắt hoặc bị giam giữ nhưng đă không
trở về với gia đ́nh họ.
Tháng 8, Ṭa án Nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh thông báo với gia đ́nh của
Phạm Văn Tường, một cựu ḥa thượng
trong tổ chức Phật giáo Thống nhất Việt Nam
(UBCV) trước đây có tên là Thích Trí Lực cho
đến khi hoàn tục năm 1997, rằng ông đang
bị giam ở Thành phố Hồ Chí Minh chờ xét xử
về một số tội danh không được nêu rơ.
Tháng 7/2002, có tin Tường đă bị ép buộc phải
quay về nước từ Campuchia trong khi ông đă
được Cao ủy Liên Hợp Quốc về
Người Tị nạn trao quy chế tị nạn
ở Campuchia. Ṭa án đă hoăn xét xử ông, kế hoạch
ban đầu là xét xử vào ngày 1/8; gia đ́nh ông đă
không được đến thăm ông, và đến
cuối năm 2003 vẫn chưa có ngày giờ xét xử
mới.
Tháng 8/2002, ở huyện
M'Drak, tỉnh Đak Lak, cảnh sát đă đối
đầu với 120 dân làng đang cố gắng ngăn
chặn việc bắt giữ một linh mục
đạo Tin lành là người dân tộc thiểu số
tên là Y Su Nie và hai người con trai lớn của ông ta.
Sau một lúc đôi co hỗn loạn, cảnh sát đă
bắt tất cả 120 người. Phần lớn
những người bị bắt đều
được tha sau vài ngày nhưng có từ 20 đến
30 dân làng không thấy trở về nhà. Cảnh sát không công
nhận đă bắt giữ họ. Tháng 10/2002, cảnh sát
cho biết rằng họ đă bắt giữ Y Su Nie và
một người khác.
Cũng vào tháng 8/2002,
ở Đak Lak, cảnh sát bắt giữ 240 người
trong một cuộc họp tại một nhà thờ
tại gia. Phần lớn những người bị
bắt giữ đều được tha trong vài ngày
nhưng 47 người không thấy trở về nhà.
Cảnh sát không thừa nhận là đă bắt giữ
họ.
c. Tra tấn và các hành
động đối xử hoặc trừng phạt
độc ác, vô nhân tính hoặc hạ nhục
Luật pháp nghiêm cấm
lạm dụng thể xác; tuy nhiên cảnh sát đôi khi
vẫn đánh đập người bị t́nh nghi trong
quá tŕnh bắt giữ hoặc trong khi họ bị giam
giữ. Có tin cảnh sát đă đánh chết ít nhất hai
can phạm bị giam giữ trong năm 2002 (xem Phần
1.a).
Không có thông tin ǵ về
những biện pháp nào đă được áp dụng
đối với hai giám thị được cho là đă
đánh trọng thượng một phạm nhân tại
một nhà tù ở tỉnh Hải Dương vào tháng 8/2002.
Có dư luận nói là
điều kiện giam giữ tù nhân thường là
rất hà khắc, nhưng nói chung không đe dọa
đến tính mạng của họ. Trong năm qua,
cũng như trong năm 2002, các nhà ngoại giao
được chọn lọc làm quan sát viên đă
đến thăm ít nhất 2 nhà tù và thấy các
điều kiện ở đó thật khắc khổ
nhưng nh́n chung chấp nhận được.
Đàn ông và đàn bà
được giam riêng trong nhà tù. Những tội nhân ít
tuổi được cách ly với những người
trưởng thành. Quá chật chội v́ đông
người, không đủ ăn và điều kiện
vệ sinh tồi tệ vẫn là những vấn
đề nghiêm trọng ở nhiều nhà tù.
Có dư luận cho
rằng các tù nhân, kể cả những người bị
giam v́ các lư do chính trị, bị điều chuyển
một cách độc đoán đến các khu biệt giam
đồng thời bị tước bỏ quyền
được đọc và viết các tài liệu tới
vài tháng. Không như các năm trước, không có tin ǵ nói
rằng một số phạm nhân đă bị biệt giam
trong năm qua.
Những can phạm
chờ xét xử thường được giam riêng
rẽ với các phạm nhân đă bị kết án và không
có quyền được thân nhân đến thăm. Các quan
chức lănh sự được phép gặp các can phạm
là công dân nước họ nhưng thường phải
sau một khoảng thời gian chờ từ 4 đến
8 tuần. Không như các năm trước, không có tin ǵ nói
rằng điều kiện giam giữ đối với
những can phạm chờ xét xử th́ khắc nghiệt
hơn so với những người đă bị kết
tội hoặc kết án, tuy nhiên, can phạm chờ xét
xử đôi khi không được tiếp xúc với
luật sư hoặc người nhà. Phần lớn tù
nhân đều được chăm sóc y tế cơ
bản. Một số tù nhân chính trị và tù nhân khác không
được quyền gặp thân nhân. Các tù nhân nói chung
phải làm việc nhưng không nhận được
tiền công (xem Phần 6.c). Các tù nhân bị kết án lao
động khổ sai phàn nàn rằng họ không
được ăn uống và chăm sóc y tế
đầy đủ để giữ sức khỏe,
đặc biệt là ở những khu vực ở vùng sâu
đầy bệnh tật. Mặc dù các tù nhân chính trị
và tôn giáo thường bị giam giữ trong điều
kiện khắc nghiệt và hạn chế về chăm
sóc y tế ở các nhà tù trong vùng sâu như trại Z30a
tại Xuân Lộc, một khu vực bị cách ly ở
tỉnh Đồng Nai, không có bằng chứng cho thấy
điều kiện ở đây khác với những nhà tù
có các tù nhân b́nh thường.
Trong năm qua, cũng
như trong năm 2002, Chính phủ đă cho phép các nhà
ngoại giao được chọn lọc làm quan sát viên
đă đến thăm các nhà tù, tuy nhiên, Chính phủ đă
không cho phép Uỷ ban Chữ thập Đỏ Quốc
tế đến thăm các tù nhân.
d. Bắt giữ, giam
cầm hoặc buộc lưu vong một cách tùy tiện
Pháp luật nghiêm cấm
việc bắt bớ và giam giữ độc đoán, tuy
nhiên, Chính phủ tiếp tục bắt giữ và giam
cầm công dân một cách tùy tiện. Một vài
người đă bị bắt giữ và giam cầm v́
đă thể hiện quan điểm chính trị và tôn giáo
của họ một cách ḥa b́nh. Ngoài ra, đă có tin là
một vài người bị bắt hoặc giam cầm
trong năm 2002 đă không trở về nhà (xem Phần 1.b).
Bộ luật Tố tụng H́nh sự quy định
nhiều quyền đối với những người
bị giam cầm, trong đó có quyền của
người bị buộc tội được mời
luật sư có mặt trong thời gian bị hỏi cung;
tuy nhiên, trên thực tế đôi khi Chính phủ phớt
lờ những quyền tự bảo vệ hợp pháp
này. Hơn thế nữa, một văn bản đă
tồn tại nhiều năm nay hướng dẫn
về biện pháp quản chế hành chính cho phép nhân viên an
ninh có quyền lực rộng răi có thể bắt các cá nhân
phải chịu quản thúc tại gia, nếu họ tin
rằng người bị t́nh nghi là mối đe dọa
đối với "an ninh quốc gia" hoặc
thậm chí v́ các lư do ít nghiêm trọng hơn, mà không cần
xét xử.
Bộ luật H́nh sự
quy định thời hạn mười hai tháng cho
việc giam giữ để điều tra, tuy nhiên,
đôi khi Chính phủ giam giữ người hơn 1
năm theo quy chế này. Không có quy định về
thời hạn đối với việc hội
đồng xét xử (một cơ chế bao gồm ít
nhất một thẩm phán quan ṭa và 2 hội thẩm viên)
ra phán quyết về một vụ án (xem Phần 1.e), tuy
nhiên, có quy định rằng trong ṿng 3 tháng phải xét
xử, bác bỏ, hoặc trả lại hồ sơ
vụ án để điều tra lại một khi
thời gian điều tra mười hai tháng kết thúc.
Trước khi bị chính thức buộc tội, một
người bị giam giữ có quyền thông báo cho gia
đ́nh về t́nh trạng của ḿnh, và trong hầu
hết các trường hợp, cảnh sát thông báo cho gia
đ́nh về nơi người đó bị giam giữ.
Người bị giam giữ có thể liên lạc với
luật sư trước khi bị buộc tội,
nếu được thủ trưởng cơ quan
điều tra cho phép. Sau khi chính thức bị buộc
tội, người bị giam giữ có quyền liên
lạc với luật sư, tuy nhiên không rơ là quyền này
có được tôn trọng trong thực tế hay không.
Viện Kiểm sát Nhân dân
Tối cao (cơ quan có trách nhiệm điều tra các
vụ án và đưa ra truy tố) tống đạt các
lệnh bắt giữ, nói chung là theo yêu cầu của
cơ quan công an, tuy nhiên, cảnh sát có thể bắt
người mà không cần lệnh, căn cứ vào
khiếu kiện của một bên về vụ phạm
tội. Trong những trường hợp đó, Viện
Kiểm sát phải tống đạt lệnh bắt
giữ có hiệu lực trở về trước.
Trừ khi được kiểm sát viên điều tra
ủy quyền cụ thể, cơ quan công an thường
cấm người bị giam giữ không được
tiếp xúc với luật sư của ḿnh trong thời
gian viện kiểm sát đang điều tra vụ án, có
thể kéo dài đến một năm và có thể không
đưa ra lời buộc tội chính thức nào.
Tương tự, các thân nhân có thể thăm người
bị giam giữ chỉ khi được nhân viên
điều tra cho phép. Thời gian giam giữ trước
khi xét xử được tính cho đến khi bị
kết tội và tuyên án.
Ṭa án có thể buộc
nhiều người phải chịu quản chế hành
chính với mức tới năm năm sau khi hết
hạn tù giam. Những quy định này được thi
hành không thống nhất. Các quan chức Chính phủ sử
dụng biện pháp quản chế hành chính đối
với những người bị quản thúc tại gia
với mức tới hai năm mà không cần xét xử (xem
Phần 2.d). Ví dụ, ít nhất 3 nhà sư của UBCV
đă bị kết án hai năm quản thúc tại gia vào
tháng 10 và cho đến cuối năm 2003 vẫn bị
quản thúc tại gia.
Những người
bị bắt v́ bày tỏ quan điểm một cách ḥa b́nh
bị buộc tội theo một số điều
luật của Bộ luật H́nh sự, luật này đặt
ngoài ṿng pháp luật những hành vi chống lại Nhà
nước. Ngày 17/3, cảnh sát bắt giam nhà hoạt
động dân chủ Nguyễn Đan Quế v́ đă cung
cấp các thông tin chỉ trích đất nước cho các
nhà báo nước ngoài (xem Phần 2.a). Ngày 18/6, một ṭa án
Hà Nội đă kết án Tiến sỹ Phạm Hồng
Sơn 13 năm tù và 3 năm quản thúc tại gia (xem
Phần 2.a). Bản án của ông đă được
giảm xuống năm năm tù giam tại phiên phúc
thẩm. Ngày 31/12, Nguyễn Vũ B́nh, một nhà báo bị
bắt giam hồi tháng 9/2002, bị một ṭa án ở Hà
Nội kết tội là gián điệp sau khi ông chỉ
trích hiệp định biên giới mà Việt Nam kư với
Trung Quốc và gửi bản điều trần về các
vấn đề nhân quyên ở Việt Nam đến
một chính phủ nước ngoài. B́nh bị kết án 7
năm tù giam và 3 năm quản thúc tại gia. Các nhà
ngoại giao và các phóng viên nước ngoài đă không
được phép đến dự cả hai phiên ṭa nói trên.
Cảnh sát đă thu gom
trẻ lang thang ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
và tạm giữ các em ở các trại trẻ em
trước khi diễn ra Đại hội Thể thao Đông
Nam Á vào tháng 12.
Trong năm 2002, nhà
hoạt động Nguyễn Khắc Toàn đă bị
kết án mười hai năm tù giam v́ đă phát tán các bài
viết chỉ trích Chính phủ trên Internet.
Tháng 12/2002, cảnh sát
bắt giam nhà hoạt động dân chủ Phạm
Quế Dương và Trần Văn Khuê (xem Phần 2.a),
đến cuối năm họ vẫn chưa được
xét xử. Ngoài ra, 19 lănh tụ Tin lành người Hmong, trong
đó có Mua A Ho, Cu Van Long và Sua Song Vu, có thể vẫn c̣n
bị giam giữ. Không rơ liệu một vài người
được cho là đă bị giam giữ từ các
năm trước bao gồm Vơ Tấn Sáu, Phan Thị Tiêm
và Trần Thị Duyên, Lê Hữu Ḥa, Mă Văn Chính và Lu Seo
Dieu đă được xét xử hay chưa.
Hiến pháp không quy
định việc cưỡng bức lưu vong, và Chính
phủ đă không sử dụng biện pháp này.
e. Không
được xét xử công khai b́nh đẳng
Hiến pháp quy
định vai tṛ độc lập của thẩm phán và
hội thẩm viên; tuy nhiên, trong thực tế th́
Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt
chẽ ṭa án ở các cấp, lựa chọn thẩm phán
với tiêu chuẩn tối thiểu là phải có phẩm
chất chính trị. Các biện pháp tự bảo vệ một
cách hợp hiến c̣n thiếu trầm trọng.
Đảng Cộng sản Việt Nam có ảnh
hưởng lớn đến các vụ án điểm và
những vụ án có nội dung chống đối hoặc
gây thiệt hại cho Đảng Cộng sản Việt
Nam hoặc Nhà nước. Trong năm qua, Đảng
Cộng sản Việt Nam và các quan chức chính phủ
đă có xu hướng gây ảnh hưởng đến
quyết định của ṭa án bằng cách nói thẳng ư
muốn của họ với các hội thẩm viên và
thẩm phán xét xử vụ án. Quốc hội bỏ
phiếu cho những ứng cử viên do Chủ tịch
nước giới thiệu để bầu Chánh án Ṭa án
Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm
sát Nhân dân Tối cao. Quốc hội cũng quản lư ngân
sách của ngành tư pháp bao gồm tiền lương
của thẩm phán giống như quản lư ngân sách và
tiền lương của toàn bộ các cơ quan trong Chính
phủ. Chính quyền cấp tỉnh và huyện cấp phát
tiền lương của thẩm phán theo từng cấp
giống như với các công chức khác. Chủ tịch
nước chỉ định tất cả các thẩm
phán khác trừ Chánh án Ṭa án Nhân dân Tối cao. Quyền này
được qui định trong Hiến pháp. Tháng 9/2002,
Chính phủ chuyển giao các ṭa án địa phương
từ Bộ Tư pháp cho Ṭa án Nhân dân Tối cao (TANDTC)
quản lư trong một nỗ lực nhằm tăng
cường sự độc lập của ngành tư
pháp. Không có bằng chứng nào cho thấy sự thay
đổi này có bất cứ tác động nào đến
sự độc lập của các ṭa án.
Cơ chế bổ
nhiệm thẩm phán và hội thẩm viên c̣n phản ánh
sự thiếu độc lập trong ngành tư pháp.
Hội đồng Xét xử Ṭa Sơ thẩm ở cấp
huyện và tỉnh bao gồm các thẩm phán và hội
thẩm viên, nhưng ṭa phúc thẩm cấp tỉnh và TANDTC
th́ chỉ bao gồm các thẩm phán. Hội đồng Nhân
dân chỉ định hội thẩm viên cấp huyện
và cấp tỉnh. Hội thẩm viên phải có
"phẩm chất đạo đức cao" c̣n không
cần phải được đào tạo sâu về pháp
lư. Hội đồng Nhân dân huyện và tỉnh chỉ
định hội thẩm viên cấp dưới. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam phải phê chuẩn các
ứng cử viên vào vị trí hội thẩm viên TANDTC.
Chủ tịch TANDTC chỉ định Chánh án Ṭa án Nhân dân
tỉnh và huyện với nhiệm kỳ năm năm.
Chủ tịch TANDTC c̣n chỉ định các thẩm phán
TANDTC trong số các ứng cử viên do một hội
đồng tuyển chọn tư pháp phê chuẩn
dưới sự chỉ đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Ảnh hưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
ṭa án c̣n tăng lên v́ Hội đồng Nhân dân chỉ
định hội thẩm viên và v́ thẩm phán có nhiệm
kỳ hạn chế và phải chịu sự theo dơi
kiểm tra.
Hệ thống tư pháp
bao gồm TANDTC, Ṭa án Nhân dân cấp huyện và tỉnh, ṭa
án quân sự, ṭa án hành chính, kinh tế và lao động, và
các ṭa án khác theo luật định. Mỗi quận
huyện trong cả nước đều có một ṭa án
nhân dân làm nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ
án dân sự và h́nh sự. Mỗi tỉnh có một Ṭa án Nhân
dân cấp tỉnh làm nhiệm vụ xử phúc thẩm các
vụ án do ṭa án huyện tŕnh lên cũng như xử sơ
thẩm các vụ án khác. TANDTC là ṭa án cấp cao nhất xét
xử giám đốc thẩm và tái thẩm. TANDTC chịu
trách nhiệm trước Quốc hội. Ṭa án hành chính
giải quyết các khiếu kiện của công dân về
việc lạm dụng hoặc tham nhũng của các quan
chức.
Ṭa án quân sự có cùng
nguyên tắc hoạt động như các ṭa án khác nhưng
do Bộ Quốc pḥng cấp ngân sách hoạt động.
Các thẩm phán và hội thẩm là người của quân
đội do TANDTC và Bộ Quốc pḥng cùng chọn lựa
nhưng do TANDTC giám sát hoạt động. Bộ Quốc
pḥng cử đại diện tham gia hội đồng
tuyển chọn tư pháp và chánh án ṭa án quân sự trung
ương là Phó Chánh án Ṭa án Nhân dân Tối cao. Một
luật của năm 2002 quy định các ṭa án quân sự
có thẩm quyền xét xử các vụ án h́nh sự liên quan
đến các pháp nhân của quân đội bao gồm
cả các doanh nghiệp quân đội. Quân đội có
quyền chọn sử dụng ṭa hành chính, kinh tế
hoặc lao động để xử các vụ án dân
sự.
Bản thân Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam không có tư cách giải
quyết các vấn đề pháp lư. Ngoài ra, Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chính phủ c̣n thành lập các
ủy ban đặc biệt để giúp giải
quyết các tranh chấp ở địa phương.
Viện Kiểm sát Nhân dân
Tối cao truy tố tội danh của người bị
buộc tội và cử công tố viên tham gia phiên ṭa.
Một hội đồng xét xử, bao gồm một
thẩm phán và một hoặc nhiều hội thẩm viên,
sẽ xác định việc bị cáo vô tội hay có
tội và thông qua bản án. Mặc dù Hiến pháp khẳng
định rằng các công dân được coi là vô
tội cho đến khi bị chứng minh là phạm
tội, nhưng một chuyên gia pháp lư nước ngoài
đă phân tích hệ thống ṭa án trong năm 2000 và thấy
rằng hơn 95% những người bị buộc
tội đều bị kết tội. Một số luật
sư phàn nàn rằng các thẩm phán nói chung đều có
thiên kiến theo hướng có tội.
Các luật sư và
thẩm phán được đào tạo c̣n thiếu và
không có hội luật sư độc lập. Ở
cấp Ṭa án Tối cao, năm 2002 c̣n thiếu 20% thẩm
phán đủ năng lực. Theo một quan chức Liên Hợp
Quốc, số thẩm phán ở ṭa án cấp tỉnh
cần tăng thêm 30% đến 40%. Tiền lương
thấp đă cản trở sự phát triển nghề
nghiệp của thẩm phán được đào tạo.
Một số ít thẩm phán đă qua đào tạo pháp lư
chính qui th́ lại thường học ở các nước
có hệ thống pháp lư xă hội chủ nghĩa. Các
thẩm phán trẻ được đào tạo lại ít
có ảnh hưởng trong hệ thống tư pháp này.
Chính phủ đă thực
hiện các chương tŕnh đào tạo để
giải quyết vấn đề thiếu thẩm phán và
các quan chức ṭa án khác. Một số chính phủ nước
ngoài và Chương tŕnh Phát triển của Liên Hợp
Quốc (UNDP) đă hỗ trợ để tăng
cường xây dựng pháp quyền và một hệ
thống tư pháp hiệu quả hơn, tuy nhiên, việc
thiếu cởi mở trong qui tŕnh xét xử h́nh sự và
hệ thống tư pháp tiếp tục thiếu tính
độc lập đă làm giảm hiệu quả của
những nỗ lực này.
Mặc dù Hiến pháp qui
định quyền tư vấn pháp luật cho những
người bị buộc tội h́nh sự, việc
thiếu luật sư làm cho qui định này không thể
thực thi. Với t́nh h́nh chỉ có một vài luật
sư đáp ứng tiêu chuẩn, công tố viên
thường làm cả hai nhiệm vụ truy tố và bào
chữa, dẫn đến việc tư vấn pháp lư
thường không giúp ích nhiều cho bị cáo. Nhất quán
với hệ thống chính trị theo chủ nghĩa
Mác-Lênin, Chính phủ yêu cầu Đoàn Luật sư
phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Ở cấp tỉnh, Đoàn Luật sư
phụ thuộc vào các đại diện của Chính
phủ trung ương, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Hội đồng Nhân dân tỉnh và Ủy ban
Nhân dân tỉnh.
Các phiên ṭa xét xử nói
chung được tổ chức công khai; tuy nhiên, cơ
quan ṭa án đôi khi xử kín hoặc hạn chế
người tham gia trong những vụ án nhạy cảm.
Bị cáo có quyền xuất hiện trong phiên ṭa xét xử
và có luật sư bào chữa. Bị cáo hoặc luật
sư bào chữa có quyền kiểm tra chéo với nhân
chứng, tuy nhiên, có những báo cáo tin cậy cho biết
bị cáo không được phép biết bằng chứng
của Chính phủ trước khi xét xử, kiểm tra
chéo với nhân chứng hoặc phản đối các
lời khai. Các luật sư cho biết họ
thường có ít thời gian trước khi xét xử
để kiểm tra bằng chứng sẽ
được đưa ra buộc tội thân chủ
của họ. Những người bị kết tội
có quyền kháng án. Ṭa án không công bố nội dung các phiên
ṭa.
Chính phủ tiếp
tục bỏ tù những người bày tỏ một cách
ḥa b́nh những quan điểm tôn giáo và chính trị có tính
đối lập. Không thể ước tính số
lượng chính trị phạm v́ Chính phủ
thường không công khai những vụ bắt bớ, bác
bỏ khái niệm tù nhân chính trị và tôn giáo, và đôi khi
tiến hành xử và tuyên án kín. Được biết có 14
tù nhân bị giam giữ v́ các lư do chính trị và 21 tù nhân
bị giam giữ v́ các lư do tôn giáo. Các nguồn khác
ước tính con số đó có thể c̣n cao hơn. Trong
số những người bị cho là đang bị
tạm giam hoặc đang ở trong tù có bác sĩ
Nguyễn Đan Quế, đại tá Phạm Quế
Dương, Trần Văn Khuê, Trần Dũng Tiến,
Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh, Nguyễn
Đ́nh Huy (có tin ông này đang bị bệnh Parkinson), Lê Chí
Quang, Nguyễn Khắc Toàn, nhà báo Phạm Thái, và những
người hoạt động tôn giáo như cha Nguyễn
Văn Lư, Ngô Văn Thông, Phạm Minh Trí, Lê Minh Triết,
Nguyễn Châu Lang, Trương Văn Đức, Bùi Văn
Huệ, Đinh Trỗi, Phạm Văn Tường, Hồ
Văn Trọng, Ha Hai, Thích Thiện Minh, Nguyễn Thiện
Phụng, Nguyễn Văn Lia, Lư A Hu và Lư A Cho.
Chính phủ đă ân xá cho
ít nhất 750 tù nhân trong năm qua, nhưng được
biết là không có tù nhân chính trị hay tôn giáo nào trong số
đó, tuy nhiên Chính phủ đă giảm án cho ít nhất là 4
tù nhân chính trị trong năm qua.
Chính phủ cho rằng
họ không giam giữ bất kỳ tù nhân chính trị hay
tôn giáo nào và những người được cho là tù
nhân chính trị đă bị kết tội vi phạm luật
an ninh quốc gia hoặc các luật h́nh sự chung khác.
Tháng 2, trước Tết Âm lịch, chính quyền
địa phương đă trả tự do hoặc
giảm án cho 246 tù nhân ở các nhà tù Chí Ḥa và Bo La của
Thành phố Hồ Chí Minh v́ đă cải tạo tốt.
Nhân ngày Quốc khánh 2/9, chính quyền địa
phương đă ân xá thêm 544 tù nhân ở Hà Nội, Hải
Pḥng, và Thành phố Hồ Chí Minh, trả tự do cho 120
người trước thời hạn và giảm án cho
số c̣n lại từ hai tháng đến hai mươi
tháng. Bộ Ngoại giao cho biết không ai trong số
những người được ân xá nằm trong danh
sách những người được quan tâm của các
chính phủ nước ngoài và các tổ chức phi chính
phủ (NGO).
Chính phủ không cho phép các
tổ chức nhân đạo tiếp xúc với tù nhân chính
trị.
f. Can thiệp tùy
tiện vào sinh hoạt riêng tư, gia đ́nh, chỗ ở
hoặc thư tín
Hiến pháp qui
định quyền riêng tư về chỗ ở và
thư từ; tuy nhiên, Chính phủ rất hạn chế
quyền này. Đăng kư hộ khẩu và hệ thống
dân pḥng theo cụm dân cư h́nh thành nhằm theo dơi mọi
công dân nhưng mức độ và cường độ
lại giảm hơn so với trước đây và thường
không gây ảnh hưởng đến phần lớn
người dân. Chính quyền nói chung tập trung vào
những đối tượng bị coi là có quan
điểm chỉ trích Chính phủ hoặc những
người bị nghi ngờ là dính líu đến các
hoạt động chính trị hoặc tôn giáo bị
cấm. Công dân được yêu cầu đăng kư
với cảnh sát khi họ rời nơi cư trú, ở
qua đêm tại một địa điểm khác,
hoặc khi họ thay đổi nơi ở mặc dù
việc này thường bị vi phạm, tuy nhiên, Chính
phủ dường như đă tăng cường
thực thi những yêu cầu này ở một số
huyện ở Tây Nguyên và các tỉnh tây bắc. Ngày 18/8,
cảnh sát đă áp dụng quy định này để
đi vào một nhà thờ Tin lành tại gia bất hợp
pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến
một vụ căi lộn và kết quả là 2 người
đứng đầu nhà thờ bị giam giữ trong
một thời gian ngắn. Phần lớn người dân
muốn đi lại trong nước để t́m việc
làm hoặc đi thăm gia đ́nh và bạn bè đều
có thể làm mà không bị theo dơi, và phần lớn các gia
đ́nh v́ muốn t́m việc làm mà phải rời
đến những nơi khác đều không cần xin
phép chính phủ (xem Phần 2.d). Vẫn c̣n có tin rằng
những gia đ́nh "di cư tự phát" không thể
đăng kư hộ khẩu hoặc lấy giấy phép
cư trú ở những nơi ở mới, gặp
nhiều vấn đề pháp lư và hành chính. Ở khu
vực đô thị, phần lớn người dân
vẫn tự do tiếp xúc và làm việc với
người nước ngoài. Về lư thuyết, Chính
phủ yêu cầu những công dân làm việc cho các tổ
chức nước ngoài phải được thẩm tra
và tuyển dụng thông qua một công ty dịch vụ
của nhà nước. Luật điều chỉnh các doanh
nghiệp nước ngoài th́ rộng răi hơn. Trên thực
tế, nhiều tổ chức nước ngoài, kể
cả các phái đoàn ngoại giao, và doanh nghiệp
nước ngoài tự thuê người cho họ và
"đăng kư" những người này với công
ty dịch vụ giới thiệu việc làm.
Về lư thuyết,
việc dùng vũ lực để đột nhập vào
nhà riêng là không được phép nếu không có lệnh
của Viện Kiểm sát, tuy nhiên, trên thực tế, lực
lượng an ninh hiếm khi tuân thủ yêu cầu này mà
thường "yêu cầu" cho phép họ vào nhà với
ngầm ư đe dọa là cần phải hợp tác. Trong
một số trường hợp, người dân đă
từ chối hợp tác trước những "yêu
cầu" như vậy. Ở khu vực đô thị, lực
lượng an ninh nói chung thường bỏ đi khi không
nhận được sự hợp tác. Trong một
trường hợp xảy ra đầu tháng 10, các sỹ
quan an ninh đi vào một ngôi nhà ở tỉnh Gia Lai mà không
được phép, tại đó, một nhà ngoại giao
nước ngoài đang tiến hành phỏng vấn lănh
sự. Các sỹ quan an ninh đă quấy rối những
người sống trong ngôi nhà và sau đó ngăn không cho
quan chức lănh sự nêu trên vào các ngôi nhà ở tỉnh
Đắc Lắc.
Chính phủ đă mở
và kiểm duyệt thư từ của các đối
tượng mục tiêu, tịch thu bưu kiện và thư
từ, và theo dơi các cuộc nói chuyện điện
thoại và thông tin truyền qua fax. Chính phủ cắt
đường dây điện thoại của một
số đối tượng nhất định và liên
tục làm ngắt dịch vụ điện thoại di
động của họ. Việc làm này xem ra lẻ tẻ
và không áp dụng thống nhất. Chính phủ theo dơi
thư điện tử, t́m mật khẩu nhạy
cảm và quản lư nội dung Internet (xem Phần 2.a).
Chính phủ không ép
buộc tái định cư; tuy nhiên, nguồn tin đáng
tin cậy cho biết Chính phủ buộc những tín
đồ Tin lành người dân tộc thiểu số
ở các tỉnh tây bắc và Tây Nguyên phải rời
khỏi nơi ở mà không chuẩn bị nơi ở
mới cho họ. Chính phủ c̣n tái định cư cho
một số người để chuẩn bị xây
dựng các công tŕnh hạ tầng cơ sở. Theo
luật, công dân được bồi thường trong
những trường hợp tương tự nhưng
khiếu nại xảy ra ở khắp nơi, kể cả
từ chính Quốc hội, cho rằng việc bồi
thường không thỏa đáng hoặc bị chậm.
Chính phủ đă thừa nhận đă có các vấn
đề trong các chương tŕnh tái định cư
trước đây.
Chính phủ thực
hiện tổng động viên toàn diện đối
với nam giới. Có trường hợp được
miễn do không đủ sức khỏe, và sinh viên nói chung
được hoăn cũng giống như những
trường hợp đặc biệt khác. Những
người được hoăn rất hiếm khi bị
gọi đi làm nghĩa vụ quân sự. Không biết có
sự khác nhau về tỷ lệ động viên giữa
các dân tộc thiểu số hay không.
Tư cách hội viên
của công dân trong các tổ chức quần chúng vẫn
mang tính tự nguyện nhưng thường quan trọng
đối với sự phát triển nghề nghiệp.
Tư cách Đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam vẫn là một sự hỗ trợ
đối với sự thăng tiến trong các cơ quan
của Chính phủ và doanh nghiệp nhà nước và có tính
chất quyết định đối với việc
đề bạt lên các vị trí cao hơn trong Chính
phủ. Đồng thời, sự đa dạng hóa thành phần
kinh tế khiến cho việc là Đảng viên trong các
tổ chức quần chúng do Đảng lănh đạo và
trong Đảng Cộng sản Việt Nam giảm bớt
ư nghĩa về vấn đề thu nhập và phúc lợi
xă hội. Các đảng phái chính trị đối lập
không được phép hoạt động.
Chính phủ tiếp
tục thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia
đ́nh, khuyến khích các gia đ́nh có không quá hai con; chính
sách này nhấn mạnh yếu tố cổ vũ chứ
không ép buộc. Về nguyên tắc, Chính phủ có thể
xét không đề bạt hoặc nâng lương cho
những công chức có nhiều hơn hai con. Các quy định
sửa đổi bổ sung về kế hoạch hóa gia
đ́nh được thông qua trong năm không cho phép
phạt; các quan chức khẳng định các h́nh thức
phạt chưa bao giờ là một phần chính thức
của chính sách kế hoạch hóa gia đ́nh.
Năm 2001, thân nhân của
một số người có quan điểm chính trị
khác với Chính phủ đă mất việc làm tại các
doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên, phần lớn,
nếu không muốn nói là tất cả, đều t́m được
công việc tương đương hoặc tốt
hơn tại các công ty tư nhân. Không có thông tin ǵ về
những trường hợp tương tự có xảy
ra trong năm 2002 hoặc 2003 hay không.
Chính phủ can thiệp
vào việc phân phối các sách báo nước ngoài và tiếp
cận truyền h́nh qua vệ tinh (xem Phần 2.a).
PHẦN 2: TÔN
TRỌNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN SỰ, GỒM:
a. Quyền tự do
ngôn luận và báo chí
Hiến pháp quy
định quyền tự do ngôn luận và quyền tự
do báo chí; tuy nhiên, Chính phủ hạn chế đáng kể
những quyền tự do này trên thực tế, nhất là
đối với quyền tự do ngôn luận về chính
trị và tôn giáo. Chính phủ áp dụng nhiều
điều khoản về an ninh quốc gia và chống xuyên
tạc quy định trong Hiến pháp và Bộ luật H́nh
sự để ngăn chặn mạnh mẽ các quyền
tự do đó. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính
phủ, và các tổ chức xă hội nằm dưới
sự kiểm soát của Đảng kiểm soát tất
cả các cơ quan báo chí, cả báo in lẫn báo
điện tử. Chính phủ giám sát thông qua Bộ Văn
hóa và Thông tin, bổ sung cho sự giám sát này là định
hướng của Đảng và luật về an ninh
quốc gia có nội dung đủ rộng để
bảo đảm rằng các cơ quan báo chí trong
nước tự kiểm duyệt chính họ. Trong năm
qua, tổ chức NGO quốc tế Nhà báo Không Biên giới
khẳng định Việt Nam là một trong 10
nước đàn áp tự do báo chí nhất thế
giới.
Luật báo chí quy
định nhà báo phải bồi thường bằng
tiền cho những cá nhân hay tổ chức bị tổn
hại do các bài báo của họ, dù những bài đó có đúng
sự thật đi nữa. Các nhà quan sát lưu ư rằng
luật này hạn chế phạm vi phóng sự điều
tra. Một số báo đài tiếp tục thử mức
hạn chế báo chí của chính phủ bằng cách in các
bài báo phê phán các hành động của các quan chức
Đảng và Chính phủ; tuy nhiên, quyền tự do phê phán
Đảng Cộng sản Việt Nam và giới lănh
đạo cao cấp vẫn bị cấm. Tuy nhiên trong
năm qua, có một số bài báo về những chủ
đề thường được coi là nhạy
cảm như vụ truy tố các quan chức cấp cao
của Đảng trong phiên ṭa xử trùm tội phạm
Năm Cam. Chính phủ yêu cầu các quan chức phải xin
phép bộ chủ quản trước khi cung cấp thông
tin cho phóng viên nước ngoài. Các nhà báo phải
được sự đồng ư của ban biên tập
trước khi cung cấp thông tin.
Đảng và Chính phủ
chấp nhận việc thảo luận công khai một
số chủ đề và phần nào đó cho phép có
nhiều lời chỉ trích hơn trước. Luật này
cho phép công dân góp ư công khai hơn về một chính phủ
yếu kém, thủ tục hành chính, tham nhũng và chính sách
kinh tế. Các nhà lănh đạo cấp cao của Chính
phủ và Đảng đă đi thăm một vài tỉnh
cố gắng giải quyết những lời than
phiền của nhân dân. Tuy nhiên, vào ngày 29/1, Ṭa án Nhân dân Hà
Nội đă kết án tù bốn người từ 24
đến 42 tháng tù sau khi họ phổ biến khắp 61
tỉnh và Quốc hội các lá thư tố cáo chính sách
giải phóng mặt bằng địa phương. Ngày
22/8, ṭa án tỉnh Đồng Nai đă kết án 4
người từ 30 đến 42 tháng tù v́ xúi giục nông
dân khiếu nại chính sách đất đai của
tỉnh.
Chính phủ tiếp
tục cấm tự do ngôn luận thẩm vấn vai tṛ
của Đảng, chỉ trích các cá nhân lănh đạo của
chính phủ, thúc đẩy chủ nghĩa đa nguyên và dân
chủ đa đảng, hoặc chất vấn các chính
sách của chế độ về các vấn đề
nhạy cảm như nhân quyền hay hiệp ước
biên giới với Trung Quốc. Ranh giới vẫn c̣n
tuỳ tiện giữa cái gọi là phát biểu kín về
vấn đề nhạy cảm mà chính quyền sẽ
chấp nhận và phát biểu công khai trong những lĩnh
vực mà họ không cho phép. Ngày 17 tháng 3, cảnh sát đă
bắt giam nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Dân
Quế về tội gián điệp v́ đă cung cấp
thông tin cho các phóng viên nước ngoài. Cuối năm, ông
vẫn bị giam ở Thành phố Hồ Chí Minh, và gia
đ́nh ông không được phép đến thăm. Ngày
18/6, Ṭa án Hà Nội đă kết án Bác sĩ Phạm
Hồng Sơn 13 năm tù và 3 năm quản thúc trong
một phiên ṭa kín về tội gián điệp sau khi ông
dịch một số bài báo tiếng Anh về dân chủ và
đưa lên mạng Internet. Ngày 26/8, phiên ṭa phúc thẩm
giảm án c̣n 5 năm. Năm 2002, cảnh sát thường
xuyên triệu tập thẩm vấn nhà hoạt động
dân chủ và là cựu nhà báo Nguyễn Vũ B́nh. Ông bị cảnh
sát theo dơi trong nhiều tuần trước khi bị
triệu tập thẩm vấn lại và bị giam năm
2002. Ngày 31/12, ông ra ṭa và bị kết tội “gián
điệp” và bị kết án 7 năm tù và 3 năm
quản thúc (Xem Phần 1.d). Năm 2001, nhà sinh học Hà
Sỹ Phu trước đó được xóa tội phản
quốc, bị tù treo v́ đă viết các bài báo kêu gọi
dân chủ. Án treo của ông kết thúc vào tháng 3.
Kể từ năm 2001,
một số nhà hoạt động dân chủ đă
bị cắt các đường dây điện thoại
liên lạc. Năm 2002, trước khi bị giam vào tháng
12/2002, Đại tá về hưu Phạm Quế Dương
đă được triệu hồi để thẩm
vấn trong nhiều ngày liên tiếp và điện thoại
di động của ông đă bị cắt ít nhất ba lần
trong năm đó. Tháng 12/2002, cảnh sát giam ông Dương
ở Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi ông đi thăm
nhà hoạt động Trần Văn Khuê. Một ngày sau,
cảnh sát đến nhà Khuê, bắt giam ông và tịch thu
máy tính và các đồ đạc khác. Khuê và Dương coi
ḿnh là người phát ngôn cho một số nhà hoạt
động khác. Cả Khuê và Dương đều bị
tạm giam vào cuối năm. Trước khi bị bắt
ngày 18/3, Nguyễn Dân Quế tiếp tục kêu gọi dân
chủ và tôn trọng nhân quyền, nhưng chính quyền can
thiệp khả năng liên lạc của ông bằng cách
liên tục cắt điện thoại di động
của ông, cắt điện thoại để bàn, và
hạn chế ông vào Internet và email trong hai năm. Cảnh
sát theo dơi ông chặt chẽ và thỉnh thoảng thẩm
vấn ông trước khi bị bắt vào tháng 3. Quế
đang bị tạm giam vào cuối năm.
Ngày 17/7, chính phủ
giảm 5 năm trong án tù 15 năm của Cha Thaddeus
Nguyễn Văn Lư năm 2001 v́ “phá hoại đoàn kết
dân tộc”. Năm 2001, Cha Lư đă gửi bản
tường tŕnh phê phán Chính phủ cho Uỷ ban Tự do
Tôn giáo Quốc tế và thường xuyên kêu gọi đa
nguyên chính trị và tự do tôn giáo hoàn toàn. Ngày 10/9, Ṭa án
Thành phố Hồ Chí Minh đă kết án cháu gái của Cha
Lư là Nguyễn Thị Hoa và hai cháu trai là Nguyễn Trúc
Cường và Nguyễn Vũ Việt mức án từ 3 đến
5 năm tù v́ cung cấp thông tin về các hoạt
động của ông cho phóng viên nước ngoài. Ngày 28/11,
Ṭa phúc thẩm Thành phố Hồ Chí Minh đă giảm
mức án của ba người này và nay đă
được thả. Chính phủ đă hạn chế
những người thuộc các nhóm tôn giáo không chính
thức phát biểu công khai về đức tin của
họ (Xem Phần 2.c).
Một số
người bày tỏ các quan điểm khác nhau đối
với các vấn đề về tôn giáo hoặc chính
trị không được phép đi ra nước ngoài (xem
Phần 2.d).
Các bản báo cáo về
t́nh h́nh tham nhũng và quản lư yếu kém của các quan
chức cấp cao của chính phủ đă được
xuất bản nhiều hơn trong những năm gần
đây. Các tờ báo địa phương dành nhiều bài
viết về phiên ṭa xét xử băng đảng tội
phạm có tổ chức Năm Cam có liên quan đến ba
quan chức cao cấp của chính phủ, hai trong số
đó đă từng là Ủy viên của Ủy ban Trung
ương Đảng Cộng sản trước khi bị
cách chức năm 2002. Chính phủ giám sát chặt chẽ
hơn những thông tin này khi nhận thấy rằng
vụ việc càng ngày càng có nhiều người
để ư và phát hiện quá nhiều điểm nhạy
cảm. Nhiều tờ báo đă phớt lờ những
chỉ thị của Chính phủ không tường
thuật lại vụ việc này, kết quả là họ
đă phải nhận những lời kiển trách mạnh
mẽ hơn của Chính phủ. Trong năm qua, tổng
biên tập tờ Tuổi trẻ đứng đầu
tờ báo trong thời gian đưa tin về phiên ṭa
Năm Cam, đă bị thuyên chuyển sang nhóm quản lư
địa ốc của tờ báo.
Năm 2002, Chính phủ
đă chỉ trích phóng viên về việc bị coi là
đưa tin giật gân về một vụ hoả
hoạn lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12/2002,
Bộ Văn hóa Thông tin đă thông báo quyết định
thu hồi thẻ phóng viên của bốn phóng viên. Ba
người là Trần Ngọc Tuấn của báo Tiền
Phong, Đặng Thanh Hải của báo Thanh Niên, và Nguyễn
Minh Sơn của báo Người Lao Động đă
đưa ra những thông tin mà theo Chính phủ là những
thông tin không đúng về việc cảnh sát Đà Nẵng
đánh người dân đến mức bị
thương rất nặng. Người thứ tư là
Bùi Ngọc Cái của báo Gia đ́nh và Xă hội, đă
tường thuật lại rằng một viên cảnh sát
trưởng đă tuyên bố rằng Chính phủ có
thể trừng phạt các quan chức của Chính phủ ở
cấp bộ v́ tham nhũng. Tất cả bốn nhà báo
đều phải trả thẻ nhà báo lại cho cơ
quan vào tháng 10.
Năm 2002, Chính phủ
bất ngờ cầm báo chí đến dự Hội
nghị Khoa học do nước ngoài tài trợ về Tác
động Môi trường và Sức khoẻ con
người của Chất độc màu da cam ở Hà
Nội. Chính phủ không cho phép các nhà báo nước ngoài
đến dự các phiên họp và cấm các nhà báo trong
nước dự phiên khai mạc và bế mạc. Cuối
năm, khoảng 1 năm rưỡi sau, các bài tham luận
hội nghị vẫn chưa được dịch hay
phổ biến.
Chính phủ thường
yêu cầu việc xuất bản tôn giáo phải qua một
nhà xuất bản tôn giáo của nhà nước; tuy nhiên,
một số nhóm tôn giáo có thể in tài liệu của
họ hoặc nhập tài liệu với sự cho phép
của Chính phủ (xem Phần 2.c).
Các tạp chí định
kỳ bằng tiếng nước ngoài có bán tràn lan ở
các thành phố, tuy nhiên Chính phủ thỉnh thoảng
mới kiểm duyệt các bài báo viết về t́nh h́nh
đất nước. Chính phủ đôi khi không cho phép bán
một tạp chí nước kỳ nước ngoài
một cách ngang nhiên v́ có những bài báo về những
vấn đề nhạy cảm. Nói chung, Chính phủ không
hạn chế việc tiếp cận các đài phát thanh
quốc tế, chỉ trừ Đài Tự do châu Á và Tập
đoàn Truyền thông Viễn Đông tiếp tục bị
làm nhiễu sóng.
Các nhà báo nước ngoài
phải được sự chấp thuận của Trung
tâm Báo chí của Bộ Ngoại giao và phải có trụ
sở ở Hà Nội. Số lượng nhân viên làm
việc trong cơ quan truyền thông nước ngoài bị
hạn chế, và hầu hết những nhân viên ở
nước sở tại làm việc cho cơ quan truyền
thông nước ngoài là do Bộ Ngoại giao cung cấp.
Trung tâm Báo chí giám sát hoạt động của các nhà báo và
quyết định trong từng trường hợp
cụ thể có chấp thuận cho họ phỏng
vấn, chụp ảnh, quay phim hay đề nghị
được đi lại hay không, tất cả
đề nghị này phải nộp trước đó
năm ngày. Trung tâm Báo chí đă từ chối một số
đề nghị được đi lại, đặc
biệt là lên Tây Nguyên, mặc dù có cho phép hai nhóm nhà báo lên Tây
Nguyên trong năm qua. Theo luật, các nhà báo nước ngoài
có thể gửi tất cả các câu hỏi của họ
lên các cơ quan của Chính phủ thông qua Bộ Ngoại
giao, tuy nhiên thực tế việc thực hiện lại
không hoàn toàn như vậy. Các nhà báo nước ngoài thường
nhận được thị thực sáu tháng. Một nhà
báo đă không thể gia hạn thêm thị thực trong
năm 2002 và hai nhà báo được gia hạn thị
thực ngắn hơn mức b́nh thường trong năm
2001. Trong năm qua không có tin về chuyện này.
Trong những năm qua,
Chính phủ kiểm duyệt chương tŕnh truyền h́nh
và thỉnh thoảng tạm dừng chiếu chương
tŕnh này trong một vài ngày. Trong năm 2002 và năm nay, không
ai biết việc này đă xảy ra, mặc dù các quy
định tiếp tục cho phép Chính phủ kiểm
duyệt chương tŕnh đó. Luật pháp hạn chế
việc tiếp cận truyền h́nh qua vệ tinh, chỉ
cho phép các quan chức cấp cao, người nước
ngoài, khách sạn sang trọng và báo chí được
tiếp cận. Tuy nhiên, Luật này đă không
được thực thi một cách đồng bộ, và
nhiều người ở vùng đô thị và một số
vùng nông thôn xem các chương tŕnh ti vi đă qua kiểm
định bằng thiết bị vệ tinh lắp
đặt tại nhà. Năm 2002, do các chảo vệ tinh
được lắp đặt để xem Cúp Bóng
đá Thế giới ngày càng nhiều, Chính phủ đă ban
hành một Nghị định mới nhằm thực thi
yêu cầu này chặt chẽ hơn, tuy nhiên, đến
cuối năm đó vẫn chưa thực hiện
được.
Chính phủ kiểm
duyệt các cuộc triển lăm nghệ thuật, âm
nhạc và các hoạt động văn hóa khác. Tuy nhiên,
Chính phủ cho phép nghệ sỹ có nhiều tự do
hơn trong việc lựa chọn chủ đề
để sáng tác so với những năm trước,
mặc dù nghệ sỹ không được phép triển
lăm các tác phẩm mà bên kiểm duyệt cho là phê phán hoặc
châm biếm Chính phủ hoặc Đảng. Nhiều nghệ
sỹ được phép triển lăm tác phẩm của
ḿnh ở nước ngoài, được phép gửi tác
phẩm của ḿnh đi dự triển lăm và
được phép gửi tác phẩm của ḿnh ra
nước ngoài.
Một số ấn
phẩm in bằng tiếng nước ngoài của một
vài cuốn sách bị cấm như cuốn “Kư ức Mùa
xuân Tinh khiết” của Dương Thu Hương
được những người bán dạo công khai,
bản tiếng Việt của cuốn “Nỗi buồn
chiến tranh”trước đây bị cấm của
Bảo Ninh được bày bán trong các cửa hàng sách. Có
một ngoại lệ đáng chú ư, báo chí khởi
động một chiến dịch tố cáo diễn viên
nổi tiếng Đơn Dương v́ vai diễn anh ta
đóng trong phim “Rồng xanh” và “Chúng ta là người lính”.
Báo chí mô tả người nghệ sỹ này là một
kẻ phản bội và kêu gọi bắt giữ và giam
cầm anh ta. Chính phủ cũng không cho phép diễn viên
Đơn Dương đi nước ngoài trong năm này
(Xem Phần 2.d); tuy nhiên, cuối cùng chính phủ cho phép anh
và gia đ́nh di cư sang Mỹ.
Chính phủ cho phép
tiếp cận với mạng Internet thông qua 6 nhà cung
cấp Truy cập Internet (IXP) và 13 Nhà Cung cấp Dịch
vụ Internet (ISP); tuy nhiên, tất cả IXP đều
của Nhà nước hoặc là các công ty cổ phần
với Nhà nước là cổ đông kiểm soát. Tất
cả IXP đều thuê truy cập Internet thông qua nhà cung
cấp truy cập lớn nhất nước là Công ty
Truyền thông Dữ liệu Việt Nam (VDC). Bộ Bưu
chính Viễn thông đă báo cáo rằng số thuê bao Internet
trong nước 650.000 thuê bao và khoảng 2.660.000
người sử dụng Internet. Giá của máy tính so
với mức thu nhập trong nước đă hạn
chế dùng mạng tại nhà. Tuy nhiên, các trường
đại học và khoảng 4.000 quán cà phê mạng làm
tăng số lượng sinh viên và nhiều người
khác truy cập mạng.
Chính phủ ủy
quyền cho VDC giám sát các trang Web mà thuê bao truy cập. Chính
phủ dùng các bức tường lửa nhằm khóa
những địa chỉ có vẻ không thích hợp về
chính trị và văn hóa, bao gồm các trang Web của các nhóm
lưu vong nước ngoài. Chính phủ hạn chế truy
cập các trang Web của Đài châu Á Tự do và Đài
Tiếng nói Hoa Kỳ trong năm qua. Năm 2002, Chính phủ
đă chỉ thị cho chủ các quán cà phê mạng giám sát
khách hàng của họ để hạn chế họ truy
cập địa chỉ có tài liệu chống chính
phủ và khiêu dâm; tuy nhiên, sự giám sát này có vẻ không
phổ biến lắm.
Tháng 8/2002, Chính phủ
đă kiểm tra rất nhiều quán cà phê Internet xem họ
có truy cập những trang Web bị cấm không. Cũng
trong tháng 8, Chính phủ đă đóng cửa một công ty
cung cấp thông tin trên mạng v́ công ty này đă có những
bài báo không được phép đăng theo Luật Báo chí.
Năm 2002, Chính phủ yêu cầu tất cả chủ
sở hữu các trang Web trong nước, kể cả
những trạng mạng do chủ thể nước ngoài
vận hành, đăng kư trang Web của họ với Chính
phủ và đệ tŕnh nội dung trang Web để Chính
phủ phê duyệt.
Chính phủ hạn
chế tự do học thuật, và các nhà nghiên cứu
nước ngoài thường bị thẩm tra và theo dơi.
Tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục cho phép tự do thông tin
nhiều hơn những năm trước, thông tin trong
nước cũng như thông tin từ nước ngoài
về, kể cả trong hệ thống các trường
đại học. Các thủ thư ngày càng được
đào tạo chuyên nghiệp và theo tiêu chuẩn quốc
tế như Hệ Thập phân Dewey hỗ trợ trao
đổi thông tin và thư viện quốc tế và nghiên cứu.
Các giáo sư nước ngoài làm việc tạm thời
tại trường đại học được phép
thảo luận những vấn đề phi chính trị
rộng răi hơn và tự do hơn trong lớp học. Tuy
nhiên, những người giám sát của chính phủ
thường xuyên đến dự các lớp học do
cả giáo viên nước ngoài và trong nước dạy.
Các tài liệu thông tin của chính phủ nước ngoài
không có tính chính trị phát cho các đại biểu tại
một hội thảo về thư viện ở Huế
đă bị an ninh tịch thu. Một số viện nghiên
cứu cho rằng các giảng viên của họ
được phép tham gia các chương tŕnh chuyên
nghiệp chính thức tại các cơ sở ngoại giao
hoặc sử dụng các cơ sở nghiên cứu
ngoại giao. Các nhân viên an ninh thường thẩm tra
những người thường sử dụng cơ
sở ngoại giao về mối quan hệ của họ
với các chính phủ nước ngoài. Tuy nhiên yêu cầu về
tài liệu từ các viện nghiên cứu nước ngoài
đang tăng lên. Các ấn phẩm học thuật
thường phản ánh quan điểm của Đảng và
Chính phủ.
b. Quyền tự do
hội họp và lập nhóm
Quyền hội họp
bị luật hạn chế và thực tế, Chính phủ
hạn chế và giám sát tất cả các h́nh thức
biểu t́nh công khai. Những người muốn tụ
tập thành từng nhóm được yêu cầu phải
xin được giấy phép, điều này chính quyền
địa phương có thể cấp hoặc từ
chối tùy tiện. Nh́n chung, Chính phủ không cho phép
những cuộc biểu t́nh bị coi như là do mục
đích chính trị. Người dân thường tụ
tập thành từng nhóm không chính thức mà không có sự can
thiệp của Chính phủ; tuy nhiên, chính phủ hạn
chế quyền của một số nhóm tôn giáo
được tụ tập thờ cúng. Chính phủ đă
xét xử và kết án một số người v́ phản
đối chính sách sử dụng đất và thu hồi
đất (xem Phần 2.a).
Tháng 2 và 3, có nhiều
cuộc biểu t́nh ḥa b́nh, hầu hết là sinh viên,
được tổ chức đối diện một
sứ quán nước ngoài ở Hà Nội. Cảnh sát đă
duy tŕ trật tự nhưng không can thiệp hay yêu cầu
giấy phép.
Ngày 23/4, hai người
đàn ông bị kết án tù ở Thành phố Hồ Chí Minh
v́ “gây rối trật tự xă hội” và phá hoại tài
sản nhà nước v́ xúi giục một chục
người tấn công một văn pḥng giải phóng
mặt bằng trong một tranh chấp về thu hồi
đất.
Tháng 10, một ṭa án
tỉnh Đắc Lắc ở Tây Nguyên đă kết án 4
người dân tộc thiểu số bị bắt v́ liên
quan đến vụ bạo loạn năm 2001 ở Tây
Nguyên là Y Kuo Bya, Y He E Ban, Y Jon Enuol, và Y Bri Enuol với mức
án tù là 13, 12, 11 và 10 năm.
Năm 2002 và trong năm
qua, có nhiều cuộc biểu t́nh ḥa b́nh lên đến 50
người, hầu hết là phụ nữ nông dân lớn
tuổi, về vấn đề sử dụng
đất. Các cuộc biểu t́nh diễn ra bên ngoài các
trụ sở của chính phủ và Đảng, nhà riêng
của Thủ tướng, và Hội trường Quốc
hội ở Hà Nội. Có một lần cảnh sát
cương quyết nhưng nhẹ nhàng và tôn trọng
đưa những người biểu t́nh ra khỏi nhà
ở của Thủ tướng.
Tháng 12/2002, Ṭa án tỉnh
Nam Định đă kết án 10 người tù từ 18
tháng đến 5 năm v́ vai tṛ của họ trong các
cuộc biểu t́nh năm 2000 liên quan đến tham nhũng
và thuế sử dụng đất nông nghiệp. Cũng trong
tháng 12/2002, Ṭa án tỉnh Hà Tây đă kết án 22
người từ 6 tháng đến 9 năm tù v́ tham gia vào
cuộc biểu t́nh tháng 4/2002 về tranh chấp
đất đai và tham nhũng.
Tháng 12/2002, có tin cảnh
sát đă cương quyết giải tán các cuộc họp
tôn giáo của người Thiên chúa H'mong (xem Phần 2.c).
Tháng 11/2002, hàng trăm nông
dân đă xung đột với chính quyền địa
phương Hà Tây về thu hồi đất và làm bị
thương 6 hay 7 cảnh sát. Không biết là có phiên ṭa nào
liên quan đến vụ này.
Chính phủ hạn
chế quyền tự do lập hội. Chính phủ
cấm thành lập hợp pháp các tổ chức cá nhân
độc lập, nhấn mạnh rằng cá nhân làm
việc với các tổ chức do đảng lănh
đạo thường được Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam che chở. Công dân bị cấm
không được thành lập các tổ chức
độc lập như đảng chính trị, công
đoàn, và các tổ chức tôn giáo và cựu chiến binh.
Tuy nhiên, một số tổ chức, đặc biệt là
các nhóm tôn giáo chưa đăng kư, vẫn có thể
hoạt động ngoài khuôn khổ này mà không có hoặc có
rất ít sự can thiệp của Chính phủ (xem Phần
2.c).
Tháng 9/2001, Trần Văn
Khuê và đại tá Phạm Quế Dương đă
gửi thư lên ban lănh đạo Đảng và Chính phủ
yêu cầu cấp giấy phép để thành lập
“Hội Nhân dân để hỗ trợ Đảng và Chính
phủ đấu tranh chống tham nhũng”. Cảnh sát
đă đưa Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân từ Hà
Nội về nhà của họ tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Hội Nhân Dân sau đó đă cho ra đời trang
Web mà không bị Chính phủ ngăn chặn, bao gồm thông
tin liên lạc, đơn kiến nghị, các tài liệu khác
do nhiều nhà hoạt động dân chủ, và bảng
thông báo mà một số cá nhân báo cáo lại các phản
ứng của họ với đề xuất. Tháng 10/2002,
Chính phủ cũng áp đặt lệnh quản chế
hành chính trong hai năm, một dạng quản thúc. Tháng
12/2002, Khuê bị bắt và ông vẫn đang chờ xét
xử vào cuối năm.
c. Quyền
tự do tôn giáo
Cả Hiến pháp và các
nghị định của Chính phủ quy định quyền
tự do tín ngưỡng; tuy nhiên, Chính phủ tiếp
tục hạn chế đáng kể các hoạt động
có tổ chức của các nhóm tôn giáo mà chính phủ tuyên
bố là không phù hợp với luật và chính sách của
nhà nước.
Theo nguồn tin đáng tin
cậy, cảnh sát bắt giữ một cách tùy tiện người
dân chỉ v́ hoạt động và đức tin tôn giáo
của họ, đặc biệt là ở vùng núi và dân
tộc thiểu số. Một vài nguồn tin đáng tin
cậy cho hay người H’mong theo đạo Tin Lành
tại một số làng ở vùng Tây Bắc và nhiều
người dân tộc thiểu số theo đạo Tin
Lành ở Tây Nguyên đă bị gây sức ép hoặc bị
buộc phải công khai từ bỏ đức tin của
họ. Cũng có những nguồn tin rằng một
số người theo đạo Tin Lành ở những khu
vực này bị đánh và bị giết (xem Phần 1.a).
Chính phủ đă yêu
cầu các nhóm tôn giáo phải đăng kư và đă sử
dụng quá tŕnh này để kiểm tra và giám sát các tổ
chức nhà thờ. Chính phủ chính thức công nhận các
tổ chức tôn giáo của đạo Phật, Thiên chúa,
Tin Lành, Ḥa Hảo, Cao Đài và đạo Hồi. Để
được chính thức công nhận, nhóm đó phải
được Chính phủ chấp thuận về ban lănh
đạo và phạm vi hoạt động chung. Quy tŕnh
chấp thuận của chính phủ rất chậm và không
minh bạch. Các tổ chức tôn giáo được công
nhận chính thức có thể hoạt động ở
nhiều mức độ khác nhau trên cả nước, và
những người theo tổ chức tôn giáo này có thể
hành đạo mà không bị chính phủ quấy rầy,
trừ ở một số tỉnh xa xôi. Các tổ chức
tôn giáo được công nhận chính thức này phải
tham vấn với chính phủ về hoạt động
tôn giáo của họ, cho dù không phải là giáo lư về
đức tin. Một số nhà lănh đạo của
tổ chức tôn giáo của đạo Phật và Ḥa
Hảo trước năm 1975 đă không nhận
được giấy công nhận chính thức cho tổ
chức của họ. Các hoạt động của
họ, và hoạt động của các nhà thờ chưa
đăng kư của đạo Tin Lành bị chính quyền
coi là bất hợp pháp, và dẫn đến việc
thỉnh thoảng họ bị quấy nhiễu. Chính
phủ tích cực hạn chế tiếp xúc giữa UBCV
bất hợp pháp với những tín đồ Phật
giáo nước ngoài ủng hộ UBCV, và giữa các tổ
chức đạo Tin Lành không chính thức, như các nhà
thờ bí mật, và những người nước ngoài
ủng hộ, tuy vậy những cuộc tiếp xúc
như vậy vẫn c̣n tiếp tục.
Chính phủ nh́n chung
vẫn cho phép người dân được hành
đạo theo tín ngưỡng mà họ đă chọn, và
sự tham gia vào các hoạt động tôn giáo trên toàn
quốc ngày càng tăng mạnh. Tại một số khu
vực và Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức
địa phương thường cho phép các tổ
chức tôn giáo không đăng kư được tổ
chức hành lễ mà không bị hoặc ít bị quấy
rầy.
Trong một số
trường hợp, đặc biệt đối với
người theo đạo Tin Lành H’mong, khi chính quyền quy
cho người dân tội hành đạo bất hợp
pháp, họ đă áp dụng các điều khoản của
Bộ luật H́nh sự quy định thời hạn
bỏ tù lên đến ba năm v́ “lạm dụng quyền
tự do ngôn luận, báo chí, hay tôn giáo”. Bộ luật H́nh
sự quy định các h́nh phạt đối với
tội danh “cố ư phá hoại khối đại đoàn
kết dân tộc” bằng cách khuyến khích “chia rẽ
người theo đạo và người không theo
đạo”. Có tin cho hay các viên chức đă giả mạo
bằng chứng. Các quan chức chính phủ đă bác
bỏ cáo buộc rằng các giáo hội Tin Lành bị phá
hoại hay giải tán trong năm qua với cớ là các giáo
hội này không đăng kư nên bất hợp pháp. Ngày 23/9,
cảnh sát đă phá một nhà thờ Tin Lành nhỏ ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại những tỉnh
Tây Bắc và Tây Nguyên, viên chức địa phương
cho phép các tín đồ được tự do hơn trong
việc hành đạo. Chính phủ đôi khi ngăn tín
đồ Tin Lành ở các tỉnh tây bắc và Tây Nguyên
tụ tập làm lễ tại những nhà thờ không
đăng kư, buộc họ phải làm lễ bí mật
tại gia.
Chính phủ tiếp
tục gây phiền nhiễu các thành viên của UBCV và
ngăn chặn họ thực hiện các hoạt
động tôn giáo độc lập, đặc biệt là
bên ngoài các chùa chiền. Đầu tháng 3, Chính phủ cho
phép Giáo chủ 83 tuổi của UBCV đi Hà Nội
giải phẫu. Các quan chức chính phủ kể cả
Thủ tướng Phan Văn Khải và các nhà ngoại giao
nước ngoài đă tiếp xúc với ông trong thời
gian này. Sau khi b́nh phục, chính phủ cho phép Giáo chủ
ở lại chùa cũ của ông ở Quy Nhơn, tỉnh
B́nh Định, thay v́ quay lại chùa ở tỉnh
Quảng Ngăi nơi ông đă sống từ năm 1982 trong
điều kiện như là bị quản thúc. Ngày 27/6,
Chính phủ thả Vị phó Chủ tịch của UBCV
Thích Quảng Độ sớm hơn vài tháng trong hai năm
bị quản chế hành chính. Hầu hết lănh
đạo của UBCV sau đó có thể gặp nhau,
gặp các đại diện ngoại giao và quan chức
chính phủ ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quy
Nhơn dù chính phủ có can thiệp đôi chút. Tháng 9, lănh
đạo UBCV họp ở B́nh Định và các thành viên
coi đây là sự tái lập trên thực tế quyền
tồn tại của UBCV. Cơ quan an ninh đă mời
một số lănh đạo của UBCV khi rời chùa
của họ và có vẻ như chỉ có thể đi
lại nếu cơ quan an ninh cho phép. Ba thầy của UBCV
ở Thành phố Hồ Chí Minh là Thích Tuệ Sỹ, Thích
Nguyên Lư và Thích Thanh Huyền bị kết án chính thức 2
năm quản chế hành chính và “giám sát bắt buộc”.
Ban lănh đạo của
Giáo hội Cơ đốc Việt Nam vẫn bất b́nh
trước những hạn chế của Chính phủ
nhưng đă phải học cách thích nghi với những
hạn chế này. Một số tăng lữ cho biết
có sự nới lỏng kiểm soát của Chính phủ
về các hoạt động của giáo hội ở
một số giáo xứ trong năm qua. Tại nhiều
địa phương, các quan chức chính quyền
địa phương đă cho phép các chức sắc
tiến hành các lớp học tôn giáo (ngoài giờ học
ở trường) và các hoạt động từ
thiện hạn chế; tuy nhiên, ở nhiều khu vực
khác, các quan chức nghiêm cấm những hoạt
động này.
Hạn chế đối
với chức sắc và giới tăng lữ của các
nhóm tôn giáo vẫn c̣n tồn tại, và Chính phủ vẫn
duy tŕ hoạt động giám sát đối với các tôn
giáo đă được công nhận. Các tổ chức tôn
giáo được yêu cầu phải có sự cho phép
của Chính phủ để tổ chức hội
nghị đào tạo, hội thảo và lễ kỷ
niệm không có trong lịch tôn giáo thông thường của
ḿnh, xây dựng hoặc sửa lại nơi thờ
tự, tham gia vào các hoạt động từ thiện,
điều hành các trường tôn giáo, và đào tạo,
phong chức, thăng chức, hay luân chuyển tu sỹ. Các
tổ chức tôn giáo cũng được yêu cầu
phải nộp “kế hoạch thường niên” và “lên
lịch kế hoạch” của họ để chính
quyền địa phương thông qua. Nhiều hạn
chế này phần lớn do ủy ban nhân dân thành phố và
tỉnh thực hiện, và h́nh phạt đối với
tín đồ tôn giáo được địa phương
tiến hành rất đa dạng.
Nh́n chung các nhóm tôn giáo
gặp khó khăn để có được các tài
liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào
tạo, và mở rộng đào tạo tu sỹ để
đáp ứng như cầu ngày càng tăng của giáo
đoàn; Chính phủ quy định số lượng
tăng lữ có thể được đào tạo
của đạo Phật, Thiên chúa, Ḥa Hảo và Cao Đài. Ngày
15/2, Chính phủ đă cho phép Hội Thánh Tin Lành miền Nam
Việt Nam (SECV) chính thức được công nhận vào
năm 2001, được mở trường ḍng tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ hạn chế số
học viên là 50 và giữ quyền chấp nhận các
ứng cử viên xin học.
Giáo hội Cơ
đốc gặp phải những cản trở đáng
kể trong vấn đề đào tạo và lễ tôn phong
các linh mục và giám mục. Chính phủ duy tŕ hiệu
quả quyền phủ quyết đối với việc
bổ nhiệm giám mục của Vatican; tuy nhiên, trên
thực tế chính phủ tỏ ư sẵn sàng thảo
luận về việc bổ nhiệm với Vatican. Tháng 8,
hai giám mục Cơ đốc mới được
bổ nhiệm với sự chấp thuận của chính
phủ. Một được bổ nhiệm cho giáo
xứ Hưng Ḥa, vị trí đă bị trống trong 11
năm qua. Với những bổ nhiệm này, chỉ c̣n
một giám mục chưa có do giám mục hiện tại
qua đời vào tháng 6. Tháng 10, Chính phủ cũng ngầm
công nhận việc thăng Tổng giám mục Jean-Baptiste
Phạm Minh Mẫn lên Hồng y Giáo chủ. Trong những
năm gần đây, Chính phủ nới lỏng nỗ
lực giám sát chức sắc của Giáo hội Cơ
đốc bằng cách giảm nhẹ các yêu cầu
rằng tất cả tăng lữ phải thuộc
Hội Thiên Chúa yêu nước do chính phủ quản lư. Giáo
hội Cơ đốc đă tổ chức sáu lớp
học trường ḍng; tuy nhiên do chính quyền địa
phương phản đối địa điểm nên
một lớp khác được chấp thuận vẫn
chưa học được vào cuối năm. Giáo
hội Cơ đốc cũng nhận giấy phép
chấp nhận học sinh trường đạo mới
nhưng chỉ cấp cho từng năm. Cuối năm có
khoảng 800 học sinh trên cả nước đă
đăng kư theo học. Ủy ban nhân dân địa
phương phải thông qua tất cả số học
sinh, cả theo học trường ḍng và trước
lễ tấn phong thành linh mục. C̣n nhiều học sinh
tốt nghiệp lớp học trường ḍng vẫn
chưa được tấn phong trong khoảng 10 năm.
Nhiều nhà quan sát cho rằng số lượng linh
mục được tấn phong không đủ
để hỗ trợ dân số công giáo đang gia
tăng.
Chính quyền đă
bắt và giám sát chặt chẽ “người bất
đồng chính kiến” của đạo Ḥa Hảo. Ngày
27/3, Nguyễn Văn Lia bị bắt và ngày 1/7, ông bị
kết án 3 năm tù v́ tổ chức lễ kỷ niệm
sự biến mất của nhà tiên tri Ḥa Hảo Huỳnh
Phú Sổ. Chính phủ cho phép các tín đồ đạo Ḥa
Hảo khác được tự do hành đạo.
Khoảng 100 đến 200 du khách đi lễ tại
tại chùa trung tâm của đạo Ḥa Hảo tại
tỉnh An Giang hàng ngày. Cơ quan cảnh sát thường
xuyên thẩm vấn một số người có các quan
điểm chính trị và tôn giáo khác biệt, như nhà
sư của UBCV và nhà lănh đạo của đạo Ḥa
Hảo.
Kể từ năm 1975,
Chính phủ cấm lễ tấn phong giới giáo của
Cao Đài. Tuy nhiên, trong năm 2002, có ít nhất 18 linh mục
mới được tấn phong và 924 học viên
được tham gia vào chương tŕnh đào tạo cho
giới giáo. Các linh mục khác đă được thăng
chức cao hơn.
Thành viên của Hội
Hồi giáo đă có thể thực hiện đức tin
của ḿnh, bao gồm những người cầu
nguyện hàng ngày và ăn chay trong tháng lễ Ramadan.
Chính phủ hạn
chế và kiểm soát tất cả các h́nh thức tụ
họp công khai, bao gồm hội họp tổ chức
hoạt động tôn giáo. Các cuộc tụ họp tôn giáo
lớn thường xuyên theo kế hoạch
được phép tổ chức, như lễ công giáo
tại La Vang và lễ Cao Đài tại tỉnh Tây Ninh.
Đạo Ḥa Hảo cũng được phép tổ chức
các cuộc hội họp lớn công khai để kỷ
niệm buổi lễ truyền thống, nhưng những
đạo khác không được phép tổ chức.
Một số cuộc hội họp tôn giáo theo kế
hoạch đặc biệt cũng được phép. Tuy
nhiên, tháng 12/2002, có báo cáo rằng cảnh sát ở tỉnh
Lai Châu cố gắng giải tán một hay nhiều nhóm
tụ tập của người H’mông theo Công giáo. Tin cho
hay cảnh sát đă dùng hơi ga, ít nhất là một trong
những vụ việc này cảnh sát đă dùng hơi cay
làm cho bốn hoặc năm người nữa phải
nhập viện.
Nói chung, việc công khai
tham gia theo một đức tin tôn giáo không gây khó khăn cho
người dân trong cuộc sống đời
thường, kinh tế và thế tục, tuy nhiên nó có thể
ngăn cản bước thăng tiến vào hàng ngũ cao
nhất của chính phủ và quân sự. Theo tôn giáo không c̣n
là rào cản đối với việc gia nhập
Đảng. Một số quan chức của Chính phủ
và của đảng càng ngày càng thừa nhận rằng
họ theo tập tục truyền thống và tôn giáo
của đạo Phật.
Người truyền giáo
nước ngoài có thể không được hoạt
động trong nước, dù nhiều người
tiến hành các hoạt động nhân đạo hay phát
triển được Chính phủ chấp thuận.
Chính phủ thành lập
một nhà xuất bản dưới sự kiểm soát
của Ủy ban Tôn giáo Chính phủ để giám sát
việc xuất bản tất cả tài liệu về tôn
giáo. Nhiều sách kinh Phật, kinh thánh, cùng các sách và ấn
phẩm tôn giáo khác được các cơ quan đă
được Chính phủ cho phép in ấn và
được bán hay phân phát ở các cơ quan Tôn giáo.
Chính phủ chỉ cho phép
một số giáo sỹ công du v́ mục đích tôn giáo;
người theo Đạo Hồi có thể hành hương
về Mecca (dù năm qua không có ai v́ thiếu hỗ trợ
tài chính của nước ngoài) và nhiều quan chức
Phật giáo, Thiên chúa giáo và Tin Lành có thể công du và học
tập ở nước ngoài. Chính phủ cho phép nhiều
giám mục và linh mục đi lại tự do trong giáo phận
của ḿnh, nhưng vẫn hạn chế cho phép họ
được tự do đi lại hơn ngoài những
khu vực này, đặc biệt ở những khu vực
thiểu số. Nhiều lănh đạo giáo hội Tin Lành
đi nước ngoài trong năm qua. Các quan chức chính
phủ khuyến cáo tăng lữ không nên đến Sơn
La, Lai Châu và một số tỉnh biên gi