BÁO CÁO VỀ T̀NH H̀NH NHÂN QUYỀN Ở CÁC NƯỚC, NĂM 2003
Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Ngày 25/2/2004

VIỆT NAM

Việt Nam là quốc gia một đảng do Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo và kiểm soát. Đảng có vai tṛ lănh đạo then chốt theo quy định của Hiến pháp và việc các Đảng viên nắm giữ tất cả các vị trí chủ chốt trong chính phủ đảm bảo vai tṛ bậc nhất của đường lối do Bộ Chính trị đề ra và cho phép Đảng vạch ra những khung chính sách quốc gia lớn. Trong những năm gần đây, Đảng đă giảm dần sự can thiệp vào các hoạt động của Chính phủ và cho phép Chính phủ có vai tṛ lớn hơn trong việc thực hiện các chính sách. Quốc hội vẫn chịu sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuy nhiên, Chính phủ vẫn tiếp tục tăng cường năng lực và cải tổ bộ máy quan liêu của Quốc hội gồm 498 đại biểu. Đại biểu Quốc hội được chọn lựa thông qua bầu cử vào tháng 5/2002 và hầu hết các ứng cử viên đều được xem xét lư lịch kỹ lưỡng bởi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam quản lư các tổ chức xă hội của Việt Nam. Khoảng 90% đại biểu là Đảng viên. Tuy nhiên, Quốc hội tiếp tục đóng một vai tṛ ngày càng quan trọng như một diễn đàn bàn về các vấn đề của các địa phương và các tỉnh và là nơi để chỉ trích t́nh trạng tham nhũng và kém hiệu quả ở các địa phương và trong cả nước, Quốc hội đă đạt được những tiến bộ trong việc cải thiện sự minh bạch trong các hệ thống quy phạm pháp luật. Bộ phận tư pháp chịu sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chính phủ.

An ninh trong nước là trách nhiệm hàng đầu của Bộ Công an, tuy nhiên, ở những khu vực xa xôi th́ quân đội vẫn là đại diện quan trọng nhất của Chính phủ đóng vai tṛ xây dựng cơ sở hạ tầng và an ninh xă hội khác, kể cả duy tŕ trật tự trị an khi có biến động. Từ năm 2001, quân đội đóng vai tṛ to lớn ở Tây Nguyên bằng việc tăng cường hạn chế các cuộc tụ tập, thực hiện bắt giữ người và hạn chế đi lại. Bộ Công an phụ trách cảnh sát, một lực lượng điều tra an ninh quốc gia đặc biệt và những lực lượng khác để đảm bảo an ninh trong nước. Bộ Công an triển khai luật pháp và những quy định thường hạn chế đáng kể tự do cá nhân và vi phạm các quyền con người khác. Bộ này cũng duy tŕ một hệ thống đăng kư hộ khẩu và an ninh khu phố để kiểm soát dân số, tập trung vào những kẻ bị t́nh nghi có dính líu hay có khả năng dính líu vào các hoạt động chính trị bất hợp pháp, tuy nhiên hệ thống này đă trở nên kém rành mạch, gây ảnh hưởng và xâm phạm vào cuộc sống hàng ngày của hầu hết người dân. Trong khi chính quyền dân sự nh́n chung duy tŕ sự kiểm soát hiệu quả đối với các lực lượng an ninh, có những báo cáo nói rằng có các thành phần thuộc các lực lượng an ninh đă hành động một cách độc lập bên ngoài thẩm quyền của chính quyền. Lực lượng công an cũng có nhiều vụ vi phạm nhân quyền.

Đất nước của khoảng 80 triệu dân này đang trải qua thời kỳ quá độ từ một nền kinh tế hoàn toàn kế hoạch hóa tập trung sang “nền kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Trong năm qua, tăng trưởng Tổng Sản phẩm Quốc nội là xấp xỉ 7% và tỷ lệ lạm phát ở mức xấp xỉ 2,2% vào thời điểm cuối năm. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng 62,5% lao động và chiếm 23% tổng sản lượng kinh tế. Công nghiệp và xây dựng đóng góp 38,5% tổng sản lượng kinh tế, trong khi ngành dịch vụ chiếm 38,5%. Trong năm qua, giải ngân viện trợ phát triển chính thức đạt hơn 1,4 tỷ đô-la. Trong 10 năm qua, mức đói nghèo chung giảm đáng kể; đến năm 2002, khoảng 30% dân số sống dưới mức đói nghèo. Đặc biệt, ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, cải cách kinh tế đă nâng cao mức sống và giảm sự kiểm soát, can thiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ vào cuộc sống hàng ngày của người dân, tuy nhiên, nhiều người dân ở các vùng nông thôn hẻo lánh, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng Cao nguyên Tây Bắc, Tây Nguyên và các vùng duyên hải miền trung vẫn sống trong t́nh trạng đói nghèo nghiêm trọng. Sự chênh lệch về thu nhập và phát triển giữa khu vực đô thị và nông thôn và giữa các khu vực đô thị đang tăng lên. T́nh trạng thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp vẫn là những vấn đề lớn. Chính phủ đă có những bước đi đáng kể trong việc cải thiện sự minh bạch pháp lư đối với các doanh nghiệp. Tháng 12/2002, Quốc hội đă sửa đổi Luật về Ban hành Các Văn bản Quy phạm Pháp luật, luật này quy định rằng hầu hết các văn bản pháp lư phải được đăng trên Công báo Chính phủ. Ngày 1/7, để đáp ứng quy định này, Công báo Chính phủ đă được phát hành hàng ngày trong khi trước đây Công báo ra 6 số một tháng.

T́nh h́nh nhân quyền của Chính phủ vẫn c̣n kém và Chính phủ tiếp tục các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chính phủ vẫn không cho công dân quyền được thay đổi chính phủ của ḿnh. Cảnh sát đôi khi đánh đập những người t́nh nghi khi bắt bớ, giam giữ và thẩm vấn họ. Một vài nguồn tin c̣n cho biết lực lượng an ninh giam giữ, đánh đập và chịu trách nhiệm về sự mất tích của một số người trong năm qua. Các vụ tùy tiện giam giữ công dân vẫn tiếp tục, kể cả giam giữ v́ bày tỏ quan điểm chính trị và tôn giáo một cách ḥa b́nh. Trừ một số trường hợp ngoại lệ, điều kiện sống trong nhà tù vẫn hà khắc, đặc biệt ở một số tỉnh vùng sâu, và có tin một số người đă chết v́ bị đối xử tàn tệ trong thời gian giam giữ. Các nhà tù thường bắt phạm nhân phải làm việc với mức thù lao rất ít và không có tiền công. Ngành tư pháp không độc lập hoạt động và Chính phủ không công nhận quyền được xét xử công bằng và nhanh chóng đối với một số công dân. Chính phủ tiếp tục giam giữ một số tù nhân chính trị. Chính phủ hạn chế quyền riêng tư của công dân mặc dù vẫn tiếp tục có xu hướng giảm bớt sự can thiệp của Chính phủ vào cuộc sống hàng ngày của công dân. Chính phủ hạn chế đáng kể quyền tự do ngôn luận, báo chí, tụ tập và lập hội. Chính phủ tiếp tục chính sách có từ lâu là không khoan dung đối với phần lớn các h́nh thức bất đồng chính kiến và tăng cường các nỗ lực nhằm kiểm soát sự bất đồng chính kiến trên Internet. Lực lượng an ninh tiếp tục các biện pháp hạn chế đối với các cuộc tụ tập công cộng và đi lại ở một số vùng trong nước, chủ yếu là ở Tây Nguyên và Cao nguyên Tây Bắc. Chính phủ cho phép các quan chức dân bầu và dân thường được hưởng quyền tự do ngôn luận và hội họp nhiều hơn để bày tỏ những vấn đề bức xúc tại những diễn đàn được chấp thuận. Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức xă hội, lao động, chính trị có tính độc lập và những tổ chức như thế chỉ được hoạt động dưới sự quản lư của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chính phủ hạn chế tự do tôn giáo và hoạt động của các tổ chức tôn giáo không được Nhà nước chấp thuận. Cá biệt, các tín đồ Phật giáo, Ḥa Hảo và Tin lành tích cực trong các tổ chức không có đăng kư th́ bị chính quyền gây phiền nhiễu và bắt giữ. Chính phủ áp đặt một số hạn chế đối với quyền tự do đi lại của một số người bị coi là mối đe dọa đối với chính quyền. Việc tiếp cận Tây Nguyên của các nhà quan sát nước ngoài đă được cải thiện từ năm 2002, nhưng những người đến thăm khu vực này thường bị theo dơi và có các viên chức an ninh đi cùng. Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng kể các quyền tự do dân sự với lư do an ninh quốc gia và ổn định xă hội. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nỗ lực đẩy mạnh cơ chế để công dân có thể kiến nghị với Chính phủ và để các nạn nhân của các vụ án oan, sai có thể được bồi thường. Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân quyền được thành lập hoặc hoạt động. Bạo lực và phân biệt xă hội đối với phụ nữ vẫn tiếp tục là vấn đề gây quan ngại. Nạn mại dâm trẻ em cũng là vấn đề nhức nhối. Sự phân biệt đối xử của Chính phủ và xă hội đối với một số dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục là một vấn đề. Chính phủ hạn chế một số quyền căn bản của người lao động như tự do lập hội mặc dù Chính phủ đă hợp tác với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các nhà tài trợ quốc tế nhằm nâng cao việc thực hiện Luật Lao động hiện hành. Các báo cáo cho thấy trẻ em làm việc trong t́nh trạng bị bóc lột. Chính phủ nhận thức được rằng lao động trẻ em là một vấn đề và có những nỗ lực để giải quyết vấn đề này. Buôn bán phụ nữ và trẻ em với mục đích mại dâm ở trong nước và ra nước ngoài tiếp tục là những vấn đề nghiêm trọng và các báo cáo cho biết t́nh h́nh buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc và Đài Loan để thực hiện những vụ hôn nhân đă được thỏa thuận hoặc bị ép buộc vẫn tiếp diễn.

TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN

PHẦN 1. TÔN TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI, TRONG ĐÓ CÓ QUYỀN TỰ DO KHÔNG BỊ:

a. Tước đoạt cuộc sống một cách tùy tiện và bất hợp pháp

Không có các vụ sát hại chính trị trong năm qua. Tuy nhiên, có các báo cáo về các vụ giết người do các lực lượng an ninh thực hiện. Trong tháng 7, có tin cảnh sát ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang đă đánh chết Vang Seo Giao, một cựu Đảng viên đă chuyển sang theo Thiên chúa giáo, và ném xác anh ta xuống suối v́ đă không từ bỏ đức tin Tin lành của ḿnh. Cũng có tin là cảnh sát đă đánh chết một tín đồ Tin lành khác, Mua Say So, v́ đă chỉ trích Chính phủ về việc Chính phủ được cho là đă đánh chết anh của anh ta, Mua Bua Seng. Trong tháng 9, cảnh sát tỉnh Nam Định đă đánh chết Trần Minh Đức khi anh này bị bắt giam sau một vụ xung đột gia đ́nh. Không có báo cáo ǵ về những biện pháp nào đă được áp dụng đối với các quan chức dính dáng đến các vụ giết người này. Trong năm qua, có tin cảnh sát tỉnh Quảng Nam đă tra tấn Nguyễn Ngọc Châu đến chết trong khi hỏi cung anh ta khi anh ta bị truy tố về tội giết người. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đă đề nghị truy tố 3 sỹ quan cảnh sát bị quy là đă gây ra vụ đánh chết người nói trên; vụ này đang chờ được xử lư vào cuối năm 2003.

Hai sĩ quan cảnh sát ở tỉnh Vĩnh Phú bị cáo buộc đă tra tấn đến chết Khong Van Thoi trong tháng Một năm 2002 và đang đợi ra ṭa vào cuối năm. Hai giám thị nhà tù bị buộc tội giết chết phạm nhân Pham Van Dung ở tỉnh Hải Dương tháng 9 năm 2002, và cũng đang đợi ra ṭa v́ ngộ sát vào cuối năm nay.

b. Mất tích

Đă có tin tức đáng tin cậy nói rằng một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Cao nguyên Tây Bắc đă bị bắt hoặc bị giam giữ nhưng đă không trở về với gia đ́nh họ.

Tháng 8, Ṭa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thông báo với gia đ́nh của Phạm Văn Tường, một cựu ḥa thượng trong tổ chức Phật giáo Thống nhất Việt Nam (UBCV) trước đây có tên là Thích Trí Lực cho đến khi hoàn tục năm 1997, rằng ông đang bị giam ở Thành phố Hồ Chí Minh chờ xét xử về một số tội danh không được nêu rơ. Tháng 7/2002, có tin Tường đă bị ép buộc phải quay về nước từ Campuchia trong khi ông đă được Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người Tị nạn trao quy chế tị nạn ở Campuchia. Ṭa án đă hoăn xét xử ông, kế hoạch ban đầu là xét xử vào ngày 1/8; gia đ́nh ông đă không được đến thăm ông, và đến cuối năm 2003 vẫn chưa có ngày giờ xét xử mới.

Tháng 8/2002, ở huyện M'Drak, tỉnh Đak Lak, cảnh sát đă đối đầu với 120 dân làng đang cố gắng ngăn chặn việc bắt giữ một linh mục đạo Tin lành là người dân tộc thiểu số tên là Y Su Nie và hai người con trai lớn của ông ta. Sau một lúc đôi co hỗn loạn, cảnh sát đă bắt tất cả 120 người. Phần lớn những người bị bắt đều được tha sau vài ngày nhưng có từ 20 đến 30 dân làng không thấy trở về nhà. Cảnh sát không công nhận đă bắt giữ họ. Tháng 10/2002, cảnh sát cho biết rằng họ đă bắt giữ Y Su Nie và một người khác.

Cũng vào tháng 8/2002, ở Đak Lak, cảnh sát bắt giữ 240 người trong một cuộc họp tại một nhà thờ tại gia. Phần lớn những người bị bắt giữ đều được tha trong vài ngày nhưng 47 người không thấy trở về nhà. Cảnh sát không thừa nhận là đă bắt giữ họ.

c. Tra tấn và các hành động đối xử hoặc trừng phạt độc ác, vô nhân tính hoặc hạ nhục

Luật pháp nghiêm cấm lạm dụng thể xác; tuy nhiên cảnh sát đôi khi vẫn đánh đập người bị t́nh nghi trong quá tŕnh bắt giữ hoặc trong khi họ bị giam giữ. Có tin cảnh sát đă đánh chết ít nhất hai can phạm bị giam giữ trong năm 2002 (xem Phần 1.a).

Không có thông tin ǵ về những biện pháp nào đă được áp dụng đối với hai giám thị được cho là đă đánh trọng thượng một phạm nhân tại một nhà tù ở tỉnh Hải Dương vào tháng 8/2002.

Có dư luận nói là điều kiện giam giữ tù nhân thường là rất hà khắc, nhưng nói chung không đe dọa đến tính mạng của họ. Trong năm qua, cũng như trong năm 2002, các nhà ngoại giao được chọn lọc làm quan sát viên đă đến thăm ít nhất 2 nhà tù và thấy các điều kiện ở đó thật khắc khổ nhưng nh́n chung chấp nhận được.

Đàn ông và đàn bà được giam riêng trong nhà tù. Những tội nhân ít tuổi được cách ly với những người trưởng thành. Quá chật chội v́ đông người, không đủ ăn và điều kiện vệ sinh tồi tệ vẫn là những vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nhà tù.

Có dư luận cho rằng các tù nhân, kể cả những người bị giam v́ các lư do chính trị, bị điều chuyển một cách độc đoán đến các khu biệt giam đồng thời bị tước bỏ quyền được đọc và viết các tài liệu tới vài tháng. Không như các năm trước, không có tin ǵ nói rằng một số phạm nhân đă bị biệt giam trong năm qua.

Những can phạm chờ xét xử thường được giam riêng rẽ với các phạm nhân đă bị kết án và không có quyền được thân nhân đến thăm. Các quan chức lănh sự được phép gặp các can phạm là công dân nước họ nhưng thường phải sau một khoảng thời gian chờ từ 4 đến 8 tuần. Không như các năm trước, không có tin ǵ nói rằng điều kiện giam giữ đối với những can phạm chờ xét xử th́ khắc nghiệt hơn so với những người đă bị kết tội hoặc kết án, tuy nhiên, can phạm chờ xét xử đôi khi không được tiếp xúc với luật sư hoặc người nhà. Phần lớn tù nhân đều được chăm sóc y tế cơ bản. Một số tù nhân chính trị và tù nhân khác không được quyền gặp thân nhân. Các tù nhân nói chung phải làm việc nhưng không nhận được tiền công (xem Phần 6.c). Các tù nhân bị kết án lao động khổ sai phàn nàn rằng họ không được ăn uống và chăm sóc y tế đầy đủ để giữ sức khỏe, đặc biệt là ở những khu vực ở vùng sâu đầy bệnh tật. Mặc dù các tù nhân chính trị và tôn giáo thường bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt và hạn chế về chăm sóc y tế ở các nhà tù trong vùng sâu như trại Z30a tại Xuân Lộc, một khu vực bị cách ly ở tỉnh Đồng Nai, không có bằng chứng cho thấy điều kiện ở đây khác với những nhà tù có các tù nhân b́nh thường.

Trong năm qua, cũng như trong năm 2002, Chính phủ đă cho phép các nhà ngoại giao được chọn lọc làm quan sát viên đă đến thăm các nhà tù, tuy nhiên, Chính phủ đă không cho phép Uỷ ban Chữ thập Đỏ Quốc tế đến thăm các tù nhân.

d. Bắt giữ, giam cầm hoặc buộc lưu vong một cách tùy tiện

Pháp luật nghiêm cấm việc bắt bớ và giam giữ độc đoán, tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục bắt giữ và giam cầm công dân một cách tùy tiện. Một vài người đă bị bắt giữ và giam cầm v́ đă thể hiện quan điểm chính trị và tôn giáo của họ một cách ḥa b́nh. Ngoài ra, đă có tin là một vài người bị bắt hoặc giam cầm trong năm 2002 đă không trở về nhà (xem Phần 1.b). Bộ luật Tố tụng H́nh sự quy định nhiều quyền đối với những người bị giam cầm, trong đó có quyền của người bị buộc tội được mời luật sư có mặt trong thời gian bị hỏi cung; tuy nhiên, trên thực tế đôi khi Chính phủ phớt lờ những quyền tự bảo vệ hợp pháp này. Hơn thế nữa, một văn bản đă tồn tại nhiều năm nay hướng dẫn về biện pháp quản chế hành chính cho phép nhân viên an ninh có quyền lực rộng răi có thể bắt các cá nhân phải chịu quản thúc tại gia, nếu họ tin rằng người bị t́nh nghi là mối đe dọa đối với "an ninh quốc gia" hoặc thậm chí v́ các lư do ít nghiêm trọng hơn, mà không cần xét xử.

Bộ luật H́nh sự quy định thời hạn mười hai tháng cho việc giam giữ để điều tra, tuy nhiên, đôi khi Chính phủ giam giữ người hơn 1 năm theo quy chế này. Không có quy định về thời hạn đối với việc hội đồng xét xử (một cơ chế bao gồm ít nhất một thẩm phán quan ṭa và 2 hội thẩm viên) ra phán quyết về một vụ án (xem Phần 1.e), tuy nhiên, có quy định rằng trong ṿng 3 tháng phải xét xử, bác bỏ, hoặc trả lại hồ sơ vụ án để điều tra lại một khi thời gian điều tra mười hai tháng kết thúc. Trước khi bị chính thức buộc tội, một người bị giam giữ có quyền thông báo cho gia đ́nh về t́nh trạng của ḿnh, và trong hầu hết các trường hợp, cảnh sát thông báo cho gia đ́nh về nơi người đó bị giam giữ. Người bị giam giữ có thể liên lạc với luật sư trước khi bị buộc tội, nếu được thủ trưởng cơ quan điều tra cho phép. Sau khi chính thức bị buộc tội, người bị giam giữ có quyền liên lạc với luật sư, tuy nhiên không rơ là quyền này có được tôn trọng trong thực tế hay không.

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (cơ quan có trách nhiệm điều tra các vụ án và đưa ra truy tố) tống đạt các lệnh bắt giữ, nói chung là theo yêu cầu của cơ quan công an, tuy nhiên, cảnh sát có thể bắt người mà không cần lệnh, căn cứ vào khiếu kiện của một bên về vụ phạm tội. Trong những trường hợp đó, Viện Kiểm sát phải tống đạt lệnh bắt giữ có hiệu lực trở về trước. Trừ khi được kiểm sát viên điều tra ủy quyền cụ thể, cơ quan công an thường cấm người bị giam giữ không được tiếp xúc với luật sư của ḿnh trong thời gian viện kiểm sát đang điều tra vụ án, có thể kéo dài đến một năm và có thể không đưa ra lời buộc tội chính thức nào. Tương tự, các thân nhân có thể thăm người bị giam giữ chỉ khi được nhân viên điều tra cho phép. Thời gian giam giữ trước khi xét xử được tính cho đến khi bị kết tội và tuyên án.

Ṭa án có thể buộc nhiều người phải chịu quản chế hành chính với mức tới năm năm sau khi hết hạn tù giam. Những quy định này được thi hành không thống nhất. Các quan chức Chính phủ sử dụng biện pháp quản chế hành chính đối với những người bị quản thúc tại gia với mức tới hai năm mà không cần xét xử (xem Phần 2.d). Ví dụ, ít nhất 3 nhà sư của UBCV đă bị kết án hai năm quản thúc tại gia vào tháng 10 và cho đến cuối năm 2003 vẫn bị quản thúc tại gia.

Những người bị bắt v́ bày tỏ quan điểm một cách ḥa b́nh bị buộc tội theo một số điều luật của Bộ luật H́nh sự, luật này đặt ngoài ṿng pháp luật những hành vi chống lại Nhà nước. Ngày 17/3, cảnh sát bắt giam nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Đan Quế v́ đă cung cấp các thông tin chỉ trích đất nước cho các nhà báo nước ngoài (xem Phần 2.a). Ngày 18/6, một ṭa án Hà Nội đă kết án Tiến sỹ Phạm Hồng Sơn 13 năm tù và 3 năm quản thúc tại gia (xem Phần 2.a). Bản án của ông đă được giảm xuống năm năm tù giam tại phiên phúc thẩm. Ngày 31/12, Nguyễn Vũ B́nh, một nhà báo bị bắt giam hồi tháng 9/2002, bị một ṭa án ở Hà Nội kết tội là gián điệp sau khi ông chỉ trích hiệp định biên giới mà Việt Nam kư với Trung Quốc và gửi bản điều trần về các vấn đề nhân quyên ở Việt Nam đến một chính phủ nước ngoài. B́nh bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc tại gia. Các nhà ngoại giao và các phóng viên nước ngoài đă không được phép đến dự cả hai phiên ṭa nói trên.

Cảnh sát đă thu gom trẻ lang thang ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và tạm giữ các em ở các trại trẻ em trước khi diễn ra Đại hội Thể thao Đông Nam Á vào tháng 12.

Trong năm 2002, nhà hoạt động Nguyễn Khắc Toàn đă bị kết án mười hai năm tù giam v́ đă phát tán các bài viết chỉ trích Chính phủ trên Internet.

Tháng 12/2002, cảnh sát bắt giam nhà hoạt động dân chủ Phạm Quế Dương và Trần Văn Khuê (xem Phần 2.a), đến cuối năm họ vẫn chưa được xét xử. Ngoài ra, 19 lănh tụ Tin lành người Hmong, trong đó có Mua A Ho, Cu Van Long và Sua Song Vu, có thể vẫn c̣n bị giam giữ. Không rơ liệu một vài người được cho là đă bị giam giữ từ các năm trước bao gồm Vơ Tấn Sáu, Phan Thị Tiêm và Trần Thị Duyên, Lê Hữu Ḥa, Mă Văn Chính và Lu Seo Dieu đă được xét xử hay chưa.

Hiến pháp không quy định việc cưỡng bức lưu vong, và Chính phủ đă không sử dụng biện pháp này.

e. Không được xét xử công khai b́nh đẳng

Hiến pháp quy định vai tṛ độc lập của thẩm phán và hội thẩm viên; tuy nhiên, trong thực tế th́ Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ ṭa án ở các cấp, lựa chọn thẩm phán với tiêu chuẩn tối thiểu là phải có phẩm chất chính trị. Các biện pháp tự bảo vệ một cách hợp hiến c̣n thiếu trầm trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến các vụ án điểm và những vụ án có nội dung chống đối hoặc gây thiệt hại cho Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc Nhà nước. Trong năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức chính phủ đă có xu hướng gây ảnh hưởng đến quyết định của ṭa án bằng cách nói thẳng ư muốn của họ với các hội thẩm viên và thẩm phán xét xử vụ án. Quốc hội bỏ phiếu cho những ứng cử viên do Chủ tịch nước giới thiệu để bầu Chánh án Ṭa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Quốc hội cũng quản lư ngân sách của ngành tư pháp bao gồm tiền lương của thẩm phán giống như quản lư ngân sách và tiền lương của toàn bộ các cơ quan trong Chính phủ. Chính quyền cấp tỉnh và huyện cấp phát tiền lương của thẩm phán theo từng cấp giống như với các công chức khác. Chủ tịch nước chỉ định tất cả các thẩm phán khác trừ Chánh án Ṭa án Nhân dân Tối cao. Quyền này được qui định trong Hiến pháp. Tháng 9/2002, Chính phủ chuyển giao các ṭa án địa phương từ Bộ Tư pháp cho Ṭa án Nhân dân Tối cao (TANDTC) quản lư trong một nỗ lực nhằm tăng cường sự độc lập của ngành tư pháp. Không có bằng chứng nào cho thấy sự thay đổi này có bất cứ tác động nào đến sự độc lập của các ṭa án.

Cơ chế bổ nhiệm thẩm phán và hội thẩm viên c̣n phản ánh sự thiếu độc lập trong ngành tư pháp. Hội đồng Xét xử Ṭa Sơ thẩm ở cấp huyện và tỉnh bao gồm các thẩm phán và hội thẩm viên, nhưng ṭa phúc thẩm cấp tỉnh và TANDTC th́ chỉ bao gồm các thẩm phán. Hội đồng Nhân dân chỉ định hội thẩm viên cấp huyện và cấp tỉnh. Hội thẩm viên phải có "phẩm chất đạo đức cao" c̣n không cần phải được đào tạo sâu về pháp lư. Hội đồng Nhân dân huyện và tỉnh chỉ định hội thẩm viên cấp dưới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải phê chuẩn các ứng cử viên vào vị trí hội thẩm viên TANDTC. Chủ tịch TANDTC chỉ định Chánh án Ṭa án Nhân dân tỉnh và huyện với nhiệm kỳ năm năm. Chủ tịch TANDTC c̣n chỉ định các thẩm phán TANDTC trong số các ứng cử viên do một hội đồng tuyển chọn tư pháp phê chuẩn dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với ṭa án c̣n tăng lên v́ Hội đồng Nhân dân chỉ định hội thẩm viên và v́ thẩm phán có nhiệm kỳ hạn chế và phải chịu sự theo dơi kiểm tra.

Hệ thống tư pháp bao gồm TANDTC, Ṭa án Nhân dân cấp huyện và tỉnh, ṭa án quân sự, ṭa án hành chính, kinh tế và lao động, và các ṭa án khác theo luật định. Mỗi quận huyện trong cả nước đều có một ṭa án nhân dân làm nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự và h́nh sự. Mỗi tỉnh có một Ṭa án Nhân dân cấp tỉnh làm nhiệm vụ xử phúc thẩm các vụ án do ṭa án huyện tŕnh lên cũng như xử sơ thẩm các vụ án khác. TANDTC là ṭa án cấp cao nhất xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm. TANDTC chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ṭa án hành chính giải quyết các khiếu kiện của công dân về việc lạm dụng hoặc tham nhũng của các quan chức.

Ṭa án quân sự có cùng nguyên tắc hoạt động như các ṭa án khác nhưng do Bộ Quốc pḥng cấp ngân sách hoạt động. Các thẩm phán và hội thẩm là người của quân đội do TANDTC và Bộ Quốc pḥng cùng chọn lựa nhưng do TANDTC giám sát hoạt động. Bộ Quốc pḥng cử đại diện tham gia hội đồng tuyển chọn tư pháp và chánh án ṭa án quân sự trung ương là Phó Chánh án Ṭa án Nhân dân Tối cao. Một luật của năm 2002 quy định các ṭa án quân sự có thẩm quyền xét xử các vụ án h́nh sự liên quan đến các pháp nhân của quân đội bao gồm cả các doanh nghiệp quân đội. Quân đội có quyền chọn sử dụng ṭa hành chính, kinh tế hoặc lao động để xử các vụ án dân sự.

Bản thân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có tư cách giải quyết các vấn đề pháp lư. Ngoài ra, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ c̣n thành lập các ủy ban đặc biệt để giúp giải quyết các tranh chấp ở địa phương.

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao truy tố tội danh của người bị buộc tội và cử công tố viên tham gia phiên ṭa. Một hội đồng xét xử, bao gồm một thẩm phán và một hoặc nhiều hội thẩm viên, sẽ xác định việc bị cáo vô tội hay có tội và thông qua bản án. Mặc dù Hiến pháp khẳng định rằng các công dân được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là phạm tội, nhưng một chuyên gia pháp lư nước ngoài đă phân tích hệ thống ṭa án trong năm 2000 và thấy rằng hơn 95% những người bị buộc tội đều bị kết tội. Một số luật sư phàn nàn rằng các thẩm phán nói chung đều có thiên kiến theo hướng có tội.

Các luật sư và thẩm phán được đào tạo c̣n thiếu và không có hội luật sư độc lập. Ở cấp Ṭa án Tối cao, năm 2002 c̣n thiếu 20% thẩm phán đủ năng lực. Theo một quan chức Liên Hợp Quốc, số thẩm phán ở ṭa án cấp tỉnh cần tăng thêm 30% đến 40%. Tiền lương thấp đă cản trở sự phát triển nghề nghiệp của thẩm phán được đào tạo. Một số ít thẩm phán đă qua đào tạo pháp lư chính qui th́ lại thường học ở các nước có hệ thống pháp lư xă hội chủ nghĩa. Các thẩm phán trẻ được đào tạo lại ít có ảnh hưởng trong hệ thống tư pháp này.

Chính phủ đă thực hiện các chương tŕnh đào tạo để giải quyết vấn đề thiếu thẩm phán và các quan chức ṭa án khác. Một số chính phủ nước ngoài và Chương tŕnh Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đă hỗ trợ để tăng cường xây dựng pháp quyền và một hệ thống tư pháp hiệu quả hơn, tuy nhiên, việc thiếu cởi mở trong qui tŕnh xét xử h́nh sự và hệ thống tư pháp tiếp tục thiếu tính độc lập đă làm giảm hiệu quả của những nỗ lực này.

Mặc dù Hiến pháp qui định quyền tư vấn pháp luật cho những người bị buộc tội h́nh sự, việc thiếu luật sư làm cho qui định này không thể thực thi. Với t́nh h́nh chỉ có một vài luật sư đáp ứng tiêu chuẩn, công tố viên thường làm cả hai nhiệm vụ truy tố và bào chữa, dẫn đến việc tư vấn pháp lư thường không giúp ích nhiều cho bị cáo. Nhất quán với hệ thống chính trị theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Chính phủ yêu cầu Đoàn Luật sư phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở cấp tỉnh, Đoàn Luật sư phụ thuộc vào các đại diện của Chính phủ trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Nhân dân tỉnh và Ủy ban Nhân dân tỉnh.

Các phiên ṭa xét xử nói chung được tổ chức công khai; tuy nhiên, cơ quan ṭa án đôi khi xử kín hoặc hạn chế người tham gia trong những vụ án nhạy cảm. Bị cáo có quyền xuất hiện trong phiên ṭa xét xử và có luật sư bào chữa. Bị cáo hoặc luật sư bào chữa có quyền kiểm tra chéo với nhân chứng, tuy nhiên, có những báo cáo tin cậy cho biết bị cáo không được phép biết bằng chứng của Chính phủ trước khi xét xử, kiểm tra chéo với nhân chứng hoặc phản đối các lời khai. Các luật sư cho biết họ thường có ít thời gian trước khi xét xử để kiểm tra bằng chứng sẽ được đưa ra buộc tội thân chủ của họ. Những người bị kết tội có quyền kháng án. Ṭa án không công bố nội dung các phiên ṭa.

Chính phủ tiếp tục bỏ tù những người bày tỏ một cách ḥa b́nh những quan điểm tôn giáo và chính trị có tính đối lập. Không thể ước tính số lượng chính trị phạm v́ Chính phủ thường không công khai những vụ bắt bớ, bác bỏ khái niệm tù nhân chính trị và tôn giáo, và đôi khi tiến hành xử và tuyên án kín. Được biết có 14 tù nhân bị giam giữ v́ các lư do chính trị và 21 tù nhân bị giam giữ v́ các lư do tôn giáo. Các nguồn khác ước tính con số đó có thể c̣n cao hơn. Trong số những người bị cho là đang bị tạm giam hoặc đang ở trong tù có bác sĩ Nguyễn Đan Quế, đại tá Phạm Quế Dương, Trần Văn Khuê, Trần Dũng Tiến, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh, Nguyễn Đ́nh Huy (có tin ông này đang bị bệnh Parkinson), Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, nhà báo Phạm Thái, và những người hoạt động tôn giáo như cha Nguyễn Văn Lư, Ngô Văn Thông, Phạm Minh Trí, Lê Minh Triết, Nguyễn Châu Lang, Trương Văn Đức, Bùi Văn Huệ, Đinh Trỗi, Phạm Văn Tường, Hồ Văn Trọng, Ha Hai, Thích Thiện Minh, Nguyễn Thiện Phụng, Nguyễn Văn Lia, Lư A Hu và Lư A Cho.

Chính phủ đă ân xá cho ít nhất 750 tù nhân trong năm qua, nhưng được biết là không có tù nhân chính trị hay tôn giáo nào trong số đó, tuy nhiên Chính phủ đă giảm án cho ít nhất là 4 tù nhân chính trị trong năm qua.

Chính phủ cho rằng họ không giam giữ bất kỳ tù nhân chính trị hay tôn giáo nào và những người được cho là tù nhân chính trị đă bị kết tội vi phạm luật an ninh quốc gia hoặc các luật h́nh sự chung khác. Tháng 2, trước Tết Âm lịch, chính quyền địa phương đă trả tự do hoặc giảm án cho 246 tù nhân ở các nhà tù Chí Ḥa và Bo La của Thành phố Hồ Chí Minh v́ đă cải tạo tốt. Nhân ngày Quốc khánh 2/9, chính quyền địa phương đă ân xá thêm 544 tù nhân ở Hà Nội, Hải Pḥng, và Thành phố Hồ Chí Minh, trả tự do cho 120 người trước thời hạn và giảm án cho số c̣n lại từ hai tháng đến hai mươi tháng. Bộ Ngoại giao cho biết không ai trong số những người được ân xá nằm trong danh sách những người được quan tâm của các chính phủ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân đạo tiếp xúc với tù nhân chính trị.

f. Can thiệp tùy tiện vào sinh hoạt riêng tư, gia đ́nh, chỗ ở hoặc thư tín

Hiến pháp qui định quyền riêng tư về chỗ ở và thư từ; tuy nhiên, Chính phủ rất hạn chế quyền này. Đăng kư hộ khẩu và hệ thống dân pḥng theo cụm dân cư h́nh thành nhằm theo dơi mọi công dân nhưng mức độ và cường độ lại giảm hơn so với trước đây và thường không gây ảnh hưởng đến phần lớn người dân. Chính quyền nói chung tập trung vào những đối tượng bị coi là có quan điểm chỉ trích Chính phủ hoặc những người bị nghi ngờ là dính líu đến các hoạt động chính trị hoặc tôn giáo bị cấm. Công dân được yêu cầu đăng kư với cảnh sát khi họ rời nơi cư trú, ở qua đêm tại một địa điểm khác, hoặc khi họ thay đổi nơi ở mặc dù việc này thường bị vi phạm, tuy nhiên, Chính phủ dường như đă tăng cường thực thi những yêu cầu này ở một số huyện ở Tây Nguyên và các tỉnh tây bắc. Ngày 18/8, cảnh sát đă áp dụng quy định này để đi vào một nhà thờ Tin lành tại gia bất hợp pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến một vụ căi lộn và kết quả là 2 người đứng đầu nhà thờ bị giam giữ trong một thời gian ngắn. Phần lớn người dân muốn đi lại trong nước để t́m việc làm hoặc đi thăm gia đ́nh và bạn bè đều có thể làm mà không bị theo dơi, và phần lớn các gia đ́nh v́ muốn t́m việc làm mà phải rời đến những nơi khác đều không cần xin phép chính phủ (xem Phần 2.d). Vẫn c̣n có tin rằng những gia đ́nh "di cư tự phát" không thể đăng kư hộ khẩu hoặc lấy giấy phép cư trú ở những nơi ở mới, gặp nhiều vấn đề pháp lư và hành chính. Ở khu vực đô thị, phần lớn người dân vẫn tự do tiếp xúc và làm việc với người nước ngoài. Về lư thuyết, Chính phủ yêu cầu những công dân làm việc cho các tổ chức nước ngoài phải được thẩm tra và tuyển dụng thông qua một công ty dịch vụ của nhà nước. Luật điều chỉnh các doanh nghiệp nước ngoài th́ rộng răi hơn. Trên thực tế, nhiều tổ chức nước ngoài, kể cả các phái đoàn ngoại giao, và doanh nghiệp nước ngoài tự thuê người cho họ và "đăng kư" những người này với công ty dịch vụ giới thiệu việc làm.

Về lư thuyết, việc dùng vũ lực để đột nhập vào nhà riêng là không được phép nếu không có lệnh của Viện Kiểm sát, tuy nhiên, trên thực tế, lực lượng an ninh hiếm khi tuân thủ yêu cầu này mà thường "yêu cầu" cho phép họ vào nhà với ngầm ư đe dọa là cần phải hợp tác. Trong một số trường hợp, người dân đă từ chối hợp tác trước những "yêu cầu" như vậy. Ở khu vực đô thị, lực lượng an ninh nói chung thường bỏ đi khi không nhận được sự hợp tác. Trong một trường hợp xảy ra đầu tháng 10, các sỹ quan an ninh đi vào một ngôi nhà ở tỉnh Gia Lai mà không được phép, tại đó, một nhà ngoại giao nước ngoài đang tiến hành phỏng vấn lănh sự. Các sỹ quan an ninh đă quấy rối những người sống trong ngôi nhà và sau đó ngăn không cho quan chức lănh sự nêu trên vào các ngôi nhà ở tỉnh Đắc Lắc.

Chính phủ đă mở và kiểm duyệt thư từ của các đối tượng mục tiêu, tịch thu bưu kiện và thư từ, và theo dơi các cuộc nói chuyện điện thoại và thông tin truyền qua fax. Chính phủ cắt đường dây điện thoại của một số đối tượng nhất định và liên tục làm ngắt dịch vụ điện thoại di động của họ. Việc làm này xem ra lẻ tẻ và không áp dụng thống nhất. Chính phủ theo dơi thư điện tử, t́m mật khẩu nhạy cảm và quản lư nội dung Internet (xem Phần 2.a).

Chính phủ không ép buộc tái định cư; tuy nhiên, nguồn tin đáng tin cậy cho biết Chính phủ buộc những tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số ở các tỉnh tây bắc và Tây Nguyên phải rời khỏi nơi ở mà không chuẩn bị nơi ở mới cho họ. Chính phủ c̣n tái định cư cho một số người để chuẩn bị xây dựng các công tŕnh hạ tầng cơ sở. Theo luật, công dân được bồi thường trong những trường hợp tương tự nhưng khiếu nại xảy ra ở khắp nơi, kể cả từ chính Quốc hội, cho rằng việc bồi thường không thỏa đáng hoặc bị chậm. Chính phủ đă thừa nhận đă có các vấn đề trong các chương tŕnh tái định cư trước đây.

Chính phủ thực hiện tổng động viên toàn diện đối với nam giới. Có trường hợp được miễn do không đủ sức khỏe, và sinh viên nói chung được hoăn cũng giống như những trường hợp đặc biệt khác. Những người được hoăn rất hiếm khi bị gọi đi làm nghĩa vụ quân sự. Không biết có sự khác nhau về tỷ lệ động viên giữa các dân tộc thiểu số hay không.

Tư cách hội viên của công dân trong các tổ chức quần chúng vẫn mang tính tự nguyện nhưng thường quan trọng đối với sự phát triển nghề nghiệp. Tư cách Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là một sự hỗ trợ đối với sự thăng tiến trong các cơ quan của Chính phủ và doanh nghiệp nhà nước và có tính chất quyết định đối với việc đề bạt lên các vị trí cao hơn trong Chính phủ. Đồng thời, sự đa dạng hóa thành phần kinh tế khiến cho việc là Đảng viên trong các tổ chức quần chúng do Đảng lănh đạo và trong Đảng Cộng sản Việt Nam giảm bớt ư nghĩa về vấn đề thu nhập và phúc lợi xă hội. Các đảng phái chính trị đối lập không được phép hoạt động.

Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đ́nh, khuyến khích các gia đ́nh có không quá hai con; chính sách này nhấn mạnh yếu tố cổ vũ chứ không ép buộc. Về nguyên tắc, Chính phủ có thể xét không đề bạt hoặc nâng lương cho những công chức có nhiều hơn hai con. Các quy định sửa đổi bổ sung về kế hoạch hóa gia đ́nh được thông qua trong năm không cho phép phạt; các quan chức khẳng định các h́nh thức phạt chưa bao giờ là một phần chính thức của chính sách kế hoạch hóa gia đ́nh.

Năm 2001, thân nhân của một số người có quan điểm chính trị khác với Chính phủ đă mất việc làm tại các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên, phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều t́m được công việc tương đương hoặc tốt hơn tại các công ty tư nhân. Không có thông tin ǵ về những trường hợp tương tự có xảy ra trong năm 2002 hoặc 2003 hay không.

Chính phủ can thiệp vào việc phân phối các sách báo nước ngoài và tiếp cận truyền h́nh qua vệ tinh (xem Phần 2.a).

PHẦN 2: TÔN TRỌNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN SỰ, GỒM:

a. Quyền tự do ngôn luận và báo chí

Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí; tuy nhiên, Chính phủ hạn chế đáng kể những quyền tự do này trên thực tế, nhất là đối với quyền tự do ngôn luận về chính trị và tôn giáo. Chính phủ áp dụng nhiều điều khoản về an ninh quốc gia và chống xuyên tạc quy định trong Hiến pháp và Bộ luật H́nh sự để ngăn chặn mạnh mẽ các quyền tự do đó. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ, và các tổ chức xă hội nằm dưới sự kiểm soát của Đảng kiểm soát tất cả các cơ quan báo chí, cả báo in lẫn báo điện tử. Chính phủ giám sát thông qua Bộ Văn hóa và Thông tin, bổ sung cho sự giám sát này là định hướng của Đảng và luật về an ninh quốc gia có nội dung đủ rộng để bảo đảm rằng các cơ quan báo chí trong nước tự kiểm duyệt chính họ. Trong năm qua, tổ chức NGO quốc tế Nhà báo Không Biên giới khẳng định Việt Nam là một trong 10 nước đàn áp tự do báo chí nhất thế giới.

Luật báo chí quy định nhà báo phải bồi thường bằng tiền cho những cá nhân hay tổ chức bị tổn hại do các bài báo của họ, dù những bài đó có đúng sự thật đi nữa. Các nhà quan sát lưu ư rằng luật này hạn chế phạm vi phóng sự điều tra. Một số báo đài tiếp tục thử mức hạn chế báo chí của chính phủ bằng cách in các bài báo phê phán các hành động của các quan chức Đảng và Chính phủ; tuy nhiên, quyền tự do phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam và giới lănh đạo cao cấp vẫn bị cấm. Tuy nhiên trong năm qua, có một số bài báo về những chủ đề thường được coi là nhạy cảm như vụ truy tố các quan chức cấp cao của Đảng trong phiên ṭa xử trùm tội phạm Năm Cam. Chính phủ yêu cầu các quan chức phải xin phép bộ chủ quản trước khi cung cấp thông tin cho phóng viên nước ngoài. Các nhà báo phải được sự đồng ư của ban biên tập trước khi cung cấp thông tin.

Đảng và Chính phủ chấp nhận việc thảo luận công khai một số chủ đề và phần nào đó cho phép có nhiều lời chỉ trích hơn trước. Luật này cho phép công dân góp ư công khai hơn về một chính phủ yếu kém, thủ tục hành chính, tham nhũng và chính sách kinh tế. Các nhà lănh đạo cấp cao của Chính phủ và Đảng đă đi thăm một vài tỉnh cố gắng giải quyết những lời than phiền của nhân dân. Tuy nhiên, vào ngày 29/1, Ṭa án Nhân dân Hà Nội đă kết án tù bốn người từ 24 đến 42 tháng tù sau khi họ phổ biến khắp 61 tỉnh và Quốc hội các lá thư tố cáo chính sách giải phóng mặt bằng địa phương. Ngày 22/8, ṭa án tỉnh Đồng Nai đă kết án 4 người từ 30 đến 42 tháng tù v́ xúi giục nông dân khiếu nại chính sách đất đai của tỉnh.

Chính phủ tiếp tục cấm tự do ngôn luận thẩm vấn vai tṛ của Đảng, chỉ trích các cá nhân lănh đạo của chính phủ, thúc đẩy chủ nghĩa đa nguyên và dân chủ đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách của chế độ về các vấn đề nhạy cảm như nhân quyền hay hiệp ước biên giới với Trung Quốc. Ranh giới vẫn c̣n tuỳ tiện giữa cái gọi là phát biểu kín về vấn đề nhạy cảm mà chính quyền sẽ chấp nhận và phát biểu công khai trong những lĩnh vực mà họ không cho phép. Ngày 17 tháng 3, cảnh sát đă bắt giam nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Dân Quế về tội gián điệp v́ đă cung cấp thông tin cho các phóng viên nước ngoài. Cuối năm, ông vẫn bị giam ở Thành phố Hồ Chí Minh, và gia đ́nh ông không được phép đến thăm. Ngày 18/6, Ṭa án Hà Nội đă kết án Bác sĩ Phạm Hồng Sơn 13 năm tù và 3 năm quản thúc trong một phiên ṭa kín về tội gián điệp sau khi ông dịch một số bài báo tiếng Anh về dân chủ và đưa lên mạng Internet. Ngày 26/8, phiên ṭa phúc thẩm giảm án c̣n 5 năm. Năm 2002, cảnh sát thường xuyên triệu tập thẩm vấn nhà hoạt động dân chủ và là cựu nhà báo Nguyễn Vũ B́nh. Ông bị cảnh sát theo dơi trong nhiều tuần trước khi bị triệu tập thẩm vấn lại và bị giam năm 2002. Ngày 31/12, ông ra ṭa và bị kết tội “gián điệp” và bị kết án 7 năm tù và 3 năm quản thúc (Xem Phần 1.d). Năm 2001, nhà sinh học Hà Sỹ Phu trước đó được xóa tội phản quốc, bị tù treo v́ đă viết các bài báo kêu gọi dân chủ. Án treo của ông kết thúc vào tháng 3.

Kể từ năm 2001, một số nhà hoạt động dân chủ đă bị cắt các đường dây điện thoại liên lạc. Năm 2002, trước khi bị giam vào tháng 12/2002, Đại tá về hưu Phạm Quế Dương đă được triệu hồi để thẩm vấn trong nhiều ngày liên tiếp và điện thoại di động của ông đă bị cắt ít nhất ba lần trong năm đó. Tháng 12/2002, cảnh sát giam ông Dương ở Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi ông đi thăm nhà hoạt động Trần Văn Khuê. Một ngày sau, cảnh sát đến nhà Khuê, bắt giam ông và tịch thu máy tính và các đồ đạc khác. Khuê và Dương coi ḿnh là người phát ngôn cho một số nhà hoạt động khác. Cả Khuê và Dương đều bị tạm giam vào cuối năm. Trước khi bị bắt ngày 18/3, Nguyễn Dân Quế tiếp tục kêu gọi dân chủ và tôn trọng nhân quyền, nhưng chính quyền can thiệp khả năng liên lạc của ông bằng cách liên tục cắt điện thoại di động của ông, cắt điện thoại để bàn, và hạn chế ông vào Internet và email trong hai năm. Cảnh sát theo dơi ông chặt chẽ và thỉnh thoảng thẩm vấn ông trước khi bị bắt vào tháng 3. Quế đang bị tạm giam vào cuối năm.

Ngày 17/7, chính phủ giảm 5 năm trong án tù 15 năm của Cha Thaddeus Nguyễn Văn Lư năm 2001 v́ “phá hoại đoàn kết dân tộc”. Năm 2001, Cha Lư đă gửi bản tường tŕnh phê phán Chính phủ cho Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế và thường xuyên kêu gọi đa nguyên chính trị và tự do tôn giáo hoàn toàn. Ngày 10/9, Ṭa án Thành phố Hồ Chí Minh đă kết án cháu gái của Cha Lư là Nguyễn Thị Hoa và hai cháu trai là Nguyễn Trúc Cường và Nguyễn Vũ Việt mức án từ 3 đến 5 năm tù v́ cung cấp thông tin về các hoạt động của ông cho phóng viên nước ngoài. Ngày 28/11, Ṭa phúc thẩm Thành phố Hồ Chí Minh đă giảm mức án của ba người này và nay đă được thả. Chính phủ đă hạn chế những người thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức phát biểu công khai về đức tin của họ (Xem Phần 2.c).

Một số người bày tỏ các quan điểm khác nhau đối với các vấn đề về tôn giáo hoặc chính trị không được phép đi ra nước ngoài (xem Phần 2.d).

Các bản báo cáo về t́nh h́nh tham nhũng và quản lư yếu kém của các quan chức cấp cao của chính phủ đă được xuất bản nhiều hơn trong những năm gần đây. Các tờ báo địa phương dành nhiều bài viết về phiên ṭa xét xử băng đảng tội phạm có tổ chức Năm Cam có liên quan đến ba quan chức cao cấp của chính phủ, hai trong số đó đă từng là Ủy viên của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản trước khi bị cách chức năm 2002. Chính phủ giám sát chặt chẽ hơn những thông tin này khi nhận thấy rằng vụ việc càng ngày càng có nhiều người để ư và phát hiện quá nhiều điểm nhạy cảm. Nhiều tờ báo đă phớt lờ những chỉ thị của Chính phủ không tường thuật lại vụ việc này, kết quả là họ đă phải nhận những lời kiển trách mạnh mẽ hơn của Chính phủ. Trong năm qua, tổng biên tập tờ Tuổi trẻ đứng đầu tờ báo trong thời gian đưa tin về phiên ṭa Năm Cam, đă bị thuyên chuyển sang nhóm quản lư địa ốc của tờ báo.

Năm 2002, Chính phủ đă chỉ trích phóng viên về việc bị coi là đưa tin giật gân về một vụ hoả hoạn lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12/2002, Bộ Văn hóa Thông tin đă thông báo quyết định thu hồi thẻ phóng viên của bốn phóng viên. Ba người là Trần Ngọc Tuấn của báo Tiền Phong, Đặng Thanh Hải của báo Thanh Niên, và Nguyễn Minh Sơn của báo Người Lao Động đă đưa ra những thông tin mà theo Chính phủ là những thông tin không đúng về việc cảnh sát Đà Nẵng đánh người dân đến mức bị thương rất nặng. Người thứ tư là Bùi Ngọc Cái của báo Gia đ́nh và Xă hội, đă tường thuật lại rằng một viên cảnh sát trưởng đă tuyên bố rằng Chính phủ có thể trừng phạt các quan chức của Chính phủ ở cấp bộ v́ tham nhũng. Tất cả bốn nhà báo đều phải trả thẻ nhà báo lại cho cơ quan vào tháng 10.

Năm 2002, Chính phủ bất ngờ cầm báo chí đến dự Hội nghị Khoa học do nước ngoài tài trợ về Tác động Môi trường và Sức khoẻ con người của Chất độc màu da cam ở Hà Nội. Chính phủ không cho phép các nhà báo nước ngoài đến dự các phiên họp và cấm các nhà báo trong nước dự phiên khai mạc và bế mạc. Cuối năm, khoảng 1 năm rưỡi sau, các bài tham luận hội nghị vẫn chưa được dịch hay phổ biến.

Chính phủ thường yêu cầu việc xuất bản tôn giáo phải qua một nhà xuất bản tôn giáo của nhà nước; tuy nhiên, một số nhóm tôn giáo có thể in tài liệu của họ hoặc nhập tài liệu với sự cho phép của Chính phủ (xem Phần 2.c).

Các tạp chí định kỳ bằng tiếng nước ngoài có bán tràn lan ở các thành phố, tuy nhiên Chính phủ thỉnh thoảng mới kiểm duyệt các bài báo viết về t́nh h́nh đất nước. Chính phủ đôi khi không cho phép bán một tạp chí nước kỳ nước ngoài một cách ngang nhiên v́ có những bài báo về những vấn đề nhạy cảm. Nói chung, Chính phủ không hạn chế việc tiếp cận các đài phát thanh quốc tế, chỉ trừ Đài Tự do châu Á và Tập đoàn Truyền thông Viễn Đông tiếp tục bị làm nhiễu sóng.

Các nhà báo nước ngoài phải được sự chấp thuận của Trung tâm Báo chí của Bộ Ngoại giao và phải có trụ sở ở Hà Nội. Số lượng nhân viên làm việc trong cơ quan truyền thông nước ngoài bị hạn chế, và hầu hết những nhân viên ở nước sở tại làm việc cho cơ quan truyền thông nước ngoài là do Bộ Ngoại giao cung cấp. Trung tâm Báo chí giám sát hoạt động của các nhà báo và quyết định trong từng trường hợp cụ thể có chấp thuận cho họ phỏng vấn, chụp ảnh, quay phim hay đề nghị được đi lại hay không, tất cả đề nghị này phải nộp trước đó năm ngày. Trung tâm Báo chí đă từ chối một số đề nghị được đi lại, đặc biệt là lên Tây Nguyên, mặc dù có cho phép hai nhóm nhà báo lên Tây Nguyên trong năm qua. Theo luật, các nhà báo nước ngoài có thể gửi tất cả các câu hỏi của họ lên các cơ quan của Chính phủ thông qua Bộ Ngoại giao, tuy nhiên thực tế việc thực hiện lại không hoàn toàn như vậy. Các nhà báo nước ngoài thường nhận được thị thực sáu tháng. Một nhà báo đă không thể gia hạn thêm thị thực trong năm 2002 và hai nhà báo được gia hạn thị thực ngắn hơn mức b́nh thường trong năm 2001. Trong năm qua không có tin về chuyện này.

Trong những năm qua, Chính phủ kiểm duyệt chương tŕnh truyền h́nh và thỉnh thoảng tạm dừng chiếu chương tŕnh này trong một vài ngày. Trong năm 2002 và năm nay, không ai biết việc này đă xảy ra, mặc dù các quy định tiếp tục cho phép Chính phủ kiểm duyệt chương tŕnh đó. Luật pháp hạn chế việc tiếp cận truyền h́nh qua vệ tinh, chỉ cho phép các quan chức cấp cao, người nước ngoài, khách sạn sang trọng và báo chí được tiếp cận. Tuy nhiên, Luật này đă không được thực thi một cách đồng bộ, và nhiều người ở vùng đô thị và một số vùng nông thôn xem các chương tŕnh ti vi đă qua kiểm định bằng thiết bị vệ tinh lắp đặt tại nhà. Năm 2002, do các chảo vệ tinh được lắp đặt để xem Cúp Bóng đá Thế giới ngày càng nhiều, Chính phủ đă ban hành một Nghị định mới nhằm thực thi yêu cầu này chặt chẽ hơn, tuy nhiên, đến cuối năm đó vẫn chưa thực hiện được.

Chính phủ kiểm duyệt các cuộc triển lăm nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác. Tuy nhiên, Chính phủ cho phép nghệ sỹ có nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn chủ đề để sáng tác so với những năm trước, mặc dù nghệ sỹ không được phép triển lăm các tác phẩm mà bên kiểm duyệt cho là phê phán hoặc châm biếm Chính phủ hoặc Đảng. Nhiều nghệ sỹ được phép triển lăm tác phẩm của ḿnh ở nước ngoài, được phép gửi tác phẩm của ḿnh đi dự triển lăm và được phép gửi tác phẩm của ḿnh ra nước ngoài.

Một số ấn phẩm in bằng tiếng nước ngoài của một vài cuốn sách bị cấm như cuốn “Kư ức Mùa xuân Tinh khiết” của Dương Thu Hương được những người bán dạo công khai, bản tiếng Việt của cuốn “Nỗi buồn chiến tranh”trước đây bị cấm của Bảo Ninh được bày bán trong các cửa hàng sách. Có một ngoại lệ đáng chú ư, báo chí khởi động một chiến dịch tố cáo diễn viên nổi tiếng Đơn Dương v́ vai diễn anh ta đóng trong phim “Rồng xanh” và “Chúng ta là người lính”. Báo chí mô tả người nghệ sỹ này là một kẻ phản bội và kêu gọi bắt giữ và giam cầm anh ta. Chính phủ cũng không cho phép diễn viên Đơn Dương đi nước ngoài trong năm này (Xem Phần 2.d); tuy nhiên, cuối cùng chính phủ cho phép anh và gia đ́nh di cư sang Mỹ.

Chính phủ cho phép tiếp cận với mạng Internet thông qua 6 nhà cung cấp Truy cập Internet (IXP) và 13 Nhà Cung cấp Dịch vụ Internet (ISP); tuy nhiên, tất cả IXP đều của Nhà nước hoặc là các công ty cổ phần với Nhà nước là cổ đông kiểm soát. Tất cả IXP đều thuê truy cập Internet thông qua nhà cung cấp truy cập lớn nhất nước là Công ty Truyền thông Dữ liệu Việt Nam (VDC). Bộ Bưu chính Viễn thông đă báo cáo rằng số thuê bao Internet trong nước 650.000 thuê bao và khoảng 2.660.000 người sử dụng Internet. Giá của máy tính so với mức thu nhập trong nước đă hạn chế dùng mạng tại nhà. Tuy nhiên, các trường đại học và khoảng 4.000 quán cà phê mạng làm tăng số lượng sinh viên và nhiều người khác truy cập mạng.

Chính phủ ủy quyền cho VDC giám sát các trang Web mà thuê bao truy cập. Chính phủ dùng các bức tường lửa nhằm khóa những địa chỉ có vẻ không thích hợp về chính trị và văn hóa, bao gồm các trang Web của các nhóm lưu vong nước ngoài. Chính phủ hạn chế truy cập các trang Web của Đài châu Á Tự do và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ trong năm qua. Năm 2002, Chính phủ đă chỉ thị cho chủ các quán cà phê mạng giám sát khách hàng của họ để hạn chế họ truy cập địa chỉ có tài liệu chống chính phủ và khiêu dâm; tuy nhiên, sự giám sát này có vẻ không phổ biến lắm.

Tháng 8/2002, Chính phủ đă kiểm tra rất nhiều quán cà phê Internet xem họ có truy cập những trang Web bị cấm không. Cũng trong tháng 8, Chính phủ đă đóng cửa một công ty cung cấp thông tin trên mạng v́ công ty này đă có những bài báo không được phép đăng theo Luật Báo chí. Năm 2002, Chính phủ yêu cầu tất cả chủ sở hữu các trang Web trong nước, kể cả những trạng mạng do chủ thể nước ngoài vận hành, đăng kư trang Web của họ với Chính phủ và đệ tŕnh nội dung trang Web để Chính phủ phê duyệt.

Chính phủ hạn chế tự do học thuật, và các nhà nghiên cứu nước ngoài thường bị thẩm tra và theo dơi. Tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục cho phép tự do thông tin nhiều hơn những năm trước, thông tin trong nước cũng như thông tin từ nước ngoài về, kể cả trong hệ thống các trường đại học. Các thủ thư ngày càng được đào tạo chuyên nghiệp và theo tiêu chuẩn quốc tế như Hệ Thập phân Dewey hỗ trợ trao đổi thông tin và thư viện quốc tế và nghiên cứu. Các giáo sư nước ngoài làm việc tạm thời tại trường đại học được phép thảo luận những vấn đề phi chính trị rộng răi hơn và tự do hơn trong lớp học. Tuy nhiên, những người giám sát của chính phủ thường xuyên đến dự các lớp học do cả giáo viên nước ngoài và trong nước dạy. Các tài liệu thông tin của chính phủ nước ngoài không có tính chính trị phát cho các đại biểu tại một hội thảo về thư viện ở Huế đă bị an ninh tịch thu. Một số viện nghiên cứu cho rằng các giảng viên của họ được phép tham gia các chương tŕnh chuyên nghiệp chính thức tại các cơ sở ngoại giao hoặc sử dụng các cơ sở nghiên cứu ngoại giao. Các nhân viên an ninh thường thẩm tra những người thường sử dụng cơ sở ngoại giao về mối quan hệ của họ với các chính phủ nước ngoài. Tuy nhiên yêu cầu về tài liệu từ các viện nghiên cứu nước ngoài đang tăng lên. Các ấn phẩm học thuật thường phản ánh quan điểm của Đảng và Chính phủ.

b. Quyền tự do hội họp và lập nhóm

Quyền hội họp bị luật hạn chế và thực tế, Chính phủ hạn chế và giám sát tất cả các h́nh thức biểu t́nh công khai. Những người muốn tụ tập thành từng nhóm được yêu cầu phải xin được giấy phép, điều này chính quyền địa phương có thể cấp hoặc từ chối tùy tiện. Nh́n chung, Chính phủ không cho phép những cuộc biểu t́nh bị coi như là do mục đích chính trị. Người dân thường tụ tập thành từng nhóm không chính thức mà không có sự can thiệp của Chính phủ; tuy nhiên, chính phủ hạn chế quyền của một số nhóm tôn giáo được tụ tập thờ cúng. Chính phủ đă xét xử và kết án một số người v́ phản đối chính sách sử dụng đất và thu hồi đất (xem Phần 2.a).

Tháng 2 và 3, có nhiều cuộc biểu t́nh ḥa b́nh, hầu hết là sinh viên, được tổ chức đối diện một sứ quán nước ngoài ở Hà Nội. Cảnh sát đă duy tŕ trật tự nhưng không can thiệp hay yêu cầu giấy phép.

Ngày 23/4, hai người đàn ông bị kết án tù ở Thành phố Hồ Chí Minh v́ “gây rối trật tự xă hội” và phá hoại tài sản nhà nước v́ xúi giục một chục người tấn công một văn pḥng giải phóng mặt bằng trong một tranh chấp về thu hồi đất.

Tháng 10, một ṭa án tỉnh Đắc Lắc ở Tây Nguyên đă kết án 4 người dân tộc thiểu số bị bắt v́ liên quan đến vụ bạo loạn năm 2001 ở Tây Nguyên là Y Kuo Bya, Y He E Ban, Y Jon Enuol, và Y Bri Enuol với mức án tù là 13, 12, 11 và 10 năm.

Năm 2002 và trong năm qua, có nhiều cuộc biểu t́nh ḥa b́nh lên đến 50 người, hầu hết là phụ nữ nông dân lớn tuổi, về vấn đề sử dụng đất. Các cuộc biểu t́nh diễn ra bên ngoài các trụ sở của chính phủ và Đảng, nhà riêng của Thủ tướng, và Hội trường Quốc hội ở Hà Nội. Có một lần cảnh sát cương quyết nhưng nhẹ nhàng và tôn trọng đưa những người biểu t́nh ra khỏi nhà ở của Thủ tướng.

Tháng 12/2002, Ṭa án tỉnh Nam Định đă kết án 10 người tù từ 18 tháng đến 5 năm v́ vai tṛ của họ trong các cuộc biểu t́nh năm 2000 liên quan đến tham nhũng và thuế sử dụng đất nông nghiệp. Cũng trong tháng 12/2002, Ṭa án tỉnh Hà Tây đă kết án 22 người từ 6 tháng đến 9 năm tù v́ tham gia vào cuộc biểu t́nh tháng 4/2002 về tranh chấp đất đai và tham nhũng.

Tháng 12/2002, có tin cảnh sát đă cương quyết giải tán các cuộc họp tôn giáo của người Thiên chúa H'mong (xem Phần 2.c).

Tháng 11/2002, hàng trăm nông dân đă xung đột với chính quyền địa phương Hà Tây về thu hồi đất và làm bị thương 6 hay 7 cảnh sát. Không biết là có phiên ṭa nào liên quan đến vụ này.

Chính phủ hạn chế quyền tự do lập hội. Chính phủ cấm thành lập hợp pháp các tổ chức cá nhân độc lập, nhấn mạnh rằng cá nhân làm việc với các tổ chức do đảng lănh đạo thường được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam che chở. Công dân bị cấm không được thành lập các tổ chức độc lập như đảng chính trị, công đoàn, và các tổ chức tôn giáo và cựu chiến binh. Tuy nhiên, một số tổ chức, đặc biệt là các nhóm tôn giáo chưa đăng kư, vẫn có thể hoạt động ngoài khuôn khổ này mà không có hoặc có rất ít sự can thiệp của Chính phủ (xem Phần 2.c).

Tháng 9/2001, Trần Văn Khuê và đại tá Phạm Quế Dương đă gửi thư lên ban lănh đạo Đảng và Chính phủ yêu cầu cấp giấy phép để thành lập “Hội Nhân dân để hỗ trợ Đảng và Chính phủ đấu tranh chống tham nhũng”. Cảnh sát đă đưa Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân từ Hà Nội về nhà của họ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội Nhân Dân sau đó đă cho ra đời trang Web mà không bị Chính phủ ngăn chặn, bao gồm thông tin liên lạc, đơn kiến nghị, các tài liệu khác do nhiều nhà hoạt động dân chủ, và bảng thông báo mà một số cá nhân báo cáo lại các phản ứng của họ với đề xuất. Tháng 10/2002, Chính phủ cũng áp đặt lệnh quản chế hành chính trong hai năm, một dạng quản thúc. Tháng 12/2002, Khuê bị bắt và ông vẫn đang chờ xét xử vào cuối năm.

c. Quyền tự do tôn giáo

Cả Hiến pháp và các nghị định của Chính phủ quy định quyền tự do tín ngưỡng; tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng kể các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo mà chính phủ tuyên bố là không phù hợp với luật và chính sách của nhà nước.

Theo nguồn tin đáng tin cậy, cảnh sát bắt giữ một cách tùy tiện người dân chỉ v́ hoạt động và đức tin tôn giáo của họ, đặc biệt là ở vùng núi và dân tộc thiểu số. Một vài nguồn tin đáng tin cậy cho hay người H’mong theo đạo Tin Lành tại một số làng ở vùng Tây Bắc và nhiều người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đă bị gây sức ép hoặc bị buộc phải công khai từ bỏ đức tin của họ. Cũng có những nguồn tin rằng một số người theo đạo Tin Lành ở những khu vực này bị đánh và bị giết (xem Phần 1.a).

Chính phủ đă yêu cầu các nhóm tôn giáo phải đăng kư và đă sử dụng quá tŕnh này để kiểm tra và giám sát các tổ chức nhà thờ. Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức tôn giáo của đạo Phật, Thiên chúa, Tin Lành, Ḥa Hảo, Cao Đài và đạo Hồi. Để được chính thức công nhận, nhóm đó phải được Chính phủ chấp thuận về ban lănh đạo và phạm vi hoạt động chung. Quy tŕnh chấp thuận của chính phủ rất chậm và không minh bạch. Các tổ chức tôn giáo được công nhận chính thức có thể hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau trên cả nước, và những người theo tổ chức tôn giáo này có thể hành đạo mà không bị chính phủ quấy rầy, trừ ở một số tỉnh xa xôi. Các tổ chức tôn giáo được công nhận chính thức này phải tham vấn với chính phủ về hoạt động tôn giáo của họ, cho dù không phải là giáo lư về đức tin. Một số nhà lănh đạo của tổ chức tôn giáo của đạo Phật và Ḥa Hảo trước năm 1975 đă không nhận được giấy công nhận chính thức cho tổ chức của họ. Các hoạt động của họ, và hoạt động của các nhà thờ chưa đăng kư của đạo Tin Lành bị chính quyền coi là bất hợp pháp, và dẫn đến việc thỉnh thoảng họ bị quấy nhiễu. Chính phủ tích cực hạn chế tiếp xúc giữa UBCV bất hợp pháp với những tín đồ Phật giáo nước ngoài ủng hộ UBCV, và giữa các tổ chức đạo Tin Lành không chính thức, như các nhà thờ bí mật, và những người nước ngoài ủng hộ, tuy vậy những cuộc tiếp xúc như vậy vẫn c̣n tiếp tục.

Chính phủ nh́n chung vẫn cho phép người dân được hành đạo theo tín ngưỡng mà họ đă chọn, và sự tham gia vào các hoạt động tôn giáo trên toàn quốc ngày càng tăng mạnh. Tại một số khu vực và Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức địa phương thường cho phép các tổ chức tôn giáo không đăng kư được tổ chức hành lễ mà không bị hoặc ít bị quấy rầy.

Trong một số trường hợp, đặc biệt đối với người theo đạo Tin Lành H’mong, khi chính quyền quy cho người dân tội hành đạo bất hợp pháp, họ đă áp dụng các điều khoản của Bộ luật H́nh sự quy định thời hạn bỏ tù lên đến ba năm v́ “lạm dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, hay tôn giáo”. Bộ luật H́nh sự quy định các h́nh phạt đối với tội danh “cố ư phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” bằng cách khuyến khích “chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo”. Có tin cho hay các viên chức đă giả mạo bằng chứng. Các quan chức chính phủ đă bác bỏ cáo buộc rằng các giáo hội Tin Lành bị phá hoại hay giải tán trong năm qua với cớ là các giáo hội này không đăng kư nên bất hợp pháp. Ngày 23/9, cảnh sát đă phá một nhà thờ Tin Lành nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại những tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên, viên chức địa phương cho phép các tín đồ được tự do hơn trong việc hành đạo. Chính phủ đôi khi ngăn tín đồ Tin Lành ở các tỉnh tây bắc và Tây Nguyên tụ tập làm lễ tại những nhà thờ không đăng kư, buộc họ phải làm lễ bí mật tại gia.

Chính phủ tiếp tục gây phiền nhiễu các thành viên của UBCV và ngăn chặn họ thực hiện các hoạt động tôn giáo độc lập, đặc biệt là bên ngoài các chùa chiền. Đầu tháng 3, Chính phủ cho phép Giáo chủ 83 tuổi của UBCV đi Hà Nội giải phẫu. Các quan chức chính phủ kể cả Thủ tướng Phan Văn Khải và các nhà ngoại giao nước ngoài đă tiếp xúc với ông trong thời gian này. Sau khi b́nh phục, chính phủ cho phép Giáo chủ ở lại chùa cũ của ông ở Quy Nhơn, tỉnh B́nh Định, thay v́ quay lại chùa ở tỉnh Quảng Ngăi nơi ông đă sống từ năm 1982 trong điều kiện như là bị quản thúc. Ngày 27/6, Chính phủ thả Vị phó Chủ tịch của UBCV Thích Quảng Độ sớm hơn vài tháng trong hai năm bị quản chế hành chính. Hầu hết lănh đạo của UBCV sau đó có thể gặp nhau, gặp các đại diện ngoại giao và quan chức chính phủ ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quy Nhơn dù chính phủ có can thiệp đôi chút. Tháng 9, lănh đạo UBCV họp ở B́nh Định và các thành viên coi đây là sự tái lập trên thực tế quyền tồn tại của UBCV. Cơ quan an ninh đă mời một số lănh đạo của UBCV khi rời chùa của họ và có vẻ như chỉ có thể đi lại nếu cơ quan an ninh cho phép. Ba thầy của UBCV ở Thành phố Hồ Chí Minh là Thích Tuệ Sỹ, Thích Nguyên Lư và Thích Thanh Huyền bị kết án chính thức 2 năm quản chế hành chính và “giám sát bắt buộc”.

Ban lănh đạo của Giáo hội Cơ đốc Việt Nam vẫn bất b́nh trước những hạn chế của Chính phủ nhưng đă phải học cách thích nghi với những hạn chế này. Một số tăng lữ cho biết có sự nới lỏng kiểm soát của Chính phủ về các hoạt động của giáo hội ở một số giáo xứ trong năm qua. Tại nhiều địa phương, các quan chức chính quyền địa phương đă cho phép các chức sắc tiến hành các lớp học tôn giáo (ngoài giờ học ở trường) và các hoạt động từ thiện hạn chế; tuy nhiên, ở nhiều khu vực khác, các quan chức nghiêm cấm những hoạt động này.

Hạn chế đối với chức sắc và giới tăng lữ của các nhóm tôn giáo vẫn c̣n tồn tại, và Chính phủ vẫn duy tŕ hoạt động giám sát đối với các tôn giáo đă được công nhận. Các tổ chức tôn giáo được yêu cầu phải có sự cho phép của Chính phủ để tổ chức hội nghị đào tạo, hội thảo và lễ kỷ niệm không có trong lịch tôn giáo thông thường của ḿnh, xây dựng hoặc sửa lại nơi thờ tự, tham gia vào các hoạt động từ thiện, điều hành các trường tôn giáo, và đào tạo, phong chức, thăng chức, hay luân chuyển tu sỹ. Các tổ chức tôn giáo cũng được yêu cầu phải nộp “kế hoạch thường niên” và “lên lịch kế hoạch” của họ để chính quyền địa phương thông qua. Nhiều hạn chế này phần lớn do ủy ban nhân dân thành phố và tỉnh thực hiện, và h́nh phạt đối với tín đồ tôn giáo được địa phương tiến hành rất đa dạng.

Nh́n chung các nhóm tôn giáo gặp khó khăn để có được các tài liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào tạo, và mở rộng đào tạo tu sỹ để đáp ứng như cầu ngày càng tăng của giáo đoàn; Chính phủ quy định số lượng tăng lữ có thể được đào tạo của đạo Phật, Thiên chúa, Ḥa Hảo và Cao Đài. Ngày 15/2, Chính phủ đă cho phép Hội Thánh Tin Lành miền Nam Việt Nam (SECV) chính thức được công nhận vào năm 2001, được mở trường ḍng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ hạn chế số học viên là 50 và giữ quyền chấp nhận các ứng cử viên xin học.

Giáo hội Cơ đốc gặp phải những cản trở đáng kể trong vấn đề đào tạo và lễ tôn phong các linh mục và giám mục. Chính phủ duy tŕ hiệu quả quyền phủ quyết đối với việc bổ nhiệm giám mục của Vatican; tuy nhiên, trên thực tế chính phủ tỏ ư sẵn sàng thảo luận về việc bổ nhiệm với Vatican. Tháng 8, hai giám mục Cơ đốc mới được bổ nhiệm với sự chấp thuận của chính phủ. Một được bổ nhiệm cho giáo xứ Hưng Ḥa, vị trí đă bị trống trong 11 năm qua. Với những bổ nhiệm này, chỉ c̣n một giám mục chưa có do giám mục hiện tại qua đời vào tháng 6. Tháng 10, Chính phủ cũng ngầm công nhận việc thăng Tổng giám mục Jean-Baptiste Phạm Minh Mẫn lên Hồng y Giáo chủ. Trong những năm gần đây, Chính phủ nới lỏng nỗ lực giám sát chức sắc của Giáo hội Cơ đốc bằng cách giảm nhẹ các yêu cầu rằng tất cả tăng lữ phải thuộc Hội Thiên Chúa yêu nước do chính phủ quản lư. Giáo hội Cơ đốc đă tổ chức sáu lớp học trường ḍng; tuy nhiên do chính quyền địa phương phản đối địa điểm nên một lớp khác được chấp thuận vẫn chưa học được vào cuối năm. Giáo hội Cơ đốc cũng nhận giấy phép chấp nhận học sinh trường đạo mới nhưng chỉ cấp cho từng năm. Cuối năm có khoảng 800 học sinh trên cả nước đă đăng kư theo học. Ủy ban nhân dân địa phương phải thông qua tất cả số học sinh, cả theo học trường ḍng và trước lễ tấn phong thành linh mục. C̣n nhiều học sinh tốt nghiệp lớp học trường ḍng vẫn chưa được tấn phong trong khoảng 10 năm. Nhiều nhà quan sát cho rằng số lượng linh mục được tấn phong không đủ để hỗ trợ dân số công giáo đang gia tăng.

Chính quyền đă bắt và giám sát chặt chẽ “người bất đồng chính kiến” của đạo Ḥa Hảo. Ngày 27/3, Nguyễn Văn Lia bị bắt và ngày 1/7, ông bị kết án 3 năm tù v́ tổ chức lễ kỷ niệm sự biến mất của nhà tiên tri Ḥa Hảo Huỳnh Phú Sổ. Chính phủ cho phép các tín đồ đạo Ḥa Hảo khác được tự do hành đạo. Khoảng 100 đến 200 du khách đi lễ tại tại chùa trung tâm của đạo Ḥa Hảo tại tỉnh An Giang hàng ngày. Cơ quan cảnh sát thường xuyên thẩm vấn một số người có các quan điểm chính trị và tôn giáo khác biệt, như nhà sư của UBCV và nhà lănh đạo của đạo Ḥa Hảo.

Kể từ năm 1975, Chính phủ cấm lễ tấn phong giới giáo của Cao Đài. Tuy nhiên, trong năm 2002, có ít nhất 18 linh mục mới được tấn phong và 924 học viên được tham gia vào chương tŕnh đào tạo cho giới giáo. Các linh mục khác đă được thăng chức cao hơn.

Thành viên của Hội Hồi giáo đă có thể thực hiện đức tin của ḿnh, bao gồm những người cầu nguyện hàng ngày và ăn chay trong tháng lễ Ramadan.

Chính phủ hạn chế và kiểm soát tất cả các h́nh thức tụ họp công khai, bao gồm hội họp tổ chức hoạt động tôn giáo. Các cuộc tụ họp tôn giáo lớn thường xuyên theo kế hoạch được phép tổ chức, như lễ công giáo tại La Vang và lễ Cao Đài tại tỉnh Tây Ninh. Đạo Ḥa Hảo cũng được phép tổ chức các cuộc hội họp lớn công khai để kỷ niệm buổi lễ truyền thống, nhưng những đạo khác không được phép tổ chức. Một số cuộc hội họp tôn giáo theo kế hoạch đặc biệt cũng được phép. Tuy nhiên, tháng 12/2002, có báo cáo rằng cảnh sát ở tỉnh Lai Châu cố gắng giải tán một hay nhiều nhóm tụ tập của người H’mông theo Công giáo. Tin cho hay cảnh sát đă dùng hơi ga, ít nhất là một trong những vụ việc này cảnh sát đă dùng hơi cay làm cho bốn hoặc năm người nữa phải nhập viện.

Nói chung, việc công khai tham gia theo một đức tin tôn giáo không gây khó khăn cho người dân trong cuộc sống đời thường, kinh tế và thế tục, tuy nhiên nó có thể ngăn cản bước thăng tiến vào hàng ngũ cao nhất của chính phủ và quân sự. Theo tôn giáo không c̣n là rào cản đối với việc gia nhập Đảng. Một số quan chức của Chính phủ và của đảng càng ngày càng thừa nhận rằng họ theo tập tục truyền thống và tôn giáo của đạo Phật.

Người truyền giáo nước ngoài có thể không được hoạt động trong nước, dù nhiều người tiến hành các hoạt động nhân đạo hay phát triển được Chính phủ chấp thuận.

Chính phủ thành lập một nhà xuất bản dưới sự kiểm soát của Ủy ban Tôn giáo Chính phủ để giám sát việc xuất bản tất cả tài liệu về tôn giáo. Nhiều sách kinh Phật, kinh thánh, cùng các sách và ấn phẩm tôn giáo khác được các cơ quan đă được Chính phủ cho phép in ấn và được bán hay phân phát ở các cơ quan Tôn giáo.

Chính phủ chỉ cho phép một số giáo sỹ công du v́ mục đích tôn giáo; người theo Đạo Hồi có thể hành hương về Mecca (dù năm qua không có ai v́ thiếu hỗ trợ tài chính của nước ngoài) và nhiều quan chức Phật giáo, Thiên chúa giáo và Tin Lành có thể công du và học tập ở nước ngoài. Chính phủ cho phép nhiều giám mục và linh mục đi lại tự do trong giáo phận của ḿnh, nhưng vẫn hạn chế cho phép họ được tự do đi lại hơn ngoài những khu vực này, đặc biệt ở những khu vực thiểu số. Nhiều lănh đạo giáo hội Tin Lành đi nước ngoài trong năm qua. Các quan chức chính phủ khuyến cáo tăng lữ không nên đến Sơn La, Lai Châu và một số tỉnh biên giới khác v́ các quan chức cho biết không có tín đồ tôn giáo nào ở đó. Tháng 3, hàng trăm tín đồ Ḥa Hảo đă đi Chùa Ḥa Hảo ở tỉnh An Giang để kỷ niệm lễ truyền thống mà Nhà nước không công nhận chính thức. Tháng 7/2002, có đến 300.000 người đến đó để kỷ niệm một buổi lễ khác được Nhà nước công nhận.

Những người hành đạo trong nhóm cá thể được công nhận đôi khi không được phép đi nước ngoài. Năm 2002, nhà sư UCBV Thích Thái Ḥa ở Huế không được phép đi nước ngoài trong vài dịp. Mục sư Tin Lành Nguyễn Lập Ma, và Nguyễn Nhật Thông bị cấm đi lại hay phải xin phép chính quyền để đi lại (xem Phần 2.d).

Các giáo hội Tin Lành dân tộc thiểu số không đăng kư của dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các tỉnh Tây Bắc tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng. Một số tỉnh Tây Bắc không có bất kỳ chùa chiền hay nhà thờ được công nhận chính thức nào do chính quyền cấp tỉnh không cho phép. Chính quyền ở những khu vực này được biết cũng đă bắt giam và bỏ tù những tín đồ dân tộc thiểu số v́ họ theo đuổi tín ngưỡng của ḿnh một cách ḥa b́nh và không được sự công nhận chính thức.

Một số nguồn tin cho biết có một chiến dịch rất hệ thống của các quan chức địa phương tỉnh Đak Lak và Gia Lai ở Tây Nguyên nhằm ép buộc các tín đồ Tin Lành thiểu số từ bỏ đức tin của ḿnh. Tiếp tục có tin về những chiến dịch tương tự trong năm qua ở Lai Châu, Lào Cai và các tỉnh miền núi phía Bắc khác. Do bị đe dọa xâm hại tính mạng hay tịch thu tài sản nên các tín đồ Tin Lành thiểu số bị buộc phải kư văn bản cam kết từ bỏ chính thức hay phải chịu một nghi lễ tượng trưng có uống rượu gạo trộn với máu động vật. Những người khác nếu từ chối thường không phải chịu hậu quả tiêu cực nào. Các quan chức được biết đă ra lệnh ngưng các cuộc lễ Tin Lành, cấm mục sư đi lại, thôi không phát lương thực của chính phủ cho tín đồ Tin Lành và cấm con em gia đ́nh Tin Lành đến trường học trên lớp 3. Bộ đội và cán bộ trẻ đi đến nhà một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên can thiệp vào việc hành lễ của họ.

Muốn biết thêm chi tiết xin xem Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2003.

d. Quyền tự do đi lại trong nước, đi nước ngoài, di cư và hồi hương

Hiến pháp quy định công dân “được tự do đi lại và cư trú trong nước...(và) tự do đi nước ngoài và trở về nước... phù hợp với những quy định của pháp luật”; tuy nhiên Chính phủ có một số hạn chế về tự do đi lại. Hầu hết công dân đều được tự do đi lại trong nước nhưng một số chính quyền địa phương yêu cầu thành viên các nhóm dân tộc thiểu số phải có được giấy phép khi đi ra ngoài một số khu vực ở miền núi, trong một số trường hợp khi đi ra khỏi làng ḿnh.

Tin cho hay quan các chức địa phương đă ngăn cản không chính thức giới tăng lữ đi lại, dù là trong tỉnh ḿnh. Về mặt luật pháp, các công dân phải xin phép thay đổi chỗ ở (xem Phần 1.f). Trên thực tế nhiều người tiếp tục di chuyển mà không được phép, đặc biệt là lao động di cư hay lưu động từ nông thôn lên thành thị để t́m việc làm. Tuy nhiên, di chuyển không xin phép sẽ cản trở việc xin giấy phép cư trú hợp pháp. Những người có hộ chiếu nước ngoài về mặt lư thuyết phải đăng kư ở nhà riêng. Trên thực tế người nước ngoài gốc Việt dường như không có vấn đề ǵ với yêu cầu này và được phép ở với gia đ́nh và bạn bè. Công dân cũng được yêu cầu phải đăng kư tạm trú với cảnh sát địa phương khi ở qua đêm ở bất kỳ đâu ngoài nhà ḿnh (xem Phần 1.f).

Chính phủ sử dụng h́nh thức biệt lập theo nghị định về giam giữ hành chính để hạn chế sự đi lại của những nhân vật bất đồng chính kiến và tôn giáo. Cho đến tháng 6, chính quyền đă giam lỏng Phó Chủ tịch UBCV Thích Quảng Độ tại nhà riêng theo lệnh quản chế hành chính. Đường dây điện thoại của ông bị cắt và ông không thể tiếp khách đến thăm (xem Phần 2.c).

Một số người bị giữ trong t́nh trạng giống như quản thúc mà không có nguyên cớ luật pháp nào. Sau một cuộc họp ở tỉnh B́nh Định vào tháng 10, nhiều nhà lănh đạo của tổ chức UBCV bị cấm gồm Giáo trưởng Thích Huyền Quang và Phó Chủ tịch Thích Quảng Độ bị đưa về chùa ḿnh ở miền trung và nam và được thông báo là họ sẽ không thể đi lại mà không có sự cho phép của chính phủ (xem Phần 2.c). Đến tháng 4, Thích Huyền Quang đă bị giam lỏng tại một ngôi chùa ở tỉnh Quảng Ngăi nhưng có thể tiếp một số khách thăm hạn chế. Ông được phép đi chữa bệnh tại Hà Nội, gặp các quan chức chính phủ và nhà ngoại giao nước ngoài, đi các chùa có liên quan đến UBCV, và gặp nhiều tín đồ. Linh mục Tin Lành Nguyên Lập Mă đă bị buộc phải ở trong một ngôi làng biệt lập ở tỉnh Cần Thơ từ năm 1982. Tuy nhiên, sau khi bị đột quỵ năm 1998, chính quyền cho phép ông đi Thành phố Hồ Chí Minh để khám bệnh hàng tháng. Một linh mục Tin Lành khác là Nguyễn Nhật Thông đă bị buộc phải ở trong một ngôi làng xa xôi ở tỉnh B́nh Thuận từ 1979. Ông đă được phép đi lại ngoài làng này từ năm 1986 nhưng phải xin phép chính quyền địa phương.

Người nước ngoài nói chung được tự do đi lại trong cả nước, trừ những khu vực bị cấm v́ lư do an ninh quốc gia. Chính phủ có quyền chấp thuận đi tới các khu vực biên giới và một số đảo nhưng trên thực tế người nước ngoài có thể đi tới hầu hết khu vực biên giới không nhạy cảm mà không cần xin phép. Tuy nhiên, đôi khi cảnh sát địa phương bắt giam và phạt người nước ngoài bị phát hiện dám đến quá gần đường biên và các khu vực quân sự nhạy cảm khác. Một số khu vực này không được đánh dấu rơ.

Dù Chính phủ không c̣n yêu cầu công dân đi nước ngoài phải xin visa xuất cảnh hoặc tái nhập cảnh, nhưng đôi khi Chính phủ ngăn cấm không cho đi bằng cách từ chối không cấp hộ chiếu. Tháng 7/2002, Chính phủ ngừng cấp hộ chiếu dấu Định cư cho những người có ư định di cư. Một số người công khai hay ngầm bày tỏ bất đồng đối với những vấn đề tôn giáo hay chính trị đều không được phép đi nước ngoài. Chính phủ cũng ngăn cản diễn viên Đơn Dương đi nước ngoài trong năm qua. Năm 2002, chính quyền tịch thu hộ chiếu của anh ta; tuy nhiên, ngày 9/4, anh ta được phép di cư sang Mỹ.

Việc công dân xin hộ chiếu đôi khi bị hạn chế bởi những nhân tố ngoài luật như hối lộ và tham nhũng. Những người xin visa tị nạn và di cư đôi khi gặp những quan chức địa phương tùy tiện tŕ hoăn hay không cấp hộ chiếu do thù hằn cá nhân, hay do các quan chức cho rằng người nộp đơn không đáp ứng tiêu chuẩn của chương tŕnh hay để moi tiền hối lộ. Một số linh mục Tin lành từng đi trại cải tạo không được cấp hộ chiếu với lư do họ không có hộ khẩu hay giấy chứng minh nhân dân. Một số người thân gia đ́nh dân tộc thiểu số được tị nạn ở nước ngoài đă được cấp lại hộ khẩu và tên những người mất tích bị gạch đi. Các thành viên gia đ́nh khác không thể xin hộ chiếu để đoàn tụ ở nước ngoài.

Hoa Kỳ tiếp tục cấp visa cho các đơn xin di cư và xin tị nạn, trong đó có cả người Mỹ gốc Á, những người bị giam trong các trại cải tạo trước đây, những nhân viên làm cho chính quyền nước ngoài trước đây, những trường hợp đoàn tụ gia đ́nh và những người trở về từ các trại tị nạn ở những nơi khác trong khu vực (theo chương tŕnh Cơ hội Tái định cư cho Người Việt Nam trở về). Hầu hết những chương tŕnh này đều đă hoàn tất cách đây gần 10 năm và c̣n rất ít trường hợp sót lại chưa giải quyết (ngoại lệ là chương tŕnh người Mỹ gốc Á vẫn c̣n tiếp nhận đơn). Có những quan ngại rằng một số thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số như những nhóm sống ở Tây Nguyên không tiếp cận được những chương tŕnh trên v́ Chính phủ không cấp hộ chiếu cho họ. Tuy điều này không xảy ra đối với đa số nhân viên làm việc cho chính quyền Mỹ trước đây và những người đi cải tạo; tuy nhiên tiếp tục có sự chậm trễ cấp hộ chiếu cho người Thượng và những người khác nộp đơn theo các chương tŕnh người tỵ nạn khác nhau. Những người xin hộ chiếu này c̣n gồm cả người thân của những người dân tộc thiểu số vượt biên trong những năm gần đây và được Mỹ tiếp nhận như người tỵ nạn từ Cămpuchia.

Nói chung Chính phủ cho phép công dân di cư được trở về thăm nhưng v́ coi họ là công dân nên cũng phải có những nghĩa vụ theo pháp luật dù họ đă mang một quốc tịch khác, trừ phi việc từ bỏ quốc tịch được Chủ tịch nước chính thức chấp thuận. Tuy nhiên, trên thực tế, Chính phủ thường đối xử họ như những công dân của các nước khác; những người di cư không được phép sử dụng hộ chiếu Việt Nam sau khi nhập quốc tịch khác. Tuy nhiên, do những công dân sống ở nước ngoài không chỉ được coi là nguồn ngoại tệ và chuyên gia tiềm năng quư giá của đất nước mà c̣n là mối đe dọa an ninh tiềm tàng nên Chính phủ nói chung khuyến khích họ về thăm nhưng cũng giám sát họ rất chặt chẽ.

Đầu năm 2001, hơn 1000 người dân tộc Tây Nguyên đă bỏ trốn sang Campuchia sau khi bị lực lượng an ninh trấn áp. Vụ trấn áp này diễn ra sau khi có những cuộc biểu t́nh phản đối việc chiếm đất thổ cư, đưa người Kinh lên Tây Nguyên và phân biệt tôn giáo. Hiệp định ba bên về việc hồi hương người dân tộc giữa chính phủ Việt Nam và Campuchia và Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người Tị nạn (UNHCR) bị UNHCR bác bỏ sau khi Việt Nam hạn chế tiếp xúc và đe dọa, gây áp lực đối với người dân tộc ở các trại của UNHCR buộc phải về nước. Tháng 6/2002, một quan chức đă thừa nhận sai lầm của giới lănh đạo Việt Nam về t́nh h́nh rối loạn ở Tây Nguyên. Sau đó, Chính phủ đă tuyên bố sẽ thưởng cho mỗi gia đ́nh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ít nhất một hecta đất để canh tác và 400 mét vuông để xây nhà; tuy nhiên, Chính phủ đă triển khai chương tŕnh không đều, và những người dân tộc khiếu nại các quan chức địa phương chia cho họ đất không canh tác được. Hàng chục người đă vượt biên trong năm qua và xin tỵ nạn.

Trong năm qua, những nguồn tin đáng tin cậy cho biết những người dân tộc vượt biên đă bị bắt hoặc bị trả về tại biên giới Cămpuchia, một số vụ rất bạo lực. Có tin một số ít đang trốn ở hai bên biên giới.

Các nhà ngoại giao và nhà báo nước ngoài đă đi thăm 15 người trở về theo chương tŕnh của UNHCR vào tháng 9. Tuy những người hồi hương phàn nàn về t́nh trạng kinh tế khó khăn và UNHCR không thực hiện một số cam kết nhưng họ không bị quấy nhiễu. Năm 2002, nguồn tin tin cậy cho biết mật vụ đă qua biên giới để bắt và hồi hương nhiều người bỏ trốn sau vụ bạo loạn năm 2001. Những nguồn tin này cho biết thêm rằng lực lượng an ninh đă thành công trong việc cưỡng ép hồi hương khoảng 50 người quay trở lại tỉnh Đak Lak. Tám người khác bị đưa về tỉnh Gia Lai. hai trong số này bị bỏ tù và sáu người bị quản chế hành chính. Người thân gia đ́nh thông báo việc mất tích của ít nhất 42 người dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai. Hầu hết những người này đều bỏ trốn và được UNHCR bảo trợ, sau đó được tái định cư từ Campuchia sang nước thứ ba.

Việt Nam không gia nhập Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1951 về Quy chế Người tị nạn và Nghị định thư năm 1967. Chính phủ nói chung bảo vệ người vượt biên nhưng thường không cho quy chế tỵ nạn hay cư trú. Một số sứ quán cho biết những người Bắc Triều Tiên xin cư trú trong nước đă bị đưa sang Trung Quốc do di cư bất hợp pháp và do những người này khai đă vào Việt Nam bằng đường bộ từ Trung Quốc.

PHẦN 3: TÔN TRỌNG QUYỀN CHÍNH TRỊ: QUYỀN CỦA CÔNG DÂN ĐƯỢC THAY ĐỔI CHÍNH PHỦ CỦA M̀NH

Hiến pháp quy định công dân không có quyền thay đổi chính phủ một cách ḥa b́nh và công dân không thể tự do chọn lựa và thay đổi luật pháp và quan chức lănh đạo họ. Đảng kiểm soát việc lựa chọn ứng cử viên trong các cuộc bầu cử Quốc hội, bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng và chính quyền cấp địa phương. Tất cả quyền lực chính trị đều thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Hiến pháp tuyên bố về vai tṛ lănh đạo của ĐCSVN. Các phong trào chống đối chính trị và các đảng chính trị khác đều là bất hợp pháp. Bộ Chính trị của ĐCSVN là cơ quan ra quyết định tối cao của Việt Nam mặc dù Bộ Chính trị về mặt kỹ thuật phải báo cáo với Uỷ Ban Trung ương Đảng. Trong kỳ họp đầu tiên tại Đại hội Đảng lần thứ 9 tháng 4/2001, Đảng đă thay thế Ủy ban Thường vụ gồm năm ủy viên cao cấp nhất của Bộ Chính trị bằng một Ban bí thư ban đầu gồm Tổng Bí thư, bốn Ủy viên Bộ Chính trị cấp thấp hơn, và bốn Ủy viên Trung ương không thuộc Bộ Chính trị nhưng nay gồm ít nhất là 11 uỷ viên, để giám sát thường xuyên việc thực thi các chỉ thị của lănh đạo.

Chính phủ tiếp tục hạn chế tranh luận và chỉ trích công khai đối với một số khía cạnh hoạt động của cá nhân, nhà nước và Đảng do ĐCSVN chỉ đạo; tuy nhiên, các nhà lập pháp đă tiếp tục chất vấn và chỉ trích các bộ trưởng trong những phiên họp một năm hai lần được truyền trực tiếp trên truyền h́nh. Không được phép thách thức công khai tính hợp pháp của Nhà nước một Đảng, tuy nhiên có những trường hợp một số cá nhân và một số cựu Đảng viên gửi những bức thư trái phép chỉ trích Chính phủ và được lưu hành rộng răi.

Chính phủ tích cực khuyến khích công dân đủ tư cách đi bỏ phiếu bầu cử. Dù bỏ phiếu không bắt buộc nhưng các quan chức tổ chức bầu cử dùng nhiều biện pháp để thuyết phục nhân dân đi bầu, kể cả sử dụng các hệ thống thông tin công cộng để gọi tên những người đi bầu muộn phải đến bỏ phiếu. Chính phủ thông báo tỷ lệ cử tri là 99.73% trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5/2002. Bỏ phiếu hộ tuy là bất hợp pháp nhưng có vẻ rất phổ biến. Hơn nữa, hầu hết việc bỏ phiếu diễn ra đến 10 giờ sáng dù thùng phiếu theo quy định phải mở đến tận bảy giờ tối. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đă chấp thuận tất cả ứng cử viên cho 498 ghế trong Quốc hội.

Quốc hội tuy chịu sự kiểm soát của Đảng (tất cả các lănh đạo cấp cao và 90% đại biểu đều là Đảng viên) nhưng ngày càng trở thành diễn đàn bày tỏ những mối quan tâm của địa phương và cấp tỉnh và là nơi chỉ trích nạn tham nhũng và tính không hiệu quả. Tuy nhiên, Quốc hội không đề ra luật pháp và chưa bao giờ thông qua những đạo luật mà Đảng phản đối. Các quan chức của Đảng nắm giữ hầu hết các vị trí cao cấp trong Chính phủ và Quốc hội và tiếp tục có quyết định cuối cùng trong các vấn đề lớn. Năm 2002, Quốc hội đă thảo luận việc bổ nhiệm nội các của Chính phủ; dù thông qua tất cả các bổ nhiệm nhưng hơn 30% đại biểu bỏ phiếu chống lại các nhân vật được bổ nhiệm. Trong năm qua, Quốc hội tiếp tục tham gia vào các cuộc tranh luận công khai về các vấn đề kinh tế, luật pháp và xă hội. Quốc hội cũng tiếp tục sử dụng quyền lực ngày càng tăng của ḿnh trong việc sửa đổi hay bác bỏ các dự luật và tích cực nâng cao khả năng soạn thảo luật.

Luật tạo cơ hội cho việc tham gia chính trị b́nh đẳng của phụ nữ và các nhóm thiểu số. Phụ nữ nắm giữ một số chức vụ quan trọng trong chính phủ với một chức Phó Chủ tịch nước. Có 136 phụ nữ trong tổng số 498 đại biểu Quốc hội; có ba phụ nữ hàm Bộ trưởng; và không có phụ nữ nào trong Bộ Chính trị. Chỉ có rất ít phụ nữ là lănh đạo cấp tỉnh.

Có 87 trong tổng số 498 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số và hai người dân tộc tham gia nội các. Tổng Bí thư ĐCSVN là người dân tộc Tày thiểu số; tuy nhiên tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong bộ máy chính phủ và cấp quốc gia không phản ánh chính xác tỷ lệ dân số của họ.

PHẦN 4: THÁI ĐỘ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI ĐIỀU TRA QUỐC TẾ VÀ PHI CHÍNH PHỦ VỀ NHỮNG CÁO BUỘC VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân quyền tư nhân và địa phương được thành lập hay hoạt động. Nói chung chính phủ không cho phép tổ chức hay cá nhân b́nh luận công khai về hành động nhân quyền của chính phủ và sử dụng nhiều biện pháp để dập tắt chỉ trích trong nước về các chính sách nhân quyền như theo dơi, hạn chế tự do hội họp, can thiệp liên lạc cá nhân, và bắt giam. Tuy nhiên SECV và Giáo hội Cơ đốc không chịu hậu quả tiêu cực rơ ràng nào khi tuyên truyền những bức thư gửi Chính phủ chỉ trích các hành động đàn áp tôn giáo đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Phó Chủ tịch UBCV Thích Quảng Độ cũng gửi một bức thư phổ biến rộng răi cho chính phủ lên án việc bắt giam vị sư cũ của UBCV Thích Trí Lực (xem Phần 1.b).

Nói chung chính phủ cấm các công dân liên hệ với các tổ chức nhân quyền quốc tế dù một số nhà hoạt động có thể làm điều này. Chính phủ không cho phép các nhà giám sát nhân quyền quốc tế của các tổ chức phi chính phủ (NGO) được vào tham quan; tuy nhiên có cho phép một đại diện của UNDP thăm Tây Nguyên vào tháng 8 và một quan chức địa phương của UNHCR thăm tháng 9. Chính phủ chỉ trích hầu hết các tuyên bố công khai về các vấn đề nhân quyền của các NGO quốc tế hay của các chính phủ nước ngoài.

Nói chung Chính phủ sẵn sàng thảo luận song phương vấn đề nhân quyền với các chính phủ khác nếu những cuộc thảo luận đó diễn ra dưới h́nh thức “trao đổi ư kiến” chứ không phải là “điều tra”. Trong năm qua, một số chính phủ nước ngoài đă hội đàm chính thức về nhân quyền. Một phái đoàn đại diện các nước thành viên của Liên minh Châu Âu đă thăm tỉnh Đắc Lắc tháng 6 và cho biết có hạn chế về tự do tôn giáo của người dân.

PHẦN 5: PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỀ CHỦNG TỘC, GIỚI TÍNH, NGƯỜI TÀN TẬT, NGÔN NGỮ VÀ ĐỊA VỊ XĂ HỘI

Hiến pháp cấm phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo hay giai cấp xă hội; tuy nhiên, việc thực hiện những điều này không đồng đều. Một số người trước đây bị quản thúc trong các trại cải tạo do có liên hệ với chính quyền trước 1975 tiếp tục cho biết vẫn có sự phân biệt đối xử đối với họ và gia đ́nh họ trong vấn đề nhà cửa, giáo dục và việc làm. Một số cựu chiến binh của chính quyền trước 1975 vẫn gặp khó khăn kinh tế do hạn chế và phân biệt nghề nghiệp trước đây, nhưng không biết có ai bị tống giam v́ hoạt động của họ trước 1975. Cựu chiến binh và gia đ́nh của họ nói chung không thể làm việc cho Chính phủ. Sự cấm đoán này đỡ hơn trước đây v́ ngày càng có nhiều cơ hội việc làm trong các doanh nghiệp tư nhân. Theo luật, không có sự phân biệt nào đối với người bị nhiễm HIV/AIDS; tuy nhiên, vẫn c̣n một số phân biệt xă hội.

Phụ nữ

Luật pháp có giải quyết vấn đề bạo lực trong gia đ́nh; tuy nhiên chính quyền không thực hiện luật này một cách hiệu quả. Các quan chức ngày càng thừa nhận có tồn tại bạo lực trong gia đ́nh và vấn đề này cũng được tranh luận công khai hơn trên báo đài. Các nhân viên quốc tế của NGO và các liên lạc viên địa phương cho biết bạo lực trong gia đ́nh chống lại phụ nữ là rất phổ biến. Khoảng 2/3 vụ ly dị một phần do bạo lực gia đ́nh. Tỷ lệ ly dị đă tăng lên trong những năm qua nhưng nhiều phụ nữ vẫn chấp nhận bị ngược đăi gia đ́nh hơn là chịu nỗi nhục trước gia đ́nh, xă hội và gặp khó khăn kinh tế sau khi ly dị.

Theo Bộ luật H́nh sự, việc sử dụng bạo lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng nạn nhân không thể tự vệ hay dụ dỗ để quan hệ t́nh dục ngoài ư muốn với nạn nhân là phạm tội. Đây là quy định h́nh sự hóa tội hiếp dâm, cưỡng hiếp vợ, và trong một số trường hợp c̣n là sự quấy rối t́nh dục. Tuy nhiên không có trường hợp truy tố nào về tội hăm hiếp hôn nhân. NGO và các tổ chức đoàn thể của Đảng có một số biện pháp hạn chế để xây dựng nơi cư trú và đào tạo cảnh sát giải quyết vấn đề này.

Mại dâm theo luật là bất hợp pháp nhưng có vẻ như được buông lỏng rộng răi. Một số phụ nữ bị ép làm gái mại dâm và một số là nạn nhân của những lời hứa lừa gạt về những công việc tử tế (xem Phần 6.f). Nhiều phụ nữ cảm thấy buộc phải làm gái mại dâm v́ đói nghèo và không có cơ hội việc làm. Các NGO ước tính có 300.000 gái mại dâm trên cả nước gồm cả những gái làm tiền bán thời gian hay theo mùa trong năm. Có nguồn tin cho biết một số người ở TP Hồ Chí Minh đă dụ dỗ phụ nữ trẻ nghiện heroin và ép họ làm gái mại dâm để kiếm tiền mua thuốc. Cha mẹ thường hy vọng con gái cả gánh trách nhiệm lo phần lớn nguồn thu nhập cho gia đ́nh. Có tin cho biết một số cha mẹ ép con gái ḿnh làm gái mại dâm hay đưa ra những yêu cầu về tài chính quá cao khiến họ cảm thấy buộc phải đi làm nghề mại dâm. Hội Liên hiệp Phụ nữ, một tổ chức đoàn thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF), cùng các NGO quốc tế đă tích cực tham gia vào các chương tŕnh giáo dục và cải tạo để chống lại tệ nạn này.

Buôn bán phụ nữ v́ mục đích bóc lột t́nh dục ở trong và ngoài nước cũng là một vấn đề nghiêm trọng (xem Phần 6.f).

Tuy không có sự phân biệt nào về mặt luật pháp nhưng phụ nữ phải chịu sự phân biệt về mặt xă hội rất sâu sắc. Tuy có những điều khoản trong Hiến pháp, trong luật và trong các quy định về đối xử b́nh đẳng và tuy có một số phụ nữ nắm giữ các chức vụ cao trong chính phủ nhưng có rất ít phụ nữ có thể giành được những vị trí cao hơn. Hiến pháp quy định phụ nữ và nam giới phải nhận được mức lương như nhau trong cùng một công việc; tuy nhiên, Chính phủ không thực thi triệt để điều khoản này. Những phụ nữ rất nghèo đặc biệt ở khu vực nông thôn và cả các thành phố làm những công việc phụ giúp trong xây dựng, dọn dẹp chất thải và những công việc khác với mức thù lao cực kỳ thấp. Tuy có rất nhiều đạo luật và quy định dành cho việc bảo vệ quyền phụ nữ trong hôn nhân và nơi công sở và Luật Lao động kêu gọi đối xử ưu tiên cho phụ nữ nhưng phụ nữ không phải lúc nào cũng được đối xử b́nh đẳng. Tuy nhiên, phụ nữ đóng vai tṛ quan trọng trong nền kinh tế và tham gia rộng răi vào kinh doanh và các cơ quan giáo dục, xă hội. Cơ hội dành cho phụ nữ trẻ có tŕnh độ đă tăng lên đáng kể trong những năm qua với ngày càng nhiều người làm việc cho các cơ quan dân sự, các trường đại học và các công ty tư nhân.

Hội Liên hiệp Phụ nữ thuộc VFF có chương tŕnh nghị sự rất quy mô nhằm thúc đẩy quyền của phụ nữ gồm quyền b́nh đẳng về luật pháp, kinh tế, chính trị và bảo vệ chống lại lạm dụng trong hôn nhân. Hội Liên hiệp Phụ nữ thực hiện các chương tŕnh tài trợ tín dụng quy mô nhỏ và các chương tŕnh khác để thúc đẩy tiến bộ của phụ nữ. Các NGO và các tổ chức quốc tế khác đánh giá Hội hoạt động có hiệu quả nhưng họ và các đại diện của Liên hiệp cho rằng cần có nhiều thời gian để vượt qua định kiến xă hội “trọng nam khinh nữ”. Chính phủ cũng có ủy ban v́ Sự tiến bộ của Phụ nữ nhằm điều phối các chương tŕnh liên bộ có ảnh hưởng đến phụ nữ.

Trẻ em

Các tổ chức quốc tế và các cơ quan chính phủ cho biết tuy Chính phủ thúc đẩy việc bảo vệ trẻ em và phúc lợi nhưng trẻ em vẫn tiếp tục gặp nguy cơ bị bóc lột về kinh tế. Mặc dù giáo dục bắt buộc cho đến độ tuổi 14 nhưng chính quyền không thực thi yêu cầu này, đặc biệt ở các khu vực nông thôn có ngân sách giáo dục của chính phủ và gia đ́nh rất hạn chế và rất cần trẻ em trong các công việc đồng áng. Tuy nhiên sự chú trọng của nền văn hóa đối với học vấn đă buộc cha mẹ có khả năng phải cho con đi học thay v́ cho phép chúng đi làm. Do t́nh trạng thiếu lớp học nên hầu hết các trường dạy hai ca và trẻ em có thể học ca sáng hay ca chiều. Một số trẻ em đường phố ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đă tham gia vào các lớp học ban đêm. Chính phủ vẫn đang trong quá tŕnh mở rộng giáo dục miễn phí cho trẻ từ sáu đến 9 tuổi. Hệ thống trường công gồm 12 lớp. Trên 90% trẻ em học cấp một nhưng tỷ lệ của học sinh cấp hai và ba thấp hơn nhiều. Những tỷ lệ này thậm chí c̣n thấp hơn ở các khu vực miền núi xa xôi mặc dù Chính phủ có một hệ thống các trường nội trú được bao cấp ở cấp trung học cho các học sinh dân tộc thiểu số. Dù chính phủ cấm nhưng các nhóm tôn giáo vẫn tổ chức một số trại mồ côi, và gửi trẻ đi học ở trường công vào ban ngày.

Chính phủ tiếp tục chiến dịch tiêm pḥng bệnh trên toàn quốc và báo đài của Chính phủ thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của sức khoẻ và giáo dục cho tất cả trẻ em. Tuy các nguồn tin trong nước cho biết các quan chức có trách nhiệm nói chung đều coi trọng những mục tiêu này nhưng các hành động cụ thể bị hạn chế do ngân sách quá ít. Theo UNICEF, tuy thu nhập có tăng trong thập kỷ qua nhưng suy dinh dưỡng vẫn là một vấn đề lớn; khoảng 39% trẻ em dưới năm tuổi bị thiếu cân trong thời gian từ 1995 đến 2000.

Đói nghèo lan rộng cũng góp phần vào tệ nạn mại dâm trẻ em, đặc biệt là các em gái và cả một số em trai ở các thành phố lớn. Nhiều gái điếm ở TP Hồ Chí Minh có độ tuổi dưới 18. Một số trẻ em bị các gia đ́nh ngược đăi ép làm mại dâm v́ lư do kinh tế và chúng không c̣n sự lựa chọn nào khác.

Một số trẻ bị buôn bán trong nước và một số khác bị bán ra nước ngoài v́ mục đích bóc lột t́nh dục. Các báo đưa tin việc kết án và bỏ tù một số kẻ buôn bán trẻ em (xem Phần 6.f). Một số kẻ cũng bị kết án trong những vụ cha mẹ nhận tiền để bán con nhỏ làm con nuôi. Các tổ chức đoàn thể và NGO đă xây dựng các chương tŕnh nhỏ để hỗ trợ trẻ em bị buôn bán tái hoà nhập xă hội.

Theo báo cáo năm 2001 của Chính phủ về lao động trẻ em, có 20.000 trẻ em đường phố trong cả nước. Trẻ em đường phố dễ bị ngược đăi hay bị cảnh sát quấy nhiễu. Các NGO quốc tế ghi nhận nhiều vụ trẻ em Cămpuchia bị buôn sang TP Hồ Chí Minh để ăn xin ngắn hạn. Cảnh sát đă thu gom trẻ em đường phố ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và giữ chúng trong các cơ sở giam giữ vị thành niên trước SEA Games tháng 12.

Người tàn tật

Luật pháp yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền của người tàn tật và khuyến khích tuyển dụng người tàn tật. Tuy nhiên các dịch vụ của chính phủ nhằm hỗ trợ người tàn tật c̣n hạn chế. Các cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm về các dịch vụ cho người tàn tật phối hợp với các nhóm trong và ngoài nước để bảo vệ, hỗ trợ, giúp đi lại, giáo dục và cung cấp việc làm cho đối tượng này nhưng việc thực hiện bị hạn chế do thiếu ngân sách. Chính phủ quản lư một mạng lưới nhỏ các trung tâm phục hồi để điều trị vật lư lâu dài và giáo dục đặc biệt cho trẻ em tàn tật.

Cơ hội giáo dục cho trẻ em tàn tật rất tồi nhưng đang được cải thiện. Chỉ hơn 10% trẻ tàn tật được đi học. Trong năm qua, Chính phủ đă hợp tác với Ngân hàng Thế giới và các NGO nước ngoài đào tạo thêm giáo viên cho học sinh tàn tật.

Luật quy định đối xử ưu tiên các công ty tuyển dụng người tàn tật để đào tạo hay học việc và có mức thuế đặc biệt đối với các công ty không tuyển dụng công nhân tàn tật; tuy nhiên Chính phủ thực hiện những điều khoản này không đồng đều. Năm 2002, Bộ Xây dựng đă ban hành “Luật Xây dựng và Thiết kế Không Rào cản” và “Tiêu chuẩn Tiếp cận của Người Tàn tật”, yêu cầu việc xây dựng và tu sửa lớn các toà nhà chính phủ và công cộng mới phải có lối đi cho người tàn tật. Bộ Xây dựng tập huấn cho kiến trúc sư và kỹ sư về những yêu cầu mới này. Cuối năm, Chính phủ đang xây dựng một quy tŕnh triển khai và tuân thủ để hỗ trợ những luật mới này.

Các tổ chức quốc tế cũng giúp Chính phủ thực hiện các chương tŕnh giúp người tàn tật tiếp cận với giáo dục và việc làm.

Các nhóm dân tộc thiểu số/ chủng tộc/ sắc tộc

Mặc dù Chính phủ chính thức chống lại việc phân biệt các nhóm dân tộc thiểu số nhưng định kiến xă hội từ lâu đối với các nhóm này là rất phổ biến. Hơn nữa, tiếp tục có các nguồn tin cho biết các quan chức địa phương đôi khi hạn chế người thiểu số có được một số loại việc làm và các cơ hội về giáo dục. Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa các nhóm sắc tộc sống ở miền núi và nhóm người Kinh đa số sống ở đồng bằng giàu có hơn thông qua các chính sách ưu tiên đối với các công ty trong và ngoài nước đầu tư vào các khu vực miền núi. Chính phủ quản lư các trường học đặc biệt cho các dân tộc thiểu số ở nhiều tỉnh gồm các trường nội trú được bao cấp ở cấp trung học và cấp hai, và có các chương tŕnh học bổng đặc biệt ở cấp đại học.

Chính phủ tái định cư một số dân tộc thiểu số từ các làng xa xôi ở các tỉnh miền núi tới những nơi có các dịch vụ cơ bản; tuy nhiên tác dụng của chính sách này đôi lúc lại giảm sự đoàn kết về chính trị và xă hội của các nhóm này. Chính phủ thừa nhận một trong những mục tiêu của tái định cư là thúc đẩy các nhóm thiểu số thay đổi từ các phương thức canh tác du canh du cư truyền thống sang định canh định cư. Điều này cũng có tác dụng cung cấp nhiều đất hơn cho người Kinh di cư lên các vùng miền núi. Sự di cư tự phát cũng như do chính phủ khuyến khích trên quy mô lớn của người Kinh lên Tây Nguyên đă làm giảm nền văn hóa bản địa ở đây. Điều này đă dẫn đến nhiều vụ tranh chấp đất đai giữa các hộ dân tộc thiểu số và người Kinh di cư. Nhận thức về việc mất đất truyền thống của người dân tộc thiểu số vào tay người Kinh di cư cũng là một nguyên nhân quan trọng của các vụ bạo loạn sắc tộc năm 2001.

Có nhiều nguồn tin tin cậy cho biết các nhóm người Thượng tiếp tục bỏ trốn sang Campuchia để tránh bị đàn áp về sắc tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên. Các quan chức nhà nước tiếp tục quấy nhiễu một số dân tộc thiểu số, đặc biệt người Hmong ở các tỉnh tây bắc và một số nhóm sắc tộc ở Tây Nguyên do đă hành đạo Tin lành mà không được nhà nước cho phép (xem Phần 2.c).

Các quan chức chính phủ đă khẳng định rằng có nhiều trường hợp các quan chức địa phương ở Tây Nguyên đă hành động đi ngược lại chính sách của quốc gia hay không tuân thủ luật của quốc gia. Trong năm qua, Đảng đă nhắc lại rơ ràng chính sách của Đảng về dân tộc thiểu số, tôn giáo và đất đai.

Chính phủ tiếp tục áp dụng những biện pháp an ninh chặt chẽ ở Tây Nguyên. Có những nguồn tin chưa được xác minh về việc Chính phủ tiếp tục cản trở người Thượng muốn vượt biên giới sang Campuchia, đôi khi có cả đánh đập và giam giữ. Tuy nhiên Chính phủ tiếp tục có các biện pháp để giải quyết những nguyên nhân của bạo loạn và bắt đầu có những biện pháp mới. Chính phủ bắt đầu có một chương tŕnh đặc biệt để phân đất cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tuy nhiên, có phàn nàn rằng một số đất được phân chất lượng rất thấp (xem Phần 2.d).

Trước đây, theo luật, tất cả việc dạy học đều được dạy bằng tiếng Việt nhưng Chính phủ tiếp tục có một chương tŕnh dạy học bằng tiếng địa phương cho đến lớp 5. Chính phủ phối hợp với các quan chức địa phương để xây dựng một chương tŕnh học bằng tiếng địa phương. Chính phủ có vẻ như đang thực hiện chương tŕnh này toàn diện hơn ở Tây Nguyên so với các tỉnh vùng núi phía Bắc. Chính phủ đă phát các chương tŕnh truyền thanh và truyền h́nh ở khu vực này bằng tiếng dân tộc. Chính phủ cũng yêu cầu các quan chức người Kinh phải học tiếng địa phương nơi họ làm việc, dù điều này chưa chưa thực sự có hiệu quả đến cuối năm nay. Chính quyền cấp tỉnh thực thi các sáng kiến nhằm có thêm việc làm, giảm chênh lệch thu nhập giữa người dân tộc và người Kinh, và quan tâm hơn văn hóa và truyền thống của người thiểu số. Quan chức ở Tỉnh Lâm Đồng đă thuê người dân tộc dạy tiếng thiểu số cho cảnh sát người Kinh. Quan chức ở Tỉnh Đắc Lắc đă thử nghiệm chính sách đất đai phân rừng cho các xă thiểu số để sử dụng chung cho cả xă.

PHẦN 6: QUYỀN CỦA CÔNG NHÂN

a. Quyền lập hội

Công nhân không được tự do tham gia hay lập hội theo ư muốn. Công đoàn do Đảng kiểm soát và chỉ có sự độc lập trên danh nghĩa. Tất cả các hội phải được chấp thuận và phải trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL) do Đảng kiểm soát. VGCL tuyên bố đại diện cho 95% công nhân viên nhà nước và 90% công nhân trong các công ty quốc doanh. Tuy nhiên, mức công đoàn hóa của toàn bộ lực lượng lao động là 10%. Khoảng 500.000 công đoàn viên làm việc trong khu vực tư nhân, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đại đa số lực lượng lao động sống ở nông thôn, tham gia vào công việc đồng áng quy mô nhỏ, và không tham gia công đoàn.

VGCL khẳng định chính quyền không truy tố những vi phạm Luật Lao động. Lănh đạo công đoàn có tiếng nói trong các quyết định quan trọng như sửa đổi luật lao động, xây dựng mạng lưới an sinh xă hội, và đề ra các tiêu chuẩn y tế, an toàn và mức lương tối thiểu.

Tuy Luật Lao động khẳng định tất cả các công đoàn của doanh nghiệp và nghiệp vụ đều trực thuộc VGCL nhưng trên thực tế hàng trăm “hiệp hội lao động” không trực thuộc được tổ chức tại nhiều doanh nghiệp tư nhân và trong các ngành nghề như taxi, xe ôm và xích lô, đầu bếp, và khuân vác ở chợ. ILO và Chương tŕnh Phát triển của Liên Hợp Quốc hợp tác trong chương tŕnh hỗ trợ kỹ thuật dài hạn nhằm tăng cường việc thực thi Luật Lao động.

Luật Lao động cấm bên sử dụng nhân công phân biệt công đoàn và chống lại công nhân thành lập công đoàn.

Các công đoàn riêng lẻ về mặt luật pháp không được tự do trực thuộc, gia nhập hay tham gia vào các tổ chức lao động quốc tế, và trên thực tế họ cũng không làm như vậy. Tuy nhiên, VGCL có quan hệ với 95 tổ chức lao động ở 70 nước.

b. Quyền được tổ chức và thương lượng tập thể

Theo luật, công đoàn cấp tỉnh hay thành phố của VGCL có trách nhiệm tổ chức công đoàn trong ṿng sáu tháng sau khi thành lập bất kỳ một doanh nghiệp mới nào. Ban quản lư theo luật phải chấp thuận và hợp tác với các công đoàn này. Luật Lao động trao quyền cho các công đoàn trực thuộc VGCL quyền thương lượng tập thể đại diện cho công nhân. Nhiều hợp đồng đă được thương lượng chấm dứt việc gia hạn hàng năm và các hợp đồng nhiều năm đă trở nên phổ biến hơn. Theo sửa đổi Luật Lao động năm 2002, hợp đồng lao động có thời hạn chỉ có thể gia hạn một lần; do đó nêu tiếp tục tuyển dụng th́ hợp đồng lao động phải thành vô thời hạn. Lănh đạo công đoàn đă tăng số lượng vấn đề tại nơi làm việc trong các thoả thuận thương lượng tập thể như vấn đề làm việc ngày Chủ nhật chẳng hạn. Kể từ khi Việt Nam từ bỏ kế hoạch hóa tập trung, các động lực thị trường đă đóng vai tṛ ngày càng quan trọng trong việc định giá tiền lương.

Luật Lao động quy định quyền đ́nh công nếu công nhân tuân theo quá tŕnh ḥa giải và phân xử được quy định. Luật yêu cầu ban quản lư và công nhân trước hết cố gắng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hội đồng ḥa giải lao động của bản thân doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp không có hội đồng này hay nếu hội đồng không thể giải quyết được tranh chấp lao động th́ tranh chấp đó được chuyển đến ṭa án lao động ở cấp quận hay tỉnh. Các công nhân có thể kiện trực tiếp lên hệ thống ṭa án nhân dân nhưng trong hầu hết trường hợp chỉ sau khi ḥa giải không mang lại kết quả. Công đoàn có quyền khiếu nại các quyết định của hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh lên ṭa án nhân dân cấp tỉnh hay đ́nh công. Do quá tŕnh này rất lâu và các cơ quan giải quyết tranh chấp cần thiết ở nhiều tỉnh và địa phương chưa được thành lập nên hầu hết các cuộc đ́nh công bị coi là bất hợp pháp.

Theo Bộ Lao động, có 72 vụ đ́nh công trong 6 tháng đầu năm. Trong số này, 51 vụ chống lại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, 18 vụ tại các doanh nghiệp tư nhân trong nước và 3 vụ trong các công ty quốc doanh. Những nguồn tin khác cho biết có tới 14 vụ ở các công ty quốc doanh. Ví dụ, từ 27-29/9, gần 400 công nhân tại một công ty ở TP Hồ Chí Minh đă chặn lối ra vào nhà máy v́ chưa trả lương. Ngày 28/9, 300 công nhân biểu t́nh tại một nhà máy khác ở TP Hồ Chí Minh để phản đối điều kiện làm việc khắc nghiệt. Tuy các vụ này nói chung không theo quy tŕnh ḥa giải và phân xử và do đó không có tính hợp pháp nhưng Chính phủ vẫn bỏ qua và không có hành động nào chống lại những người đ́nh công. Dù VGCL hay các công đoàn trực thuộc không chính thức chấp nhận những cuộc đ́nh công này nhưng VGCL cấp tỉnh và địa phương không chính thức ủng hộ đa số các cuộc đ́nh công. Luật Lao động cấm trả thù người đ́nh công và không có tin tức nào về trả thù. Trong một số trường hợp, Chính phủ kỷ luật giới chủ v́ hành động bất hợp pháp dẫn đến đ́nh công.

Luật Lao động cấm đ́nh công trong 54 ngành nghề kinh doanh phục vụ công cộng hay được Chính phủ coi là quan trọng đối với quốc pḥng và kinh tế quốc dân. Có một nghị định nêu rơ các doanh nghiệp liên quan đến: sản xuất điện, bưu chính viễn thông, đường sắt, hàng hải và hàng không, ngân hàng, công chính, và công nghiệp khí đốt và dầu mỏ. Luật cũng trao Thủ tướng quyền ngăn cản những cuộc đ́nh công được coi là có hại cho nền kinh tế quốc dân hay an ninh công cộng.

Luật này cũng điều chỉnh cả số lượng ngày càng tăng các khu chế xuất và khu công nghiệp. Có tin đồn cho rằng Chính phủ thực hiện luật lao động trong phạm vi các khu này triệt để hơn là bên ngoài.

c. Cấm sử dụng lao động cưỡng bức hay giam hăm

Luật Lao động cấm tất cả các h́nh thức lao động cưỡng bức và giam hăm, kể cả lao động trẻ em; tuy nhiên các nguồn tin cho biết hàng ngh́n trẻ em làm việc trong điều kiện bị bóc lột (xem Phần 6.d). Một số phụ nữ bị ép làm mại dâm (xem Phần 5 và 6.f).

Chính phủ không sử dụng lao động tù nhân không có bồi thường; tuy nhiên, tù nhân thường được yêu cầu làm việc với mức thù lao rất ít hay không có thù lao. Họ sản xuất lương thực và các hàng hóa khác sử dụng trực tiếp trong tù hay bán ở chợ địa phương để mua đồ dùng cho tù nhân.

Một nghị định của Chính phủ yêu cầu tất cả người lớn từ 18 đến 45 tuổi đối với nam và 18 đến 35 tuổi với nữ phải lao động công ích 10 ngày một năm. Tuy nhiên nghị định cho phép công dân không phải thực hiện nghĩa vụ này nếu có h́nh thức thay thế hay trả một khoản lệ phí nhỏ.

d. T́nh h́nh lao động trẻ em và độ tuổi đi làm tối thiểu

Lao động trẻ em là một vấn đề. Luật Lao động cấm hầu hết lao động trẻ em nhưng cho phép ngoại lệ đối với một số loại công việc. Luật đề ra độ tuổi đi làm tối thiểu là 18 nhưng các doanh nghiệp có thể thuê trẻ em tuổi từ 15 đến 18 nếu công ty đó có giấy phép đặc biệt của phụ huynh và Bộ Lao động, Thương binh và Xă hội (MOLISA). Tháng 6, Chính phủ đă phê chuẩn Công ước 138 về Độ tuổi Tối thiểu của ILO. Tuy nhiên, điều tra được công bố rộng răi năm 2001 của MOLISA cho thấy khoảng 40.000 trẻ tuổi từ 8 đến 14 làm việc bán hay toàn thời gian vi phạm Luật Lao động. Con số này có thể c̣n thấp v́ nhiều trẻ em làm việc trong các cơ sở không chính thức như các nông trang hay doanh nghiệp gia đ́nh không thuộc phạm vi của Luật Lao động.

Theo luật giới chủ phải đảm bảo công nhân dưới 18 tuổi không làm những công việc nguy hiểm hay có hại cho sự phát triển thể chất và trí tuệ. Những nghề bị cấm được nêu trong Luật Lao động. Luật này cho phép trẻ em đăng kư tại các trung tâm đào tạo thương mại, một h́nh thức đào tạo hướng nghiệp, trên 13 tuổi. Trẻ em có thể làm việc tối đa bảy giờ một ngày và 42 giờ một tuần và phải được chăm sóc y tế đặc biệt.

Có tin cho biết các doanh nghiệp, kể cả các công ty đầu tư nước ngoài, đă phát hiện ra công nhân chưa đủ tuổi của ḿnh. Theo các nguồn tin tin cậy, điều này xảy ra khi trẻ em tŕnh giấy chứng minh giả thường mượn của người lớn trong gia đ́nh. Khi bị phát hiện chúng sẽ mất việc nhưng nhiều trường hợp các công ty trả tiền cho chúng đi học và hứa sẽ tái tuyển dụng khi chúng đủ tuổi.

Ở nông thôn, trẻ em làm việc chủ yếu trong các trang trại gia đ́nh và trong các hoạt động nông nghiệp khác. Đôi khi chúng bắt đầu làm việc từ sáu tuổi và đến 15 tuổi sẽ lao động như người lớn. Ở thành phố, trẻ em cũng làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ của gia đ́nh. Di cư từ nông thôn lên thành thị làm trầm trọng thêm vấn đề này. Các quan chức nói rằng trẻ vị thành niên tại các Trung tâm Nuôi dưỡng và Giáo dục hoạt động như các trường cải tạo hay trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên được giao việc làm v́ “mục đích giáo dục” được cho là tạo thêm thu nhập cho trường.

Một nghiên cứu về lao động trẻ em ở TP Hồ Chí Minh phát hiện những trường hợp cha mẹ các gia đ́nh nghèo “thoả thuận miệng” với chủ buộc trẻ làm việc; lương của trẻ được gửi trực tiếp cho phụ huynh.

Các quan chức chính phủ có quyền phạt và nếu vi phạm Luật H́nh sự, có quyền truy tố giới chủ vi phạm luật Lao động Trẻ em. Trong khi cam kết các nguồn lực hạn chế để thực thi hiệu quả luật này để đảm bảo an toàn lao động cho trẻ em, đặc biệt trẻ em làm việc trong hầm mỏ và đi ở, Chính phủ phát hiện một số trường hợp bóc lột trẻ em, giải phóng cho chúng và phạt chủ thuê. Viện trợ quốc tế tập trung vào vấn đề này. Ngoài ra có một bộ phận về lao động trẻ em trong MOLISA.

Luật cấm cưỡng bức và giam hăm lao động trẻ em ; tuy nhiên hàng ngh́n trẻ em bị bóc lột và bị buôn bán ở cả trong và ngoài nước v́ mục địch bóc lột t́nh dục (xem Phần 6.f).

e. Những điều kiện làm việc có thể chấp nhận được

Luật Lao động yêu cầu Chính phủ phải đề ra mức lương tối thiểu được điều chỉnh do lạm phát và các thay đổi kinh tế khác. Mức lương tối thiểu chính thức hàng tháng tại các công ty liên doanh là 40 đô-la Mỹ (626.000 đồng) ở khu vực nội thành của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, 35,90 đô-la Mỹ (556.000 đồng) ở khu vực nông thôn của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, và 31,40 đô-la Mỹ (487.000 đồng) ở những nơi khác. Chính phủ có thể tạm thời miễn cho một số liên doanh phải trả mức lương tối thiểu này trong những tháng hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp ở những vùng xa xôi, nhưng mức lương tối thiểu trong trường hợp này không được thấp hơn 29,90 đô-la Mỹ (417.000 đồng). Ngày 1/1, mức lương tối thiểu hàng tháng chính thức trong khu vực nhà nước tăng từ 13,60 đô-la Mỹ (210.000 đồng) lên 18,80 đô-la Mỹ (290.000 đồng). Số tiền này vẫn không đủ để một người công nhân và gia đ́nh có mức sống đàng hoàng. Chính sách lương mới có lợi cho hơn 6 triệu người gồm 300.000 công chức nhà nước, các tổ chức Đảng, liên minh, hiệp hội. Tuy nhiên, các doanh nghiệp quốc doanh thường trả lương cao hơn mức tối thiểu này. Số công nhân được nhà nước phân nhà ít hơn trước. Tuy nhiên, nhiều công nhân được thưởng và có phụ thu nhờ các hoạt động buôn bán và các hộ gia đ́nh không chỉ có một người có lương. Báo cáo năm 2001 của ILO cho biết yêu cầu về mức lương tối thiểu được áp dụng tốt trong tất cả các công ty ngoại trừ những doanh nghiệp tư nhân nhỏ hơn. Không như những năm trước, không có tin về những vụ vi phạm yêu cầu này của các công ty đầu tư nước ngoài.

Chính phủ quy định tuần làm việc cho công nhân viên chức nhà nước là 40 giờ và khuyến khích nhưng không bắt buộc thành phần tư nhân và các tổ chức nước ngoài thuê nhân công trong nước giảm số giờ làm xuống 40 giờ.

Luật Lao động quy định giờ làm việc b́nh thường tối đa là 8 giờ một ngày và bắt buộc có 24 giờ đồng hồ nghỉ ngơi một tuần. Làm thêm giờ được tính gấp rưỡi lương b́nh thường và gấp đôi trong ngày nghỉ cuối tuần, và gấp 3 lần trong ngày lễ và ngày nghỉ phép ăn lương. Luật hạn chế giờ làm thêm bắt buộc là bốn giờ một tuần và 200 giờ một năm. Sửa đổi Luật Lao động năm 2002 quy định ngoại lệ trong một số trường hợp đặc biệt mức tối đa này có thể lên tới thêm 300 giờ làm việc hàng năm, do Chính phủ quy định sau khi tham khảo với VGCL và đại diện của bên thuê lao động. Luật cũng quy định nghỉ phép hàng năm được hưởng đủ lương với rất nhiều loại công việc khác nhau. Không rơ Chính phủ có thực hiện những quy định này triệt để không.

Theo luật, nhân công nữ đă có chồng, có thai được nghỉ đẻ, hay nuôi con dưới một tuổi không thể bị sa thải trừ khi doanh nghiệp đóng cửa. Nhân công nữ mang thai ít nhất bảy tháng hay nuôi con dưới một tuổi không thể làm việc thêm giờ, làm việc ban đêm hay ở những nơi xa xôi.

Luật Lao động yêu cầu Chính phủ phải ban hành các quy tắc và quy định đảm bảo an toàn cho công nhân. MOLISA phối hợp với ủy ban nhân dân địa phương và các liên đoàn lao động chịu trách nhiệm thực hiện những quy định này. Trên thực tế, việc thực thi không đầy đủ v́ MOLISA thiếu ngân sách và đội ngũ nhân viên có tŕnh độ. VGCL cho biết có 300 thanh tra lao động trong cả nước nhưng nhu cầu cần ít nhất là 600. Bị thương khi làm việc do điều kiện y tế và an toàn yếu kém cũng là vấn đề lớn. Theo thống kê của MOLISA, có 4.521 trường hợp bị thương và 514 tử vong do tai nạn năm 2002; tuy nhiên có bằng chứng cho thấy công nhân thông qua liên đoàn lao động đang cải thiện hiệu quả điều kiện làm việc. Một số công ty nước ngoài hoạt động trong nước đă thiết lập cơ chế kiểm soát độc lập những vấn đề tại nhà máy ḿnh. Các công ty cho biết MOLISA hay các cơ quan lao động cấp tỉnh thực hiện thanh tra lao động, an toàn nghề nghiệp và y tế ở các doanh nghiệp có tai nạn nghiêm trọng hay khi có báo cáo về điều kiện làm việc nguy hại.

Luật Lao động quy định công nhân có thể không chấp nhận làm việc trong điều kiện nguy hại mà không sợ mất việc.

f. Buôn bán người

Luật H́nh sự cấm buôn bán phụ nữ và trẻ em; tuy nhiên, buôn bán phụ nữ và trẻ em v́ mục đích bóc lột t́nh dục và lao động trong và ngoài nước là vấn đề nghiêm trọng. Tuy không có luật nào cấm cụ thể việc buôn bán nam giới nhưng luật hiện hành cũng được áp dụng để truy tố bọn buôn người thuê hay gửi người ra nước ngoài để làm việc “thu lợi bất chính” hay các mục đích bất hợp pháp. Tuy không có số liệu đáng tin cậy về con số người bị buôn bán nhưng rơ ràng trong những năm gần đây có tăng lên. Vụ Tệ nạn Xă hội của MOLISA và Cục Cảnh sát H́nh sự của Bộ Công an là những cơ quan nhà nước chính chống lại việc buôn người, và hợp tác với Bộ Tư pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ, và Biên pḥng. Cảnh sát ngày càng có vai tṛ chủ động trong việc điều tra buôn người năm qua.

Trong năm qua, Chính phủ đă tăng cường nỗ lực truy tố bọn buôn người. Luật quy định án tù từ 2 đến 20 năm đối với những kẻ bị buộc tội buôn phụ nữ, và từ 3 năm đến chung thân đối với tội buôn bán trẻ em. Tháng 7/2002, một nghị định của chính phủ cấm sử dụng hôn nhân và nhận con nuôi vào mục đích liên quan đến buôn người. Hàng trăm kẻ buôn người đă bị kết tội và bỏ tù, đặc biệt trong một vụ rất lớn năm 2002 có hơn 150 người bị buộc tội mại dâm và buôn người di cư. Vụ này liên quan đến các cơ quan cấp bộ và bảo vệ pháp luật. Chính phủ đă hợp tác với các NGO quốc tế để bổ sung các biện pháp thực thi luật và hợp tác với các chính phủ khác để ngăn chặn buôn người. Chính phủ cũng đă hợp tác chặt chẽ với các nước khác trong khuôn khổ INTERPOL và đối tác châu Á.

Việt Nam là nguồn buôn bán người. Chủ yếu phụ nữ bị bán sang Campuchia và Trung Quốc để bóc lột t́nh dục và cho các cuộc hôn nhân đă được dàn xếp. Theo một báo cáo th́ từ 1999 đến 2000, khoảng 20.000 phụ nữ trẻ và thiếu nữ được đưa sang Trung Quốc để làm cô dâu, làm người ở hay gái mại dâm; tuy nhiên không rơ có bao nhiêu người là nạn nhân của nạn buôn bán người. Từ 1995 đến 2000, khoảng 5.000 phụ nữ và trẻ em bị bán và bỏ trốn sang Campuchia. Một số phụ nữ Việt Nam bị bán sang Singapore, Hồng Kông, Macau, Thái Lan, Đài Loan, Anh, và Mỹ. Có tin cho biết một số phụ nữ Việt Nam đi Đài Loan, Hồng Kông, Macao và Trung Quốc làm “cô dâu đặt hàng” cũng là nạn nhân của buôn người. Chính phủ ước tính khoảng 10% phụ nữ Việt Nam trong các đám cưới dàn xếp với đàn ông Trung Quốc đă bị sử dụng vào mục đích khác hay đă trở thành nạn nhân buôn người. Phụ nữ và trẻ em cũng bị buôn bán trong nước, thường là từ nông thôn lên thành thị. Các vụ buôn bán nam giới người lớn trong nước và ở nước ngoài rất hiếm. Trước đây, các nhóm tội phạm có tổ chức sử dụng Việt Nam như điểm trung chuyển người bị buôn từ Trung Quốc và Trung Đông sang Australia, châu Âu hay Canađa. Không như những năm trước, không có tin rằng Việt Nam là một nước trung chuyển của nạn buôn người trong năm qua.

Một số trẻ em bị buôn bán trong nước và số khác bị bán sang nước ngoài cho mục đích mại dâm. Một NGO cho biết tuổi trung b́nh của bé gái bị bán là từ 15 đến 17 tuổi. Một số nguồn tin cho biết độ tuổi của các bé gái bị bán sang Campuchia thậm chí c̣n thấp hơn. Dù con số thống kê không đáng tin cậy nhưng phụ nữ và bé gái bị buôn từ đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh vùng cao sang Campuchia và từ các tỉnh phía Bắc sang Trung Quốc chủ yếu v́ mục đích mại dâm, đi ở hay lấy chồng.

Các cơ quan cấp tỉnh và quốc gia coi đấu tranh chống buôn bán phụ nữ và trẻ em là một ưu tiên. Tháng 1, nhằm giải quyết vấn đề buôn bán trẻ sơ sinh làm con nuôi và tham nhũng trong thủ tục xin con nuôi, chính quyền đă đ́nh chỉ người nước ngoài xin con nuôi để chờ đàm phán về các nghị định thư song phương mới về xin con nuôi.

Có những nguồn tin cho biết một số phụ nữ ở TP Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long cưới chồng Đài Loan và bị ép làm mại dâm sau khi đến Đài Loan. C̣n có việc buôn bán phụ nữ sang Đặc khu Hành chính Macao ở Trung Quốc với sự trợ giúp của những tổ chức ở Trung Quốc đội lốt văn pḥng dịch vụ hôn nhân, các tổ chức lao động quốc tế và các công ty du lịch. Sau khi đến, phụ nữ bị ép buộc những điều kiện tương tự như nô lệ có giao kèo; một số bị ép bán dâm. Tháng 8/2002, Chính phủ ngừng việc cấp giấy phép dịch vụ môi giới hôn nhân và chuyển sang cho Hội Liên hiệp Phụ nữ. Dịch vụ này giúp dàn xếp hôn nhân giữa phụ nữ và người nước ngoài, chủ yếu là người Đài Loan. Các nguồn tin ngoại giao ước tính khoảng 15.000 đến 18.000 phụ nữ đă cưới chồng Đài Loan mỗi năm, mặc dù các nhà quan sát của chính phủ và NGO cho rằng hầu hết họ không bị buôn bán.

Phụ nữ và thiếu nữ nghèo, đặc biệt ở khu vực nông thôn, có nguy cơ bị buôn bán nhiều nhất. Dường như hầu hết nạn nhân đến từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ và An Giang và một số tỉnh phía Bắc như Quảng Ninh. Một số bị gia đ́nh bán con để đi ở hay bị bóc lột t́nh dục. Trong một số trường hợp, bọn buôn người trả cho gia đ́nh vài trăm đô-la Mỹ (một món tiền lớn đối với nhiều gia đ́nh) để được phép đưa con gái họ đi Campuchia “làm việc”. Nhiều nạn nhân chịu áp lực lớn đóng góp vào thu nhập của gia đ́nh. Một số khác được đề nghị những công việc béo bở nhờ quen biết. Quảng cáo lừa bịp, ràng buộc nợ, thu giữ giấy tờ và đe dọa trục xuất là những biện pháp phổ biến khác của bọn buôn người, đối tác hôn nhân và người thuê.

Có nhiều kẻ cơ hội và các mạng lưới lậu cũng như một số tổ chức đă dụ dỗ phụ nữ nghèo thường ở nông thôn với những lời hứa về việc làm hay hôn nhân và buộc họ bán dâm (xem Phần 5). Chính phủ khẳng định rằng các tổ chức tội phạm cả trong và ngoài nước đều dính đến các hoạt động tuyển mộ, trung chuyển và liên quan đến buôn bán khác.

Tham nhũng là vấn đề nghiêm trọng ở mọi cấp và một số quan chức đă dính líu đến việc khiến công nhân ở nước ngoài bị bóc lột hay bị buôn bán. Tuy rơ ràng là cá nhân một số quan chức hỗ trợ bọn buôn lậu nhưng không có bằng chứng về việc quan chức, các cơ quan hay chính phủ có dính đến buôn người. Không như những năm trước, không có tin về các quan chức chính phủ và các cá nhân liên quan bị kết án về các tội liên quan đến buôn người trong năm qua.

Các cơ quan nhà nước Việt Nam như MOLISA, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Ủy ban Dân số, Gia đ́nh và Trẻ em có những chương tŕnh tích cực nhằm ngăn chặn và bảo vệ các nạn nhân. Những chương tŕnh này gồm có tuyên truyền cảnh báo phụ nữ và bé gái về những nguy cơ trên, các chương tŕnh hồi hương giúp phụ nữ và dạy nghề cho em gái trong cộng đồng là những đối tượng được coi là dễ bị buôn bán. Các cơ quan nhà nước hợp tác chặt chẽ với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) và một số tổ chức phi chính phủ để cung cấp nơi ở tạm thời, dịch vụ y tế, giáo dục, tín dụng, tư vấn và cải tạo giáo dục những nạn nhân của nạn buôn người khi họ trở về. Tháng 3/2002, các quan chức chính phủ đă tổ chức một loạt cuộc họp với phía Trung Quốc để tăng cường việc bảo vệ nạn nhân và cải thiện quá tŕnh hồi hương. Trong năm qua, các quan chức chính phủ có những cuộc họp tương tự với Chính phủ Cămpuchia. Việt Nam cũng tham gia một dự án của ILO về buôn bán trẻ em khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

Mặc dù nạn nhân buôn người nói chung không bị đối xử như tội phạm nhưng một số phụ nữ bị buôn bán làm mại dâm bị truy tố về tội mại dâm hay bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm.

Các cơ quan an ninh với trách nhiệm kiểm soát biên giới cũng đă được đào tạo về nghiệp vụ điều tra có thể sử dụng để ngăn chặn nạn buôn người.