T́nh-trạng nhân-quyền
tại Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa
Việt-nam - Tự-do tôn-giáo
T́nh-h́nh chính-trị sau ngày thống-nhất
Sau khi thống-nhất năm 1976
Việt-nam đổi tên thành "Cộng-hoà Xă-hội
Chủ-nghĩa Việt-nam" và "Đảng
Lao-động Việt-nam" hiện-h́nh thành "Đảng
Cộng-sản Việt-nam". Hai mục-tiêu "vô-sản
chuyên-chính" và "đấu-tranh chống
chủ-nghĩa tư-bản quốc-tế"
được đưa vào Hiến-pháp năm 1980. "Chủ-nghĩa
mác – lênin và tư-tưởng Hồ Chí Minh"
chính-thức được chọn làm căn-bản
chỉ-đạo cho chính-sách của đảng và
nhà-nước. Điều 4 Hiến-pháp xác-định
độc-quyền cai-trị của đảng
cộng-sản: "Đảng Cộng-sản
Việt-nam, theo chủ-nghĩa Mác Lênin và tư-tưởng
Hồ Chí Minh, là lực-lượng lănh-đạo
nhà-nước và xă-hội và là nhân-tố chính đưa
cách-mạng việt-nam đến thành-công."
. Độc-quyền cai-trị của đảng
cộng-sản dựa trên chính-sách "3 không": 1. không
đa-nguyên chính-kiến, 2. không đa-nguyên chính-đảng,
3. không dân-chủ theo lối tây-phương.
Sau thống-nhất năm 1976
hầu như chỉ có các cán-bộ miền Bắc nắm
thực quyền trong chính-phủ cách-mạng lâm-thời và
toàn quyền chỉ-đạo chính-sách "tập-trung
dân-chủ". Những người miền Nam, dù có công
trong cuộc chiến, xem ra bị loại dần trong
tiến-tŕnh tái cấu-trúc chính-trị. Chính-sách
tập-thể-hoá nông-nghiệp quá-khích cũng như
việc nhắm mắt đem khuôn-mẫu kinh-tế
hoạch-định xă-hội chủ-nghĩa của
miền Bắc chụp lên miền Nam đă đưa
cả nước từ năm 1979 tới 1988 vào
khủng-hoảng, đói và khan-hiếm thực-phẩm.
Cuộc tấn chiếm Kampuchia
của quân-đội việt-nam cuối năm 1978 đă
lật đổ được chế-độ
tàn-bạo Pôn-pốt, nhưng đồng thời cũng
tạo ra muôn vàn khó-khăn cho kinh-tế nội-địa.
Thêm vào đó là trận chiến biên-giới tháng 3.1979 do
Trung-quốc khởi xướng để "phạt"
đàn em v́ tội xâm-lăng Kampuchia. Những đợt
đàn-áp chính-trị, khủng-hoảng kinh-tế và
t́nh-thế không lối thoát đă khiến hàng chục ngàn
người bỏ nước ra đi vào những năm
cuối thập niên 70 và đầu 80. Phong-trào vượt
biên vượt biển xẩy ra là do chiến-dịch
đánh tư-sản cấm tư-doanh và đổi
tiền vào đầu năm 1978. Những chiến-dịch
này, đặc-biệt đánh vào giới thương-gia và
con buôn hoa-kiều, là đầu mối của
biến-cố "thuyền-nhân" không tiền khoáng
hậu. Có khoảng 900.000 tới 1 triệu thuyền-nhân
đă bỏ nước ra đi kể từ 1975 tới
1990. Đa-số họ là người hoa, thành-phần
thương buôn chính ở miền Nam và đă bị
chính-quyền mới lấy mất căn-bản sinh
sống. Cao-uỷ tị-nạn Liên-hiệp-quốc (UNHCR)
cho rằng khoảng 30% thuyền-nhân đă phải bỏ
ḿnh trên biển v́ băo, thuyền đắm, đói khát,
hải-tặc. Hậu-quả biến-cố thuyền-nhân
là đất-nước thiếu hụt đi những
chuyên-viên cần-thiết trên mọi ngành: thương-gia,
trí-thức, nghệ-sĩ cũng như các thành-phần khác
cần cho nhu-cầu tái-thiết quốc-gia. Khoảng
500.000 tị-nạn là người hoa, đă sống từ
nhiều thế-hệ trên đất-nước
Việt-nam. Bên cạnh "thuyền-nhân" là khoảng
độ 250.000 người việt lao-động làm thuê
trả nợ và kiếm ngoại-tệ do nhà-nước
việt-nam gởi sang các nước "xă-hội
chủ-nghĩa anh-em" như Liên-xô, Đông-Đức,
Ba-lan, Tiệp....
Năm 1996 cán-bộ cao cấp
đă than-thở về t́nh-trạng thê-thảm của
đảng trên diễn-đàn đại-hội
đảng: "Đảng như một cái ḥm quí
lớn. Nh́n xa th́ lộng-lẫy. Đụng vào nghe kêu hay.
Nhưng mở ra th́ trống-rỗng". Đảng
cộng-sản nay vẫn tiếp-tục ở trong
t́nh-trạng khủng-hoảng. Nội-bộ chia-rẽ. Cán-bộ
tham-nhũng. Đảng không chịu rút kinh-nghiệm
những thất-bại quá-khứ và chẳng c̣n
người lănh-đạo có uy-tín nữa .
Câu nhắc đi nhắc lại biện-hộ cho sự
độc-quyền của đảng "Dù sao chúng ta
cũng là kẻ chiến-thắng" dần chẳng
c̣n xuôi tai thế-hệ trẻ nữa - thế-hệ
chẳng biết ǵ về cuộc chiến. T́nh-thế
đă buộc đảng phải nghĩ ra nguồn
bảo-chứng khác cho vai-tṛ độc-tôn của ḿnh. Và
họ đă khám-phá ra môn-bài "đổi mới
kinh-tế". Với môn-bài này đảng tuyên-bố
sẽ đưa đất-nước vào tương-lai
sáng-lạn.
Cứ nh́n vào
các lỗi-lầm thê-thảm trên lănh-vực nông-nghiệp và
xem tiến-tŕnh phát-triển chung của Việt-nam th́
môn-bài trên đây ít sức thuyết-phục.
Chương-tŕnh "kĩ-nghệ-hoá và
tân-tiến-hoá" của đảng và nhà-nước
không huy-động được người dân cùng làm.
Các nỗ-lực dai-dẳng nhằm đổi mới
đảng và bắt đầu từ hàng lănh-đạo
đảng luôn bị cánh lănh-đạo già ngăn-chận,
v́ họ sợ mất quyền-lợi. Chẳng hạn,
trong một lá thư gởi Bộ chính-trị nhân
đại-hội đảng lần 8 năm 1995
thủ-tướng Vơ Văn Kiệt kêu-gọi phải
công-nhận tính độc-lập của luật
kinh-tế thị-trường, chứ đừng lấy
nguyên-tắc ư-hệ ra làm cản-trở chúng; pháp-luật phải
đứng trên nhà-nước và đảng, v́ có như
vậy th́ các nhà kinh-doanh trong và ngoài nước mới
yên-tâm đầu-tư; bổ-dụng cán-bộ
lănh-đạo phải căn-cứ vào khả-năng
chứ không phải v́ đảng-tịch; khẩu-hiệu
"tập-trung dân-chủ" và "chuyên-chính
vô-sản" không c̣n hợp nữa. Dù Vơ Văn Kiệt
tuyên-bố vẫn bám vào chủ-nghĩa xă-hội, song
các đề-nghị của ông xem ra đi ngược
hoàn-toàn với những ư-kiến đề-nghị. Có
lẽ nên coi ông là trạng-sư của một thứ
chủ-nghĩa quốc-gia việt-nam. Đảng
cộng-sản đă thất-bại từ lâu trong trận
đấu dành độc-quyền ư-hệ .
Chủ-nghĩa mác – lênin, với cái đuôi nội-hoá "và
tư-tưởng Hồ Chí Minh" chẳng c̣n âm-vang ǵ
nơi lớp trẻ. Đảng vẫn tổ-chức
những buổi lễ kỉ-niệm thật đông
người, nhưng xem ra đấy chỉ c̣n là một
thứ nghĩa-vụ phải làm mà thôi. Lí-lẽ biện-minh
cuối cùng cho vai-tṛ bám-trụ của đảng là
khả-năng có thể xẩy ra
bạo-loạn, như việc sụp-đổ
bất-ngờ ở các nước Đông-Âu trước
đây. H́nh-ảnh hù-doạ này trước mắt c̣n
tác-dụng, nhưng về lâu về dài và trước
những thay-đổi to-lớn mọi mặt của
đất-nước nó sẽ chẳng có hiệu-quả . Ở đại-hội
đảng lần 9 tháng 4.2001 Nông Đức Mạnh, lúc
đó là chủ-tịch quốc-hội, được bầu lên ghế
tổng-bí-thư đảng, thay Lê Khả Phiêu. Thay
đổi nhân-sự này được đánh-giá là
chính-sách đổi mới kinh-tế vẫn
được tiếp-tục và phe thủ-cựu đă bị
lép vế.
T́nh-h́nh
chính-trị và kinh-tế hiện nay
Cộng-hoà
Xă-hội chủ-nghĩa Việt-nam và Cộng-hoà Nhân-dân
Trung-hoa là hai nước thành-tŕ xă-hội chủ-nghĩa
c̣n lại ở châu Á. Về đối-ngoại, từ sau
ngày thống-nhất, Việt-nam một thời-gian dài
hoàn-toàn ngả theo Liên-xô và các nước thuộc khối
Comecon. Sau khi các chế-độ xă-hội chủ-nghĩa
hiện-thực ở Đông-âu sụp-đổ và Liên-xô
xoá-tên năm 1989, Việt-nam bị mồ-côi về
kinh-tế và chính-trị trong một thời-gian dài. Bang-giao
với anh láng-giềng khổng-lồ Trung-quốc bị
đông lạnh kể từ sau cuộc tiến chiếm
Kampuchia năm 1978 và trận chinh-phạt đầu năm
1979 của Tàu. Sau ngày rút quân khỏi Kampuchia vào tháng 9.1989
tới nay, liên-hệ đó vẫn ở trong không-khí
ngờ-vực. Dù vậy, tháng 12.2001 hai bên đă kí với
nhau một hiệp-ước qui-định lại
một số điểm tranh-chấp về biên-giới,
nhưng bỏ ra ngoài việc giải-quyết
chủ-quyền trên quần-đảo Trường-sa,
nơi dự-đoán có dầu-khí và v́ thế là vùng
tranh-chấp của không những Việt-nam, Trung-quốc
mà cả Inđônêsia và Phi-luật-tân. Tháng 7.1995, nhờ
được nhận vào khối các quốc-gia
Đông-nam-á (Asian), Việt-nam đă có được
những tương-quan tốt-đẹp hơn với
các quốc-gia láng-giềng trong vùng. Năm 1995, với
việc tái lập ngoại-giao với Hoa-ḱ và trước
đó một năm được Hoa-ḱ bỏ lệnh
cấm-vận, chương khó-nuốt và nặng-nề
nhất của cuộc chiến như vậy đă
được lật qua.
Tiền-đề
cho những thay-đổi đó là sự
chuyển-hướng kinh-tế việt-nam. Sự
phá-sản kinh-tế và t́nh-h́nh cấp-bách về
lương-thực thực phẩm đă buộc
đảng cộng-sản, trong đại-hội 6 năm
1986, phải từ-giă kinh-tế chỉ-huy để lân-la
vào quĩ-đạo thị-trường với hi-vọng
may ra có thể gia-tăng sản-lượng nông-phẩm và
kĩ-nghệ. Nhà-nước thả-lỏng giá,
giải-tán hợp-tác-xă nông-nghiệp, cho phép nông-dân
sử-dụng đất, mở cửa cho xí-nghiệp
tư. Chính-sách kinh-tế này dùng sáng-kiến cá-nhân làm
động-cơ phát-triển, và trong giai-đoạn
đầu đă đạt được những
thành-quả cũng như đă làm tăng tỉ-trọng
thành-phần kinh-tế tư-nhân .
Một thành-quả thấy rơ là kể từ đầu
thập niên 90´ Việt-nam lại có thể xuất-cảng
một lượng gạo đứng hàng thứ ba sau
Hoa-ḱ và Thái-lan. Một
tác-động phụ của cơ-cấu kinh-tế
mới này là sự bùng-nổ chênh-lệch giàu nghèo, một
yếu-tố gây vẩn-đục không-khí và tạo
căng-thẳng xă-hội măi tới hôm nay. Đă thế,
lại thêm bệnh tham-nhũng càng ngày càng bành-trướng
trong mọi cơ-cấu hành-chính và kinh-tế. Ưu-tiên
hàng đầu của nhà-nước là chống
tham-nhũng. Nhưng tham-nhũng lại khởi đi
từ thượng-tầng đảng và nhà-nước,
nên mọi biện-pháp chống-trả xem ra thật ít
hiệu-quả. Lớp chiến-sĩ già sống-sót trong
cuộc-chiến chống Mỹ, nhiều người
với thương-tật suốt đời, giờ
đây chua-chát nh́n đám cán-bộ cao cấp và con cháu
họ sống trong xa-hoa, trong khi chính ḿnh lại chẳng
nhận được chút tiền hưu để
sống cho ra người .
Báo-chí quốc-tế thường nói tới Việt-nam
như là một trong những quốc-gia tham-nhũng
nặng nhất. Bộ mặt ngày càng méo-mó v́ tham-ô này
tác-động tiêu-cực lên việc đầu-tư
ngoại-quốc. Thêm vào đó là nạn bàn-giấy
cửa-quyền gây chậm-trễ mọi thứ
giấy-tờ và dịch-vụ .
Đảng
cộng-sản tiếp-tục đ̣i vai-tṛ độc-tôn
Dù có những
đổi-thay kinh-tế rộng-lớn, đảng
cộng-sản vẫn tiếp-tục dưới chiêu-bài
"dân-chủ tập-trung" đ̣i cho ḿnh vị-trí
ưu-tiên trong địa-hạt chính-trị, với
biện-luận rằng đảng đă đánh thắng
Hoa-ḱ và miền Nam năm 1975 để thống-nhất
đất-nước. Biện-luận này đối
với tầng lớp trẻ hiện nay, mà 60% sinh sau
cuộc chiến, xem ra càng ngày càng xa-lạ. Dưới con
mắt người trẻ, lớp cán-bộ
cộng-sản ǵa, hiện vẫn ngồi ở Bộ
chính-trị hoặc trong các cơ-quan lănh-đạo
chính-trị, nay là những vật hoá-thạch của
một thời xa-xăm. Điệp-khúc đấu-tranh
giai-cấp và xây-dựng xă-hội chủ-nghĩa chằng
c̣n một chút âm-vang nào nữa. Lối sống của
đại đa-số người dân hiện nay
phản-ánh sự đổi-thay kinh-tế càng ngày càng
xa-rời xă-hội chủ-nghĩa.
Tham-nhũng
đầy-dẫy trong mọi cấp của đảng
cũng là lí-do chôn-vùi uy-tín của đảng. Càng mất
uy, đảng lại càng ra sức tăng-cường
kiểm-soát để ḥng chận đà đổ-vỡ
của ḿnh. Khi đưa ra kế-sách đổi mới kinh-tế
vào năm 1986, trong đảng cũng có người
đề-nghị nên tiến-hành song-song đổi mới
chính-trị. Nhưng thành-phần tiến-bộ này đă
bị phe thủ-cựu ngăn-chận và loại ra, có
người đă phải vào tù, cải-tạo.
Đề-nghị đổi mới chính-trị trên
lại bùng lên vào năm 1989, khi Liên-xô và Đông-âu
sụp-đổ. Nhưng v́ sợ con ma dân-chủ có
thể bóp cổ chế-độ nên đảng
cộng-sản việt-nam và trung-hoa đă nhanh-chóng dập
tắt.
Giáo-hội
công-giáo ở Việt-nam từ
sau thời thuộc-địa
tới ngày thống-nhất (1945 – 1976)
Vai-tṛ giáo-hội công-giáo trong
cuộc kháng-chiến giành độc-lập (1941-1945)
Giáo-hội công-giáo đă góp
phần trong việc chống lại lực-lượng
chiếm-đóng Nhật (1941-45). Sau khi Nhật thua vào
năm 1945, Pháp trở lại chính-sách đô-hộ, th́
nhiều người công-giáo đă tham-gia kháng-chiến
chống thực-dân. Nhưng dù vậy, hành-động
đó đă không xoá được h́nh-ảnh tiêu-cực
vốn sẵn nơi người việt, vẫn coi
người công-giáo là những kẻ phản-quốc,
"theo ngoại-giáo", "theo Tây". Tuyệt
đại đa-số người công-giáo đă
ủng-hộ tuyên-bố độc-lập do Hồ Chí
Minh, người sáng-lập "Việt-nam
Độc-lập Đồng-minh" (Việt-minh,
1941), đọc ngày 02 tháng 09 năm 1954 tại Hà-nội.
Trong thời-gian đầu, những liên-hệ và
cộng-tác giữa chính-phủ Hồ Chí Minh và công-giáo
diễn-tiến tốt-đẹp. Mọi tầng-lớp
dân-chúng, kể cả người công-giáo, ai-ai cũng
hồ-hỡi đón chào nền độc-lập của
nước-nhà. Đảng cộng-sản việt-nam
trưng ra lá bài dân-tộc thuần-tuư và đă khôn-khéo
dấu kín mục-tiêu độc-quyền toàn-trị
của ḿnh.
Tháng 11.1945, khi tướng Leclerc
quyết-tâm lập lại nền đô-hộ của Pháp,
các giám-mục việt-nam đă ra một thư chung
kêu-gọi tín-hữu công-giáo trên thế-giới
yểm-trợ nhân-dân việt-nam trong cuộc
tranh-đấu bảo-vệ nền độc-lập.
Hồ Chí Minh lúc này cũng cố-gắng t́m sự
cộng-tác của giới công-giáo, mà theo ông, là thành-phần
với vốn học-thức cao có thể góp công sức
hữu-hiệu trong việc xây-dựng quốc-gia .
Năm 1950, tổ-chức Uỷ-ban Đoàn-kết
Công-giáo, với sự tham-gia của giáo-sĩ lẫn
giáo-dân, được h́nh-thành tại miền Bắc.
Uỷ-ban gia-nhập phong-trào đấu-tranh chung do Hồ
Chí Minh lănh-đạo. Thời đó, đa-số
người công-giáo đứng vào mặt-trận chống
Pháp dành độc-lập.
Đầu những năm 50´
t́nh-h́nh chính-trị việt-nam biến-chuyển nhanh, v́ càng
ngày chính-phủ việt-minh càng để lộ
chủ-trương theo cộng-sản và
độc-quyền trị nước của ḿnh.
Việc đảng cộng-sản thanh-toán nghiệt-ngă các
thành-phần yêu nước khác đă đặt
người công-giáo trước sự chọn-lựa
giữa hai cái xấu. Và nhiều người đă
chấp-nhận thực-dân pháp như là cái ít xấu hơn
và rời-bỏ kháng-chiến. Tháng 11.1951
Hội-đồng Giám-mục Việt-nam đưa ra
bản nhận-định, trong đó lặp lại
nguyên-tắc của Giáo-chủ Rôma, rằng người
công-giáo không được gia-nhập đảng
cộng-sản và cấm-chỉ mọi sự cộng-tác
với tổ-chức này. Chính-quyền cộng-sản
phản-ứng lại bằng trấn-áp bắt-bớ
tín-hữu, tịch-thu trường học, nhà thương
và các cơ-sở khác của giáo-hội, đánh thuế
thật nặng lên những cơ-sở c̣n lại.
Giáo-hội công-giáo trong một
đất-nước phân-chia (1954-1975)
Cuộc chiến giữa
chính-phủ việt-minh và thực-dân pháp từ 1949 tới
1954 càng ngày càng leo thang. Và nó đă chấm dứt sau
cuộc thua trận của Pháp ở phủ
Điện-biên ngày 07.05.1954.
Ngày 21.07.1954 bản Hiệp-định
đ́nh-chiến được kí tại Genève. Theo đó
Việt-nam bị chia đôi tại vĩ-tuyến 17. Dân
chúng hai miền trong ṿng 300 ngày, nghĩa là cho tới
20.07.1955, được quyền tự-do ra Bắc hay vô
Nam theo ư ḿnh. Năm 1954 Việt-nam
có 23 triệu dân, dân hai miền tương-đối ngang
nhau. Hiệp-định Genève, với điều-khoản
tự-do chuyển cư, đă làm mất cân-bằng
dân-số. 860.000 dân Bắc, trong đó khoảng 650.000
công-giáo, nghĩa là khoảng 40% tổng-số giáo-dân và
hơn 70% linh-mục miền Bắc, đă di vào Nam. Chính-phủ
Hồ Chí Minh ra sức thuyết-phục người
công-giáo ở lại bằng hứa-hẹn tự-do
tôn-giáo, nhưng không kết-quả. Cuối cùng họ dùng
biện-pháp mạnh: truy-nă, tống giam những kẻ
tổ-chức vượt tuyến, nhiều người
trong số đó đă bị chính-quyền cộng-sản
xử tử .
Giáo-hội công-giáo ở miền
Bắc (1954-1975)
Miền Bắc có trên dưới 1
triệu tín-hữu. Sau cuộc ra đi, chỉ c̣n
độ 300.000. Với 650.000 từ Bắc vào, số
tín-hữu miền Nam bổng nhiên được tăng
thêm 2/3. Chỉ có 300, trong tổng-số 1.127 linh-mục làm
mục-vụ, ở lại Bắc, trong số đó
nhiều vị đă già và đau yếu. Đă ít
người tin rằng giáo-hội miền Bắc có
thể sống-sót sau cơn xuất huyết nhân-sự
đó. Thêm vào đó, chính-quyền cộng-sản ra một
lô sắc-lệnh và qui-chế
ngăn-cản việc đào-tạo linh-mục mới.
Muốn chiêu sinh hay phong chức phải có phép
nhà-nước. Nhiều thanh-niên muốn đi tu th́ bị
ḱm-giữ lâu-dài trong quân-dịch hoặc bị muôn vàn
khó-dễ khác làm nản chí tiến thân. Chính-quyền
cộng-sản coi người công-giáo là kẻ thù ư-hệ.
Và trái lại, nhiều người công-giáo đă
dứt-khoát cho thấy quan-điểm đối-kháng
của ḿnh qua việc vượt-thoát trốn-chạy
chế-độ.
Tháng 6.1955 chính-quyền miền
Bắc ra một nghị-định tôn-giáo, một mặt
bảo-đảm tự-do tôn-giáo mặt khác lại khoá
việc thực-thi tự-do đó bằng nhiều
điều-kiện và qui-chế khắt-khe.
Nghị-định viết về tự-do tôn-giáo: "Công-dân
được tự-do tín-ngưỡng. Không ai có quyền
xâm-phạm tự-do này. Mọi công-dân có quyền xưng
đạo và truyền đạo của ḿnh, với
điều-kiện không làm tổn-hại đến
độc-lập và tự-do của nhà-nước, đến
trật-tự xă-hội và luật-pháp của
nhà-nước Việt-nam dân-chủ cộng-hoà".
Trong một khoản khác (Điều 14), ngoài việc
xác-định tự-do hành đạo, bổn-phận
của người hành-lễ cũng được ghi rơ:
"Khi giảng, người hành-lễ đồng
thời có bổn-phận phải nhắc-nhở
tín-đồ ḿnh về các bổn-phận yêu nước,
về ư-thức bổn-phận công-dân, kính-trọng nhà
cầm quyền và tôn-trọng pháp-luật
nhà-nước". Luật cải-tạo nông-nghiệp
có đề-cập tới phương-tiện nuôi
sống giáo-sĩ và chăm-sóc sửa-sang nơi
thờ-tự. Luật này, trong mục tịch-thu
đất-đai, có dự-trù để lại một
khoản đất ruộng để các giáo-hội dùng
làm phương-tiện chăm-sóc và sửa-sang nhà thờ,
chùa, đền (Điều 10 Luật tôn-giáo).
Hiến-pháp có ghi tự-do tôn-giáo,
nhưng tự-do này đă bị hạn-chế bởi
một lô những sắc-lệnh chặt-chẽ.
Linh-mục bị hạn-chế đi-lại tối-đa,
khiến việc thăm bệnh-nhân, viếng kẻ
liệt ngoài khuôn-viên giáo-xứ không thể thực-hiện
được. Linh-mục không được vào bệnh-viện,
v́ bí-tích xức dầu bệnh-nhân chỉ được
làm trong nhà thờ mà thôi. Cấm linh-mục giảng
đạo cho người ngoài, v́ như thế là cố
t́nh "ảnh-hưởng lên suy-nghĩ" người
khác và như vậy có thể làm phương-hại
đến nền an-ninh, hoà-b́nh và thống-nhất
quốc-gia.
Mười năm sau ngày có
nghị-định tự-do tôn-giáo, nghĩa là tới
năm1965, giáo-hội miền Bắc mang bộ mặt
thật thảm-thương: tài-sản bị tịch-thu,
cơ-quan ngôn-luận bị đóng cửa, tất cả
trường học bị quốc-hữu. Các lớp
giáo-lí chỉ c̣n được diễn-ra trong nhà thờ.
Thánh lễ thường bị các nhóm thanh thiếu-niên
với sự bao-che của công-an phá-rối .
Nhiều nơi trong số 12 giáo-phận tại miền
Bắc không có giám-mục, v́ việc bổ-nhiệm bị
chính-quyền từ-chối hoặc gây khó-dễ
dai-dẳng. Khâm-sứ Toà thánh John Dooley bị đau
phải rời nhiệm-sở. Vị đại-diện
của ngài, Terenz O´Driscoll bị trục-xuất ngày
17.08.1959. Theo gương Trung-quốc, chính-quyền
cộng-sản miền Bắc cũng lập ra
tổ-chức Ủy-ban liên-lạc toàn-quốc những
người Công-giáo yêu Tổ-quốc và yêu Hoà-b́nh (gọi
tắt Uỷ-ban liên-lạc Công-giáo toàn-quốc) vào
năm 1955, nhưng không thành-công lắm. Để
phản-ứng lại việc làm gây chia-rẽ giáo-hội
đó, các giám-mục cấm giáo-dân và giáo-sĩ không
được tham-gia vào "Uỷ-ban liên-lạc
Công-giáo toàn-quốc". Chính-quyền rơ-ràng muốn dùng
uỷ-ban để chia-rẽ nội-bộ giáo-hội và
nhất là tách giáo-hội miền Bắc ra khỏi
liên-hệ mật-thiết với Giáo-chủ Rôma.
Thái-độ chống-đối dứt-khoát của các
giám-mục đă khiến cho những giáo-sĩ và giáo-dân
tham-gia vào uỷ-ban bị cô-lập khỏi
cộng-đồng dân Chúa. Thiểu-số c̣n lại bám-trụ
trong ủy-ban được lănh-đạo
cộng-sản coi là đại-diện chính-thức
của người công-giáo trước mặt
chính-quyền.
Trong thập niên 60 và 70 liên-lạc
giữa giáo-hội miền Bắc và thế-giới bên
ngoài bị hạn-chế tối-đa và hầu như
không có. Chẳng có giám-mục nào được phép đi
dự các cuộc họp công-đồng Vatican 2 (1962-65).
Trong một thời-gian dài các văn-kiện
công-đồng cũng như việc thực-thi những
cải-tổ đó đă không tới được
với giáo-hội miền Bắc. Truyền-thông
quốc-tế thời đó hầu như chỉ cho tin
về cuộc chiến, mà thường là nh́n từ
góc-độ miền Nam Việt-nam. Không một đài báo
nào loan tin về cuộc sống giáo-hội hoặc về
các giáo-hữu miền Bắc. Caritas quốc-tế là đường
dây duy-nhất giữ mối liên-lạc của giáo-hội
với thế-giới bên ngoài. Đức ông Georg Hüssler,
giám-đốc cơ-quan thiện-nguyện này, đă có
thể vào thăm Việt-nam nhiều lần. Cả
tổ-chức Misereor lúc đó cũng giữ liên-lạc và
đă giúp-đỡ nhân-đạo cho Việt-nam. Trước
ngày đất-nước thống-nhất không lâu,
giám-mục phó Hà-nội Trịnh Văn Căn
được phép sang Roma tham-dự
thượng-hội-đồng giám-mục thế-giới
năm 1974 . Nhưng
đối lại, chính-quyền đă không cho
hội-đồng giám-mục miền Bắc gia-nhập "Hội-đồng
Giám-mục Á châu" mới được thành-lập
trước đó, năm 1971.
Giáo-hội công-giáo ở miền
Nam (1954-1975)
Biến-cố chia-cắt
đất-nước năm 1954 là một cuộc
đổi-đời
lịch-sử cho đất-nước và giáo-hội
việt-nam. Miền Nam lúc đó có 11 triệu dân. Với
số tín-hữu từ Bắc vào, giáo-hội trong Nam
bổng chốc tăng lên 1,4 triệu. Qua việc bầu
Ngô Đ́nh Diệm (công-giáo) lên ghế thủ-tướng
(1955-63), người công-giáo cũng trở thành
lực-lượng chính-trị dẫn đầu trong
nước . Trước khi có cuộc
di-cư, công-giáo ở miền Nam chỉ độ 7% trên
tổng-số dân. Dù vậy, thiểu-số này lại
giữ một tỉ-lệ quá lớn trong hàng
lănh-đạo chính-trị và quân-đội. Năm 1960
người công-giáo chiếm 66% số thượng-nghị-sĩ,
30% dân-biểu và 21% sĩ-quan cao cấp. Ngoài ra những
vai-tṛ chủ-chốt trong nội-các cũng đều do
công-giáo nắm-giữ. Ngô Đ́nh Diệm cùng với anh là
hồng-y Ngô Đ́nh Thục ở Huế theo-đuổi
một chính-sách chống cộng quyết-liệt. V́
thiếu tế-nhị trong việc chọn-lựa
phương-tiện nắm giữ quyền, chính-sách
của Ngô Đ́nh Diệm đă gây ảnh-hưởng
tiêu-cực lên uy-tín của giáo-hội công-giáo, nhất là trong
tương-quan với Phật-giáo. Một mặt ông
Diệm là người ngay-thẳng thanh-liêm. Mặt khác ông
lại quá đam-mê quyền-lực và bằng mọi cách
bám-giữ nó. Ông quá gắn-bó với gia-đ́nh, để
cho thân-nhân nắm những vai-tṛ chủ-chốt trong
chính-quyền. Đă thế, những người này nhiều
khi đă dùng những đ̣n-phép tham-nhũng để mua
lấy ghế ngồi của ḿnh. Tất cả những
thứ đó cuối cùng đă chôn-vùi uy-tín cả
chính-quyền ông. Cuộc đảo-chánh
bạo-động lật đổ ông tháng 11.1963 v́
thế đă được đông-đảo
quần-chúng hoan-nghênh.
Từ năm 1954 tới 1969
người công-giáo đă tạo-dựng được
một hệ-thống trường học mạnh. Năm
1953, họ chỉ có 3 trường trung-học. Năm 1969,
con số lên tới 226 trường với 82.827
học-sinh công-giáo và 70.101 học-sinh không công-giáo. Song-song,
cho tới năm 1969, hệ-thống tiểu-học
công-giáo với 1.030 trường cũng đă
được gia-tăng mở rộng.
Đại-học công-giáo có mặt ở Sài-g̣n,
Đà-lạt và Huế. Hoạt-động công-giáo trên
mặt y-tế và cứu-trợ xă-hội rất
được trọng-nể. Các giám-mục miền Nam
tham-dự tích-cực trong các khoá họp công-đồng
(1962-65). Các quyết-nghị công-đồng về
cải-tổ phụng-vụ, huấn-luyện linh-mục,
về quan-điểm đối với các tôn-giáo khác
cũng như hiến-chế về mục-vụ và
nhiều sáng-kiến đổi mới khác của
công-đồng đă được áp-dụng
tương-đối sớm tại miền Nam.
Hội-đồng giám-mục miền Nam cũng là
hội-viên thành-lập của "Hội-đồng
Giám-mục Á châu" (FABC).
Những nét lớn về chính-sách tôn-giáo sau 1975
Lí-luận mác-lênin về tôn-giáo làm
căn-bản cho chính-sách tôn-giáo
Cũng như mọi nước
cộng-sản hiện nay và trước đây,
đảng cộng-sản và chính-quyền việt-nam
lấy lí-luận phê-b́nh tôn-giáo của Marx và Lenin làm kim
chỉ-nam cho chính-sách tôn-giáo của họ. Theo đó,
tôn-giáo -"thuốc phiện của dân"- là
sản-phẩm của một dạng xă-hội nào đó
bày ra để đàn-áp và bóc-lột giới vô-sản.
Tôn-giáo, trong nhất thời, với hứa-hẹn của
chúng về một thiên-đường tương-lai, có
thể có một tác-dụng xoa-dịu nào đó. Nhưng xét theo quan-điểm vô-thần
khoa-học th́ tôn-giáo sẽ tự chết dần và
biến mất, khi xă-hội xă-hội chủ-nghĩa
được h́nh-thành. Trong khi chờ-đợi tới
ngày các tôn-giáo biến mất, chính-quyền cần và nên có
một chính-sách để hướng chúng vào công cuộc
xây-dựng xă-hội xă-hội chủ-nghĩa. Điều
này có nghĩa là bắt tôn-giáo tự đào mồ
chuẩn-bị chôn chính chúng.
Ở Việt-nam, người
cộng-sản nh́n tôn-giáo với con mắt nghi-kị
hơn, là v́ họ coi tôn-giáo là đồng-minh của
kẻ thù, là "thế-lực phản-động
của chủ-nghĩa tư-bản", luôn t́m cách
cấu-kết với các lực-lượng
thù-địch khác để âm-mưu lật-đổ
chế-độ. Nhiều năm dài cộng-sản
việt-nam đă đeo-đuổi một chính-sách
chống tôn-giáo gắt-gao. Chính-sách này không chỉ
đọc thấy trong các văn-bản pháp-lí chính-thức
của đảng và chính-quyền, mà c̣n thể-hiện qua
nghệ-thuật và nhất là qua văn-chương.
Giáo-sĩ, giáo-dân công-giáo thường được
sách-vở cộng-sản tŕnh-bày như là những tay
giả-h́nh và lừa-đảo, miệng nam-mô nhưng ḷng
bồ dao găm.
Cái nh́n tiêu-cực của
đảng cộng-sản và chính-quyền việt-nam
phản-ảnh trong nhiều tài-liệu liên-quan tới
chính-sách nhà-nước phổ-biến sau ngày
đất-nước thống-nhất năm 1976 - và
cả trước đó nữa .
Qua đó ta thấy cộng-sản sử-dụng ba thứ
ngôn-từ khác nhau. Thứ nhất là "ngôn-từ
bao-dung" hay "đưa tay ra",
được dùng trong các cuộc tiếp-xúc giữa
đại diện đảng và nhà-nước với các
đại-diện tôn-giáo. Đây là thứ ngôn-ngữ
của "Mặt-trận liên-hiệp", của "Uỷ-ban
Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước", của
việc hô-hào mọi tổ-chức, mọi tôn-giáo cùng
nắm tay để xây-dựng xă-hội chủ-nghĩa.
Theo ngôn-ngữ này th́ người cộng-sản và
người công-giáo nên cộng-tác với nhau, trong lúc phía
đảng th́ cấm mọi h́nh-thức
đối-thoại hay thảo-luận về lí-thuyết,
v́ giữa hai thực-thể này không có ǵ chung.
Một ngôn-từ khác
xuất-hiện trong các văn-bản pháp-lí chính-thức
qui-định về sinh-hoạt tôn-giáo.Chẳng hạn
Sắc-lệnh 296 ngày 11.11.1977 nói về chính-sách tôn-giáo
của nhà-nước: " bảo-đảm tự-do
tín-ngưỡng nhưng đồng thời nghiêm-cấm
mọi thế-lực chống cách-mạng lợi-dụng
tôn-giáo làm cản-trở sự-nghiệp xây-dựng
xă-hội chủ-nghĩa". Sắc-lệnh
tôn-giáo năm 1977 nói về tự-do tôn-giáo: "Mọi
hoạt-động tôn-giáo phải tuân theo pháp-luật và
chính-sách nhà-nước". Điều 68 Hiến-pháp
năm 1980 của nhà-nước cộng-sản
việt-nam: "Công-dân có quyền tự-do
tín-ngưỡng, tôn-giáo, theo hoặc không theo một tôn-giáo
nào. Không ai được xâm-phạm tự-do
tín-ngưỡng, tôn-giáo để làm trái pháp-luật và
chính-sách của nhà-nước". Điều 38
của Hiến-pháp này khẳng-định: "Chủ-nghĩa
mác-lênin định-hướng sự phát-triển
xă-hội". Nhà-nước cộng-sản
chính-thức công-nhận 6 tập-thể giáo-hội:
Phật giáo, Công-giáo, Cao-đài, Hoà-hảo, Hồi-giáo (Islam)
và Tin-lành. Một vài nhóm khác như "Giáo-hội
Phật giáo Thống-nhất" ,
một số thành-phần Cao-đài, Hoà-hảo và Tin-lành
không sinh-hoạt trong các tổ-chức được
nhà-nước nh́n-nhận.
Giáo-hội công-giáo và tự-do tôn-giáo sau 1975
Sau ngày thống-nhất năm 1976
mối liên-hệ giữa giáo-hội công-giáo và đảng
cộng-sản không sáng-sủa, v́ thái-độ chống
cộng của người công-giáo miền Nam trước
đây. Một loạt giáo-sĩ và giáo-dân bị kết án
v́ nhiều tội, trong đó kể cả tội chống
cộng và đă trốn chạy vào Nam. Nhiều
người di-cư đă phải vào tù cải-tạo
nhiều năm. Nhiều người đă bỏ ḿnh v́ đói,
bệnh hoặc bị tàn-phế trong các trại tù
khổ-sai và thiếu-thốn đó. Các trường
học, cư-xá sinh-viên, nhà thương, viện mồ-côi
của giáo-hội bị trưng-thu và quốc-hữu.
Khâm-sứ Toà-thánh, tổng-giám-mục Henri Lemaitre, và các
thừa-sai ngoại-quốc bị trục-xuất. Nói tóm
lại, ngoài các nạn-nhân giáo-sĩ, tu-sĩ và giáo-dân
công-giáo, c̣n có trên dưới 200.000 quân cán chính miền Nam,
trong đó gồm cả những trí-thức, y-sĩ và
văn nghệ-sĩ, đă
bị tập-trung vào tù cải-tạo lâu năm.
Đời sống đạo trên
hai miền Bắc Nam phát-triển rất khác nhau. Cho
tới 1975, giáo-hội miền Nam đă thực-hiện
được một số đổi mới theo
tinh-thần công-đồng Vatican 2. Họ cũng đă
đóng vai-tṛ trọng-yếu trong FABC. Sau ngày
thống-nhất, liên-lạc giữa giáo-hội việt-nam
- từ 1980 đă hợp chung lại thành Hội-đồng
Giám-mục Việt-nam – với thế-giới bên ngoài
bị cản-trở, đặc-biệt việc
hợp-tác giữa các giáo-hội châu Á bị tác-hại
nhiều nhất. Tuy nhiên, nhà-nước đă không cắt
đứt sợi dây liên-lạc - thể-hiện qua các
chuyến viếng giáo-đô (ad limina) cứ 5 năm một
lần - của các giám-mục với Giáo-chủ ở
Vatican . Sau 1980
các giám-mục được phép đi ad limina và đi
dự các cuộc họp giám-mục thế-giới.
Nhưng các sinh-hoạt với FABC vẫn bị cấm
trong nhiều năm .
Dù có những kinh-nghiệm
tiêu-cực trong giai-đoạn đầu, các giám-mục
đă sớm xác-định sự sẵn-sàng hợp-tác
của giáo-hội công-giáo trong công cuộc tái-thiết
đất-nước thống-nhất, và sẵn-sàng
dấn-thân trong các lănh-vực giáo-dục, y-tế,
văn-hoá và truyền-thông xă-hội. Tháng 7.1976 các
giám-mục đă ra một thư chung cởi-mở làm
chỉ-hướng cho cuộc sống dưới
chế-độ cộng-sản. Các ngài kêu-gọi
tín-hữu công-giáo cộng-tác vào những sinh-hoạt
cụ-thể không trái với đức tin và
lương-tâm để cùng xây-dựng tổ-quốc và
xă-hội. Tổng-giám-mục giáo-phận thành-phố
Hồ Chí Minh (trước đây là Sài-g̣n) Phao-lô Nguyễn
Văn B́nh, lúc đó làm chủ-tịch hội-đồng
giám-mục, đă nỗ-lực rất nhiều trong
việc t́m-kiếm một thoả-hiệp sống (modus
vivendi) với chế-độ cộng-sản. Một
số người chỉ-trích cho rằng ngài đă đi
xa quá trong việc này, nhưng đă không ai có thể kết
án việc làm của ngài đă gây phương-hại
tới các nguyên-tắc căn-bản của đức tin
và luân-lí.
Từ 24.04. tới 01.05.1980,
lần đầu tiên từ 1952, các giám-mục toàn quốc
đă có thể họp chung tại Hà-nội .
Với thư chung đại-hội, các giám-mục
tiếp-tục nỗ-lực t́m tương-quan hài-hoà
với chính-quyền cộng-sản .
Qua thư chung này, các giám-mục nhấn mạnh rằng
giáo-hội công-giáo muốn 1. cùng với tất cả
những người việt khác chung tay xây-dựng và
bảo-vệ tổ-quốc và 2. xây-dựng một
giáo-hội sống-động trên căn-bản
truyền-thống dân-tộc. Tài-liệu mật viết
năm 1982 cho thấy khá rơ mục-tiêu của đảng
đối với giáo-hội công-giáo.
Theo đó, phải làm sao để "dụng-cụ
tay-sai đế-quốc và chống cộng" này
trở thành một "tôn-giáo phục-vụ
nhà-nước", thành một tôn-giáo "yêu
nước", "tiến gần lại với
xă-hội chủ-nghĩa". Muốn vậy,
đảng và nhà-nước phải làm sao lập "một
giáo-hội độc-lập, vượt ra ngoài mọi
lệ-thuộc với nước ngoài". Đảng
phải làm sao lợi-dụng những khác-biệt sẵn
có giữa các thành-phần cấp-tiến, bảo-thủ và
lưng-chừng trong giáo-hội công-giáo để
thực-hiện kế "chia để trị".
Căn-bản là phải làm sao đưa thành-phần
cấp-tiến vào vai-tṛ linh-mục và giám-mục.
Để thực-hiện mục-tiêu đó, tài-liệu
khuyên hăy dùng chiến-thuật mềm-dẻo trong quan-hệ
với giáo-hội hầu tránh những
đụng-độ không cần-thiết.
Vai-tṛ các hội-thánh tin-lành
Những nhà truyền giáo tin-lành
đầu tiên tới Việt-nam năm 1911. Hầu hết
họ từ Hoa-ḱ tới, thuộc truyền-thống
thanh-giáo trong tổ-chức Christian and Missionary Alliance (CMA) và
giảng đạo cho người thượng cao-nguyên
trung-phần. Năm 1954, đất-nước chia-cắt,
đa-số tín-hữu tin-lành di vào Nam. Tin-lành ở
Việt-nam v́ thế cũng phân thành hai hội-thánh.
Miền Bắc chỉ c̣n lại 11 mục-sư và
giảng-viên cùng với độ vài ngàn tín-hữu.
Hội-thánh tin-lành miền Bắc được
nhà-nước công-nhận năm 1958. Trong hai thập niên
chiến-tranh (1954-75) Tin-lành trong Nam tự-do phát-triển.
Họ lập trường kinh-thánh ở nhiều tỉnh
và năm 1968 lập Trường Thần-học Thánh-kinh
ở Nha-trang. Sau ngày thống-nhất, các hội-thánh và
cộng-đoàn tin-lành bị đàn-áp nhiều hơn phía
công-giáo. Lí-do là
v́ cộng-sản tin rằng Tin-lành miền Nam có liên-hệ
chặt-chẽ với Hoa-ḱ và v́ thế dễ
phản-động, thiếu tin-tưởng. V́ vậy
chính-quyền chưa bao giờ công-nhận các giáo-hội
này. Năm 1976 Tin-lành tại Việt-nam có khoảng 150.000
tín-hữu, trong số đó hai phần ba là người
thuộc các đồng-bào thiểu-số,
đặc-biệt là người Hmông. 300 nhà thờ
của họ bị phá hoặc tịch-thu. Các
trường huấn-luyện mục-sư ở Nha-trang,
Đà-lạt và Buôn Ma Thuột bị đóng cửa.
Nhiều mục-sư bị bắt hoặc bỏ tù.
Cố-gắng lập một trường mới
để huấn-luyện mục-sư và nhân-sự cho
đến nay vẫn bị chính-quyền cản-trở.
T́nh-thế buộc họ phải nẩy ra sáng-kiến tổ-chức
những khoá thần-học hàm-thụ để
huấn-luyện bù-đắp nhân-sự.
Dù bị khống-chế,
số-lượng tín-hữu tin-lành vẫn tăng
đều kể từ khi có chính-sách đổi mới
trong thập niên 80´. Ngày nay được ước-lượng
vào khoảng 800.000. Họ gặp nhau hành đạo trong
khoảng 3.500 nhà thờ tại-gia .
Đại-hội toàn-quốc lần cuối của
Tin-lành họp năm 1976. Kể từ đó cho tới
năm 2001 chẳng c̣n một điều-hợp chung nào
trên b́nh-diện cả nước. V́ không có một
tổ-chức chung nên những nỗ-lực
b́nh-thường-hoá quan-hệ với các cơ-quan
chính-quyền gặp khó-khăn. Càng khó-khăn hơn
nữa trong nỗ-lực hợp-thức-hoá, v́
cộng-sản cho rằng các mục-sư trên các miền
cao, nơi nhiều tộc thiểu-số theo đạo,
ngầm yểm-trợ đ̣i-hỏi tự-trị của
đồng-bào thiểu-số .
Chủ-tịch quốc-hội Nguyễn Văn An, nhân
buổi tiếp một phái-đoàn tin-lành dịp Giáng-sinh
2001, đă cảnh-cáo các đại-biểu hăy loại
trừ những thành-phần xấu muốn
lợi-dụng tôn-giáo để tạo phân-hoá ra khỏi
các cộng-đoàn. Năm 2001 và đầu 2002 có nhiều
tin loan về những vụ biểu-t́nh và
đụng-độ bạo-động giữa các
cộng-đoàn tin-lành trên cao-nguyên với chính-quyền và
quân-đội cộng-sản việt-nam. Theo cái nh́n
của chính-quyền, chính các mục-sư thường là
đầu mối của những đ̣i-hỏi
tự-trị trên. Nhiều vị lănh-đạo
cộng-đoàn v́ thế đă bị tù hoặc
đuổi khỏi địa-sở. Chính-quyền dùng
áp-lực và cả các biện-pháp tra-tấn để
bắt tín-hữu tin-lành người thượng bỏ
đạo, trở về với tín-ngưỡng
truyền-thống của họ.
Giữa những căng-thẳng
như thế th́ nhà-nước cho phép mở
đại-hội. Nhiều trăm đại-biểu
tin-lành miền Nam về họp vào tháng 2.2001.
Tháng 4.2001 Hội-thánh Tin-lành
miền Nam Việt-nam được Ban tôn-giáo
trung-ương nhà-nước công-nhận và tất cả
những cộng-đoàn thành-viên của tổ-chức này
được sinh-hoạt hợp-pháp. Nhà-nước
cũng cho lập một học-viện đào-tạo
mục-sư ở Nha-trang .
Với việc thành-lập Hội-thánh
Tin-lành Việt-nam - tổ-chức trung-ương và thân
nhà-nước - một mặt Tin-lành được
công-nhận, mặt khác nhà-nước chỉ
hợp-thức-hoá sinh-hoạt cho những cộng-đoàn
nào tham-gia vào tổ-chức này mà thôi. V́ đứng ngoài nên
trên dưới 3000 hội-thánh tại-gia với 50% tổng-số
tín-hữu lâm vào thế lưỡng-nan: cả
nhà-nước lẫn hội-thánh (quốc-doanh) coi họ
là bất hợp-pháp. Mùa hè 2002 nhiều tin-tức về
việc chính-quyền tấn-công các giáo-hội tại-gia
được loan ra. Một số mục-sư bị
bắt giam v́ tội giảng đạo trái phép. Song-song
cũng có lời đồn rằng đă có sự nhúng tay
của đảng cộng-sản trong việc
đặt-định nhân-sự của Ủy-ban
chuẩn-bị đại-hội và trong việc bầu
đại-biểu vào tổ-chức trung-ương kia.
Suốt năm 2001 đă có nhiều hội-thánh tại-gia
bị công-an đánh-phá, tín-hữu bị tống giam hoặc
bị phạt tiền.
Chính-sách tôn-giáo chính-thức của
đảng cộng-sản và nhà-nước việt-nam
Điều 70 Hiến-pháp ngày
15.04.1992 viết về tự-do tôn-giáo:
"Công-dân có quyền tụ-do
tín-ngưỡng, tôn-giáo, theo hoặc không theo một tôn-giáo
nào. Các tôn-giáo đều b́nh-đẳng trước
pháp-luật. Những nơi thờ-tự của các
tín-ngưỡng, tôn-giáo được luật-pháp
bảo-hộ. Không ai được xâm-phạm tự-do
tín-ngưỡng, tôn-giáo hoặc lợi-dụng
tín-ngưỡng, tôn-giáo để làm trái pháp-luật và
chính-sách của nhà-nước".
Hiến-pháp bảo-đảm
tự-do. Nhưng trên thực-tế tự-do này bị
hạn-chế và quyết-định bởi một lô nghị-quyết, sắc-lệnh,
nghị-định, chỉ-thị của đảng
cộng-sản, của nhà-nước, của các cơ-quan
an-ninh và công-an. Chính-quyền lấy quan-điểm mác-xít
về tôn-giáo để hành-xử hơn là theo nguyên-tắc
tự-do của hiến-pháp.
Nghị-định về
hoạt-động tôn-giáo
Nghị-định 26 ngày 19.04.1999
là căn-bản lí-thuyết giúp ta hiểu việc
thực-thi tự-do tôn-giáo ở Việt-nam.
Nghi-định này thay-thế tài-liệu ngày 30.09.1992 .
Sau đây là những khoản chính:
Nhà-nước việt-nam bảo-đảm
quyền tự-do tín-ngưỡng và tự-do không
tín-ngưỡng. Nói rơ hơn, tự-do tin hoặc không tin (Điều
1). Các hoạt-động tôn-giáo phải tuân theo
pháp-luật của nhà-nước (Điều 3).
Chỉ những sinh-hoạt tôn-giáo nào hợp-pháp mới
được nhà-nước bảo-hộ (Điều
4).
Mọi sinh-hoạt,
đặc-biệt những h́nh-thức mê-tín
dị-đoan, đi ngược lại quyền-lợi
của nhà-nước và người dân đều bị
xử-lí theo pháp-luật (Điều 5). Những
sinh-hoạt tôn-giáo b́nh-thường chỉ được
phép diễn ra trong khuôn-khổ nơi thờ-tự. Các
sinh-hoạt bên ngoài khuôn-viên đó phải được
phép của nhà-nước trung-ương hoặc
chính-quyền địa-phương. Tổ-chức tôn-giáo
nào đi ngược lại những điều này sẽ
bị cấm hoạt-động (Điều 7).
Những khoản kế tiếp qui-định chi-tiết
cấp hoặc cơ-quan hành-chánh nào có quyền cho phép
những sinh-hoạt nào.
Theo đó, chính-quyền
trung-ương quyết-định về các cuộc
họp cấp quốc-gia, về việc lập
cơ-sở huấn-luyện như chủng-viện hay
học-viện và kiểm-tra các cơ-sở này, chẳng
hạn như qua việc bổ nhiệm giáo-sư hoặc
kiểm-soát nội-dung học-tŕnh. Chính-quyền trung-ương
cũng dành quyền cho phép phong chức hồng-y và
giám-mục. Mọi giúp-đỡ của các cơ-quan
từ-thiện nước ngoài cho giáo-hội cũng
phải thông qua kiểm-soát của trung-ương.
Chính-quyền tỉnh trách-nhiệm về các cuộc họp hoặc
sinh-hoạt cấp vùng, như cấm-pḥng năm của
linh-mục và tu-sĩ, sửa-chữa nhà thờ, phong
chức linh-mục, bổ nhiệm hoặc
chuyển-đổi nhân-sự trong giáo-phận.
Chỉ-thị tháng 7.1999
chi-tiết-hoá việc thực-hành Nghị-định 26 cho
thấy rơ nhà-nước muốn nắm vững tất
cả mọi sinh-hoạt trong giáo-hội, để
kịp thời có phản-ứng, nếu cần . Một cách tổng-quát, Ban
Tôn-giáo trung-ương có nhiệm-vụ làm việc
trực-tiếp với các tôn-giáo. Ban này là một thành-viên
của Mặt-trận Tổ-quốc. Mặt-trận
là tổ-chức chung cho mọi lực-lượng
xă-hội. Nó là sợi dây liên-kết của đảng
cộng-sản với các nhóm xă-hội như dân
thiểu-số, người việt nước ngoài, các
cộng-đồng tôn-giáo. Trong lần sửa-đổi
Hiến-pháp 1992 vào cuối năm 2001, điều 9 liên-quan
tới Mặt-trận Tổ-quốc đă
được viết lại. Mặt-trận
được giao thêm nhiệm-vụ. Nó đóng vai-tṛ
lớn hơn trong tiến-tŕnh dân-chủ-hoá có thể
xẩy ra và phải bảo-đảm cho
ảnh-hưởng của đảng cộng-sản trong
trường-hợp này. Ngoài ra, việc kiểm-soát tôn-giáo,
vốn đă gắt-gao, nay được thắt chặt
hơn bằng cách ép-buộc tất cả các
cộng-đồng tôn-giáo phải gia-nhập mặt-trận,
nếu muốn được hợp-thức-hoá. Thành-viên
cuối cùng trong năm 2001 của mặt-trận là Hội-thánh
Tin-lành miền Nam Việt-nam. Không phải ai cũng
chấp-nhận sức ép này: Giáo-hội Phật-giáo
Thống-nhất cũng như nhiều hội-thánh
tại-gia tin-lành đă không gia-nhập. Giáo-hội công-giáo
có tên trong danh-sách thành-viên mặt-trận, nhưng chỉ
cộng-tác ở cấp hội-đồng giám-mục mà
thôi .
Kiểm-soát mọi
hoạt-động tôn-giáo – căn-bản của chính-sách
tôn-giáo
Từ mấy năm nay,
nỗ-lực tiêu-diệt tôn-giáo bằng những án tù
hoặc cải-tạo lâu năm hoặc bằng tra-tấn
không c̣n nữa. Thay vào đó là những biện-pháp
đàn-áp kín-đáo hơn như khống-chế bằng xét
nhà, thẩm-vấn dai-dẳng, giam "hành-chánh",
quản-thúc và đày đi những vùng quê hẻo-lánh.
Chính-sách tôn-giáo của đảng và nhà-nước trong
những năm qua về mặt thực-tế phải nói
có phần cải-tiến, nhưng về mặt hành-chánh và
luật-pháp không có ǵ thay-đổi .
Tội "chống lại chính-sách đoàn-kết
dân-tộc" và "gây chia-rẽ giữa những
người theo đạo và những người không theo
đạo" mới thêm năm 1997 vào luật h́nh-sự
vẫn giữ nguyên giá-trị với những h́nh phạt
nặng-nề. Nghĩa là, trên căn-bản, quyền
thống-trị tuyệt-đối của đảng
cộng-sản trên mọi tổ-chức nhân-xă vẫn không
đổi.
T́nh-trạng hiện nay về
tự-do tôn-giáo được diễn-tả rơ nét nhất
bằng sự kiểm-soát tuyệt-đối của
nhà-nước. Kiểm-soát này khởi đi từ cấp
công-an địa-phương, là kẻ có quyền bắt
người không cần lệnh toà-án. Hễ đâu trên ba
người không có giấy cư-trú tụ-tập là công-an
có thể ra tay. Dụng-cụ quan-trọng nhất
để kiểm-soát dân là giấy phép cư-trú, trên đó
có ghi nhiều chi-tiết về cá-nhân như thành phần
tôn-giáo, chính-trị... Không có giấy này th́ sẽ khó-khăn
khi xin việc, xin nhập trường hoặc vào nhà
thương. Giấy phép cư-trú do công-an
địa-phương cấp và có thể rút lại.
Một giấy quan-trọng khác là "Tờ khai
lí-lịch", trong đó ghi rơ về những
hành-động quá-khứ, các đóng-góp cho cách-mạng và
quan-điểm chính-trị trước và sau ngày
thống-nhất. Khi xét phong chức một linh-mục,
chính-quyền không chỉ xét lí-lịch của
đương-sự, mà xem luôn cả của thân-nhân và
người quen của vị đó.
Kiểm-soát
tự-do tôn-giáo
Nhiều
việc làm xét ra là chuyện "b́nh-thường"
của tôn-giáo, nhưng ở Việt-nam phải có phép
chính-quyền. Nh́n sinh-hoạt của giáo-hội công-giáo
đủ biết mức-độ kiểm-soát bao-trùm
như thế nào. Nhà-nước muốn nắm vững
mọi sinh-hoạt để có thể kiểm-soát,
cải-chính hoặc kết tội. Công-an có quyền nghe và
thu băng mỗi bài giảng. Mỗi cuộc
tụ-họp trên bảy người, ngoài các buổi
phụng-vụ được phép, phải khai-báo. Cả
chuyện giữ-ǵn, tu-sửa, xây mới nhà thờ cũng
phải xin phép. Nhập chủng-viện phải có phép.
Nhà-nước chỉ cho phép 6 chủng-viện trên khắp
nước tuyển sinh hai năm một lần. Từ
nhiều năm nay hội-đồng giám-mục
đợi phép nhà-nước để mở thêm hai
chủng-viện ở Thái-b́nh và Xuân-lộc để
giải-toả bớt t́nh-trạng quá-tải của
trường Hà-nội và
thành-phố Hồ Chí Minh mà vẫn không thấy.
Nhà-nước cho phép thật hạn-chế lượng
tu-sinh nhập học mà chẳng lí ǵ đến nhu-cầu
của mỗi giáo-phận. Buồn cười nữa là
mỗi giáo-phận chỉ được phép tuyển sinh
trong giáo-phận ḿnh mà thôi.
Điều này có nghĩa là giám-mục giáo-phận
đă bị hạn-chế ngay từ đầu trong
việc phân-bổ tân chức linh-mục. Mặt khác
nhiều khi có những ứng-sinh dư
điều-kiện trong một địa-phương th́
không được nhận, nơi khác th́ lại phải
nhận ứng-sinh kém điều-kiện hơn.
Đối với những giáo-phận không đủ
ứng-sinh th́ nạn thiếu linh-mục càng
trầm-trọng hơn và các giám-mục bị bó tay trong
việc muốn có nhân-sự đều cho các giáo-xứ.
Được
phép vào chủng-viện chưa hẳn là được
phép nhận chức linh-mục. Học xong, có khi phải
chờ phép phong chức rất lâu. Có trường-hợp
nhà-nước đă không cho chịu chức, bởi v́
họ c̣n xét quan-điểm chính-trị. Dĩ nhiên
giáo-hội hoàn-toàn không chấp-nhận tiêu-chuẩn
xét-duyệt duy-nhất này của nhà-nước, v́
đối với giáo-hội, các tiêu-chuẩn tôn-giáo
mới là quyết-định. Ai muốn theo học ngành
chuyên-môn tại ngoại-quốc, phải qua một
cuộc thẩm-vấn chi-li và khó-khăn của công-an.
Họp hội-đồng giám-mục phải xin phép
trước ở ban tôn-giáo trung-ương. Khi xin phép
phải tŕnh chương-tŕnh nghị-sự và danh-sách
tham-dự. Trước khi vào họp, hội-đồng
phải lắng-nghe ông trưởng ban tôn-giáo phê-b́nh về
sinh-hoạt của ḿnh và những yêu-cầu của
nhà-nước đặt ra cho giáo-hội.
Công
việc mục-vụ của giám-mục bị
hạn-chế, v́ họ không được tự-do
đi-lại. Muốn đi ban phép thêm-sức, chẳng
hạn, nhất định không có phép chính quyền là không
xong. Việc đi thăm giáo-đô mỗi năm năm
cũng phải xin phép. Chuyện phong chức và bổ
nhiệm giám-mục là cả một lịch-sử
đau-buồn .
Một số giáo-phận miền Bắc từ bao nhiêu
năm vẫn không có giám-mục. Mỗi tân giám-mục là
kết-quả của những thương-thảo dài-lâu.
Trong vụ-việc này nhà-nước dĩ nhiên không
phản-đối hoàn-toàn quyền phong chức của
Giáo-chủ, nhưng họ dành toàn quyền xét-duyệt và
phủ-quyết. Cho tới nay, chính-phủ vẫn buộc
tất cả các tài-liệu tôn-giáo đă được
kiểm-nhận phải được đặt in trong một
nhà in có giấy phép của chính-phủ. Sau những cuộc
trao-đổi dai-dẳng và phải chấp-nhận
nhiều hạn-chế các giám-mục đă được
phép ra một bản-tin nội-bộ. Riêng tư-cách
thành-viên chính-thức trong Hội-đồng Giám-mục Á
châu (FABC), Hội-đồng Giám-mục Việt-nam đă
nhiều lần gởi đơn xin phép nhà-nước,
nhưng tới nay chính-quyền vẫn tránh-né trả
lời.
Tranh-chấp về
nhân-sự kế vị tổng giám-mục Phao-lô Nguyễn
Văn B́nh
Sau khi
tổng-giám-mục B́nh mất v́ bệnh ngày 01.07.1995,
giữa chính-quyền việt-nam và Vatican đă xẩy ra
một cuộc tranh-chấp dai-dẳng về
vấn-đề bổ nhiệm người kế
vị. 20 năm trước, ngay trước ngày
thống-nhất, Vatican đă bổ nhiệm giám-mục
Nha-trang là Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận làm „phó
với quyền kế vị“ cho giáo-phận
thủ-đô Sài-g̣n. Chính-quyền cộng-sản đă không
chấp-nhận sự bổ nhiệm này, v́ cho rằng
giám-mục Thuận là cháu của cựu tổng-thống Ngô
Đ́nh Diệm và v́ thế là người không thích-hợp
về mặt chính-trị. Giám-mục Thuận, lúc đó
đang ở giáo-phận Nha-trang, bị quản-thúc, sau
đó bị bắt và sau 13 năm tù, đă được
thả với điều-kiện vào năm 1988 . Năm 1993 giáo-chủ
Gio-an Phao-lô II tạm-thời bổ giám-mục giáo-phận
Phan-thiết Ni-ko-la Huỳnh Văn Nghi làm „ Giám-quản
tông-toà“ cho tổng-giáo-phận
thành-phố Hồ Chí Minh. Nhà-nước
cộng-sản lại phải-đối và ngăn-cản
vị này vào nhận nhiệm-sở và thi-hành mục-vụ
tại đây. Chính-quyền cộng-sản cho rằng
việc bổ-nhiệm này có thể là cánh cửa mở
để tổng-giám-mục Thuận có thể trở
về lại. Tranh-chấp cuối cùng đă
được giải-quyết vào năm 1998, khi
đặc-sứ của Vatican là đức-ông Celestino
Migliore đă tranh-thủ được sự
đồng-ư của chính-quyền việt-nam để cho
giám-mục phó giáo-phận Mỹ-tho là Gio-an Bao-ti-xi-ta
Phạm Minh Mẫn về làm tổng-giám-mục
thành-phố Hồ Chí Minh. Chính-quyền cũng
đồng-ư để chính giám-mục Huỳnh Văn Nghi
đại-diện Toà-thánh làm lễ chuyển giao
sứ-vụ cho tân tổng-giám-mục, một
sứ-vụ mà họ chưa bao giờ chịu
công-nhận nơi giám-mục Nghi.
Ngăn-cản
hành-hương Mẹ La-vang
Việc
giáo-hội công-giáo tổ-chức hành-hương
kỉ-niệm hai trăm năm đức Mẹ hiện
ra tại La-vang, tỉnh Quảng-trị, tháng 9 năm 1999
cũng gặp trở-ngại . Nhà-nước việt-nam
đă không cho đặc-sứ của giáo-chủ là
hồng-y thánh-bộ Hugo Sanchez, vào nước để
dự lễ. Cuộc hành-hương v́ thế đă do
hồng-y tổng-giáo-phận Hà-nội Phao-lô Giu-se Phạm
Đ́nh Tụng chủ-sự. Chính-quyền
hạn-định nghiêm-nhặt số người
tham-dự. Họ nêu lên lí-do là không thể giữ an-ninh cho
cả hàng trăm ngàn người về một lúc.
Nhưng cuộc hành-hương với lượng
người tụ-họp mà
đài phát-thanh Vatican cho hay „lớn nhất ở
Việt-nam kể từ ngày thống-nhất 1976
đến nay“ đă diễn ra trong kỉ-luật, không
xẩy-ra chuyện đáng tiếc lớn nào, khiến
cơ-quan an-ninh và công-an chỉ tập-trung công-tác của
họ vào việc quay phim người tham-dự mà thôi.
Chính-sách tôn-giáo giữa
cấm-cản và kẽ hở
Trong
cuộc họp hội-đồng giám-mục tại
Hà-nội từ ngày 15 tới 22 tháng 9 năm 2001 giám-mục
Nha-trang Phao-lô Nguyễn Văn Hoà được bầu làm
chủ-tịch hội-đồng. Chính-quyền ban
đầu từ-chối, nhưng cuối cùng ngày 14 tháng 11
đă chấp-nhận cuộc bầu. Đối lại,
chính-quyền tới nay vẫn không chấp-nhận
đề-nghị của Vatican đưa giám-mục Hoà
về Hà-nội làm tổng-giám-mục thay-thế hồng-y
Phạm Đ́nh Tụng. Tuy nhiên, giám-mục Hoà đă
được phép Hà-nội sang tham-dự cuộc họp
của Hội-đồng Giám-mục Phi-luật-tân
vào tháng 7 năm 2002 tại Tagaytay. Chính-sách của
nhà-nước quả bất-nhất, v́ cũng một
nhân-vật đó, mà khi th́ tỏ ra tin-tưởng khi th́
không.
Nhân-danh
chủ-tịch hội-đồng, giám-mục Phao-lô
Nguyễn Văn Hoà, cuối tháng 12.2001 nhân một buổi
thăm ra mắt thủ-tướng Phan Văn Khải,
đă lợi-dụng cuộc gặp-gỡ để trao
cho ông một số kiến-nghị của các giám-mục . Giám-mục mở
đầu rằng người công-giáo sẵn-sàng tham-gia
vào việc xây-dựng đất-nước về mặt
xă-hội và kinh-tế, đặc-biệt vào nỗ-lực
xoá đói giảm nghèo. Rồi ngài trao cho thủ-tướng
một danh-sách những nguyện-vọng mà các giám-mục
đă gởi tới chính-quyền năm 1992 và 1997 mà cho
tới nay vẫn chưa nhận được trả lời.
Trong
số các