English version                                                                              
 
Version française

 

 

 

 
T́nh-trạng nhân-quyền tại Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam –

Tự-do tôn-giáo

 

 

Người viết: Georg Evers *

Bản dịch tiếng việt: Liên-đoàn Công-giáo Việt-nam tại Đức

Xuất-bản: Chuyên-ban Nhân-quyền (Tiến-sĩ Otmar Oehring chủ-biên), Cơ-quan Truyền-giáo Công-giáo Quốc-tế (Missio)

Địa-chỉ: Postfach 10 12 48, D-52012 Aachen, Tel. 0241-75 07 00; Fax. 0241-75 07 61 253

E-mail: menschenrechte@missio-aachen.de

ISSN 1618-6222; Danh-mục đặt mua: Nr. 600 230

© Missio 2002

 

 

“Chuyên-ban Nhân-quyền”muốn t́m-hiểu t́nh-trạng nhân-quyền trong các quốc-gia tại Phi, Á và Đại-dương châu. Để thực-hiện mục-tiêu này, chúng tôi cộng-tác tích-cực vào mạng lưới công-tác nhân-quyền và yểm-trợ việc trao-đổi thông-tin sinh-hoạt giữa các cơ-quan truyền-giáo đồng-nghiệp tại lục-địa Phi, Á và Đại-dương với những cơ-quan chính-trị và tôn-giáo có thẩm-quyền tại Cộng-hoà Liên-bang Đức. Những nghiên-cứu về quốc-gia, về chuyên-đề hay kết-quả của các nghị-hội chuyên-đề sẽ được lần-lượt in và phổ-biến trong loạt tài-liệu “Nhân-quyền”.

 

Trọng-tâm của tài-liệu T́nh-trạng nhân-quyền tại Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam - Tự-do tôn-giáo này là việc nghiên-cứu tiến-tŕnh  lịch-sử và hiện-trạng tự-do tôn-giáo tại Việt-nam, đặc-biệt quan-tâm tới số-phận của giáo-hội công-giáo. Việt-nam đă là tụ-điểm thông-tin của truyền-thông quốc-tế trong nhiều năm, khởi đầu suốt trong cuộc kháng-chiến dành độc-lập từ thực-dân pháp (1945-54), sau đó là cuộc nội-chiến giữa hai miền với sự yểm-trợ của Hoa-ḱ tại miền Nam (1961-75). Cuộc chiến việt-nam đă dấy-động lương-tâm con người và đă làm biến-đổi nhận-thức chính-trị, không chỉ riêng ở Hoa-ḱ mà cả ở Âu và cả Á châu nữa. Sau ngày thống-nhất hai miền vào năm 1976, số-phận thảm-thương của hàng ngàn thuyền-nhân lại dấy lên ḷng thương và tinh-thần sẵn-sàng giúp-đỡ của nhân-dân thế-giới. Trước t́nh-trạng ngày càng tràn-ngập thuyền-nhân việt ra đi t́m quê-hương mới, các quốc-gia có khả-năng nhận người như Hoa-ḱ, Úc, các nước tại Âu châu và trong vùng Á châu lân-bang lần-hồi đă có những biện-pháp khép cửa ngăn-chặn. Những năm gần đây t́nh-h́nh xem ra yên-ắng . Tuy nhiên, nỗ-lực bám-giữ vai-tṛ độc-quyền chính-trị và ư-hệ của Đảng Cộng-sản Việt-nam, với biện-minh là họ đă có công thống-nhất đất-nước, vẫn không thay-đổi. Cuối thập niên 80 của thế-kỉ trước, khi các chế-độ cộng-sản tại Liên-xô và Đông-âu sụp-đổ, nhà-nước cộng-sản việt-nam bị hổng chân về ư-thức-hệ. Càng ra sức muốn tiếp-tục chiếm-giữ độc-quyền về lănh-vực này, nhà-nước việt-nam càng rơi vào mâu-thuẫn với những nhân-quyền căn-bản về tự-do ngôn-luận, tự-do chính-trị và dĩ nhiên cả tự-do tôn-giáo.

 

* Georg Evers, sinh 1936 tại Emmerich, Đức; 1958-61 học triết tại Đại-học München, tốt-nghệp cử-nhân; 1962-64 học nhật-ngữ, lịch-sử và văn-hoá tại Đại-học Kamakura; 1965-69 học thần-học Đại-học Sophia ở Tokio, tốt-nghiệp cử-nhân và cao-học; 1969-72 luận-án tiến-sĩ Đại-học Münster về thần-học truyền-giáo và tôn-giáo với giáo-sư đỡ-đầu Karl Rahner; 1973-79 trưởng Ban giáo-dục tráng-niên đại-kết và liên-tôn ở Bendorf; 1979-2001 trưởng Ban Á châu của Viện khoa-học truyền-giáo Missio và cộng-tác-viên thường-trực trong các nghị-hội của "Hội-đồng Giám-mục Á châu" (FABC).

 

 

Nội-dung

 

Số-liệu tổng-quát về Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam

 

T́nh-h́nh chính-trị sau ngày thống-nhất

Những vấn-đề tái cấu-trúc chính-trị sau ngày thống-nhất

Khủng-hoảng ư-hệ của Đảng Cộng-sản Việt-nam

T́nh-h́nh chính-trị và kinh-tế hiện nay

Đảng cộng-sản tiếp-tục đ̣i vai-tṛ độc-tôn

 

Giáo-hội công-giáo việt-nam sau thời thuộc Pháp tới ngày thống-nhất (1945-1975)

Vai-tṛ giáo-hội công-giáo trong kháng-chiến dành độc-lập (1941-45)

Giáo-hội công-giáo trong một Việt-nam chia đôi (1954-75)

Giáo-hội công-giáo ở miền Bắc (1954-75)

Giáo-hội công-giáo ở miền Nam (1954-75)

 

Những nét chính của chính-sách tôn-giáo sau 1975

Phê-b́nh tôn-giáo của Mác và Lênin làm căn-bản cho chính-sách tôn-giáo

Giáo-hội công-giáo và tự-do tôn-giáo sau 1975

Vai-tṛ của hội-thánh tin-lành ở Việt-nam

Chính-sách tôn-giáo chính-thức của đảng và nhà-nước việt-nam

Nghị-định của chính-phủ về hoạt-động tôn-giáo

Kiểm-soát mọi sinh-hoạt tôn-giáo – căn-bản của chính-sách tôn-giáo

Kiểm-soát tự-do tôn-giáo

 

Xung-khắc giữa chính-quyền và giáo-hội công-giáo

Các giám-mục công-giáo đ̣i tự-do hành-đạo

Xung-khắc về "Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước"

Khủng-hoảng vụ phong thánh

Bất-đồng về nhân-sự kế vị tổng-giám-mục giáo-phận thành-phố Hồ Chí Minh, Phao-lô Nguyễn Văn B́nh

Ngăn-cản việc hành-hương Mẹ La-vang

Chính-sách tôn-giáo giữa cấm-đoán và kẽ hở

Khác-biệt trong nhận-định về tự-do tôn-giáo hiện nay

Biện-pháp đối-phó với từng cá-nhân hoặc định-chế

Vấn-đề vào đạo nơi các đồng-bào ít người

 

Tự-do tôn-giáo và các tôn-giáo ngoài Kitô-giáo

Các tôn-giáo ngoài Kitô-giáo ở Việt-nam

Tự-do tôn-giáo và đối-thoại liên-tôn

 

Vai-tṛ thay-đổi của các tôn-giáo trong xă-hội việt-nam

Khen những đóng-góp xă-hội của các tôn-giáo

Giáo-hội công-giáo dấn-thân vào xă-hội

Đại-biểu tôn-giáo trong quốc-hội

Tự-do báo-chí và tôn-giáo dưới con mắt người cộng-sản

Hạn-chế sinh-đẻ của nhà-nước và thái-độ các tôn-giáo

Nhà-nước trả lời về những cáo-buộc vi-phạm tự-do tôn-giáo

Chính-quyền và lănh-đạo tôn-giáo cùng làm chứng cho tự-do tôn-giáo ở Việt-nam ?

 

Suy-nghĩ kết-thúc

Thư-mục

 

 

 

 

Số-liệu tổng-quát về Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam1

 

Tên nước

Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam

Diện-tích

331.114 cây-số vuông

Số dân

79.515.000 (1999)2

Chủng-tộc

Việt 87%, Hoa 2%, và trên 60 chủng-tộc khác: Khờ-me, Chàm, Hmông, Mường, Nùng, Ja-rai, Êđê, Sê-đăng, Ba-na, Thái …

Tăng-trưởng dân-số

1,8% (1990-1999) theo thống-kê nhà-nước; 2,4% theo Economic-Social Committee for Asia-Pacific ở Bangkok

Tuổi-thọ

68 tuổi (1998)

Ngôn-ngữ

việt (80%), hoa, các ngôn-ngữ thiểu-số khác, pháp và anh-ngữ

Thể-chế

Cộng-hoà xă-hội từ 1980; gồm 7 vùng hành-chánh, 50 tỉnh và 3 thành-phố

Cơ-quan lập-hiến tối-cao

Quốc-hội với 400 đại-biểu bầu mỗi 5 năm

Chủ-tịch nước

Trần Đức Lương (từ 25.09.1997)

Thủ-tướng

Phan Văn Khải (25.09.1997)

Tôn-giáo

55% Phật-giáo, 7% Công-giáo3, 0,6% Tin-lành, 1,5% Cao-đài, 1,2% Hoà-hảo, 0,5% Hồi-giáo; đạo Lăo và Khổng không có thống-kê rơ-ràng. Nói chung, thống-kê về tín-hữu các tôn-giáo không chính-xác, mỗi tác-giả đưa ra số rất khác nhau

 

 

 

 

 

 

 

T́nh-trạng nhân-quyền

tại Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam - Tự-do tôn-giáo

 

 

T́nh-h́nh chính-trị sau ngày thống-nhất

 

 

Những vấn-đề tái cấu-trúc chính-trị sau ngày thống-nhất

Sau khi thống-nhất năm 1976 Việt-nam đổi tên thành "Cộng-hoà Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam""Đảng Lao-động Việt-nam" hiện-h́nh thành "Đảng Cộng-sản Việt-nam". Hai mục-tiêu "vô-sản chuyên-chính""đấu-tranh chống chủ-nghĩa tư-bản quốc-tế" được đưa vào Hiến-pháp năm 1980. "Chủ-nghĩa mác – lênin và tư-tưởng Hồ Chí Minh" chính-thức được chọn làm căn-bản chỉ-đạo cho chính-sách của đảng và nhà-nước. Điều 4 Hiến-pháp xác-định độc-quyền cai-trị của đảng cộng-sản: "Đảng Cộng-sản Việt-nam, theo chủ-nghĩa Mác Lênin và tư-tưởng Hồ Chí Minh, là lực-lượng lănh-đạo nhà-nước và xă-hội và là nhân-tố chính đưa cách-mạng việt-nam đến thành-công." [4] . Độc-quyền cai-trị của đảng cộng-sản dựa trên chính-sách "3 không": 1. không đa-nguyên chính-kiến, 2. không đa-nguyên chính-đảng, 3. không dân-chủ theo lối tây-phương.

Sau thống-nhất năm 1976 hầu như chỉ có các cán-bộ miền Bắc nắm thực quyền trong chính-phủ cách-mạng lâm-thời và toàn quyền chỉ-đạo chính-sách "tập-trung dân-chủ". Những người miền Nam, dù có công trong cuộc chiến, xem ra bị loại dần trong tiến-tŕnh tái cấu-trúc chính-trị. Chính-sách tập-thể-hoá nông-nghiệp quá-khích cũng như việc nhắm mắt đem khuôn-mẫu kinh-tế hoạch-định xă-hội chủ-nghĩa của miền Bắc chụp lên miền Nam đă đưa cả nước từ năm 1979 tới 1988 vào khủng-hoảng, đói và khan-hiếm thực-phẩm.

Cuộc tấn chiếm Kampuchia của quân-đội việt-nam cuối năm 1978 đă lật đổ được chế-độ tàn-bạo Pôn-pốt, nhưng đồng thời cũng tạo ra muôn vàn khó-khăn cho kinh-tế nội-địa. Thêm vào đó là trận chiến biên-giới tháng 3.1979 do Trung-quốc khởi xướng để "phạt" đàn em v́ tội xâm-lăng Kampuchia. Những đợt đàn-áp chính-trị, khủng-hoảng kinh-tế và t́nh-thế không lối thoát đă khiến hàng chục ngàn người bỏ nước ra đi vào những năm cuối thập niên 70 và đầu 80. Phong-trào vượt biên vượt biển xẩy ra là do chiến-dịch đánh tư-sản cấm tư-doanh và đổi tiền vào đầu năm 1978. Những chiến-dịch này, đặc-biệt đánh vào giới thương-gia và con buôn hoa-kiều, là đầu mối của biến-cố "thuyền-nhân" không tiền khoáng hậu. Có khoảng 900.000 tới 1 triệu thuyền-nhân đă bỏ nước ra đi kể từ 1975 tới 1990. Đa-số họ là người hoa, thành-phần thương buôn chính ở miền Nam và đă bị chính-quyền mới lấy mất căn-bản sinh sống. Cao-uỷ tị-nạn Liên-hiệp-quốc (UNHCR) cho rằng khoảng 30% thuyền-nhân đă phải bỏ ḿnh trên biển v́ băo, thuyền đắm, đói khát, hải-tặc. Hậu-quả biến-cố thuyền-nhân là đất-nước thiếu hụt đi những chuyên-viên cần-thiết trên mọi ngành: thương-gia, trí-thức, nghệ-sĩ cũng như các thành-phần khác cần cho nhu-cầu tái-thiết quốc-gia. Khoảng 500.000 tị-nạn là người hoa, đă sống từ nhiều thế-hệ trên đất-nước Việt-nam. Bên cạnh "thuyền-nhân" là khoảng độ 250.000 người việt lao-động làm thuê trả nợ và kiếm ngoại-tệ do nhà-nước việt-nam gởi sang các nước "xă-hội chủ-nghĩa anh-em" như Liên-xô, Đông-Đức, Ba-lan, Tiệp....

 

Khủng-hoảng ư-hệ của đảng cộng-sản

Năm 1996 cán-bộ cao cấp đă than-thở về t́nh-trạng thê-thảm của đảng trên diễn-đàn đại-hội đảng: "Đảng như một cái ḥm quí lớn. Nh́n xa th́ lộng-lẫy. Đụng vào nghe kêu hay. Nhưng mở ra th́ trống-rỗng". Đảng cộng-sản nay vẫn tiếp-tục ở trong t́nh-trạng khủng-hoảng. Nội-bộ chia-rẽ. Cán-bộ tham-nhũng. Đảng không chịu rút kinh-nghiệm những thất-bại quá-khứ và chẳng c̣n người lănh-đạo có uy-tín nữa [5]. Câu nhắc đi nhắc lại biện-hộ cho sự độc-quyền của đảng "Dù sao chúng ta cũng là kẻ chiến-thắng" dần chẳng c̣n xuôi tai thế-hệ trẻ nữa - thế-hệ chẳng biết ǵ về cuộc chiến. T́nh-thế đă buộc đảng phải nghĩ ra nguồn bảo-chứng khác cho vai-tṛ độc-tôn của ḿnh. Và họ đă khám-phá ra môn-bài "đổi mới kinh-tế". Với môn-bài này đảng tuyên-bố sẽ đưa đất-nước vào tương-lai sáng-lạn.

Cứ nh́n vào các lỗi-lầm thê-thảm trên lănh-vực nông-nghiệp và xem tiến-tŕnh phát-triển chung của Việt-nam th́ môn-bài trên đây ít sức thuyết-phục. Chương-tŕnh "kĩ-nghệ-hoá và tân-tiến-hoá" của đảng và nhà-nước không huy-động được người dân cùng làm. Các nỗ-lực dai-dẳng nhằm đổi mới đảng và bắt đầu từ hàng lănh-đạo đảng luôn bị cánh lănh-đạo già ngăn-chận, v́ họ sợ mất quyền-lợi. Chẳng hạn, trong một lá thư gởi Bộ chính-trị nhân đại-hội đảng lần 8 năm 1995 thủ-tướng Vơ Văn Kiệt kêu-gọi phải công-nhận tính độc-lập của luật kinh-tế thị-trường, chứ đừng lấy nguyên-tắc ư-hệ ra làm cản-trở chúng; pháp-luật phải đứng trên nhà-nước và đảng, v́ có như vậy th́ các nhà kinh-doanh trong và ngoài nước mới yên-tâm đầu-tư; bổ-dụng cán-bộ lănh-đạo phải căn-cứ vào khả-năng chứ không phải v́ đảng-tịch; khẩu-hiệu "tập-trung dân-chủ""chuyên-chính vô-sản" không c̣n hợp nữa. Dù Vơ Văn Kiệt tuyên-bố vẫn bám vào chủ-nghĩa xă-hội, song các đề-nghị của ông xem ra đi ngược hoàn-toàn với những ư-kiến đề-nghị. Có lẽ nên coi ông là trạng-sư của một thứ chủ-nghĩa quốc-gia việt-nam. Đảng cộng-sản đă thất-bại từ lâu trong trận đấu dành độc-quyền ư-hệ . Chủ-nghĩa mác – lênin, với cái đuôi nội-hoá "và tư-tưởng Hồ Chí Minh" chẳng c̣n âm-vang ǵ nơi lớp trẻ. Đảng vẫn tổ-chức những buổi lễ kỉ-niệm thật đông người, nhưng xem ra đấy chỉ c̣n là một thứ nghĩa-vụ phải làm mà thôi. Lí-lẽ biện-minh cuối cùng cho vai-tṛ bám-trụ của đảng là khả-năng có thể xẩy ra  bạo-loạn, như việc sụp-đổ bất-ngờ ở các nước Đông-Âu trước đây. H́nh-ảnh hù-doạ này trước mắt c̣n tác-dụng, nhưng về lâu về dài và trước những thay-đổi to-lớn mọi mặt của đất-nước nó sẽ chẳng có hiệu-quả [6].  Ở đại-hội đảng lần 9 tháng 4.2001 Nông Đức Mạnh, lúc đó là chủ-tịch quốc-hội, được  bầu lên ghế tổng-bí-thư đảng, thay Lê Khả Phiêu. Thay đổi nhân-sự này được đánh-giá là chính-sách đổi mới kinh-tế vẫn được tiếp-tục và phe thủ-cựu đă bị lép vế.

 

T́nh-h́nh chính-trị và kinh-tế hiện nay

Cộng-hoà Xă-hội chủ-nghĩa Việt-nam và Cộng-hoà Nhân-dân Trung-hoa là hai nước thành-tŕ xă-hội chủ-nghĩa c̣n lại ở châu Á. Về đối-ngoại, từ sau ngày thống-nhất, Việt-nam một thời-gian dài hoàn-toàn ngả theo Liên-xô và các nước thuộc khối Comecon. Sau khi các chế-độ xă-hội chủ-nghĩa hiện-thực ở Đông-âu sụp-đổ và Liên-xô xoá-tên năm 1989, Việt-nam bị mồ-côi về kinh-tế và chính-trị trong một thời-gian dài. Bang-giao với anh láng-giềng khổng-lồ Trung-quốc bị đông lạnh kể từ sau cuộc tiến chiếm Kampuchia năm 1978 và trận chinh-phạt đầu năm 1979 của Tàu. Sau ngày rút quân khỏi Kampuchia vào tháng 9.1989 tới nay, liên-hệ đó vẫn ở trong không-khí ngờ-vực. Dù vậy, tháng 12.2001 hai bên đă kí với nhau một hiệp-ước qui-định lại một số điểm tranh-chấp về biên-giới, nhưng bỏ ra ngoài việc giải-quyết chủ-quyền trên quần-đảo Trường-sa, nơi dự-đoán có dầu-khí và v́ thế là vùng tranh-chấp của không những Việt-nam, Trung-quốc mà cả Inđônêsia và Phi-luật-tân. Tháng 7.1995, nhờ được nhận vào khối các quốc-gia Đông-nam-á (Asian), Việt-nam đă có được những tương-quan tốt-đẹp hơn với các quốc-gia láng-giềng trong vùng. Năm 1995, với việc tái lập ngoại-giao với Hoa-ḱ và trước đó một năm được Hoa-ḱ bỏ lệnh cấm-vận, chương khó-nuốt và nặng-nề nhất của cuộc chiến như vậy đă được lật qua.

Tiền-đề cho những thay-đổi đó là sự chuyển-hướng kinh-tế việt-nam. Sự phá-sản kinh-tế và t́nh-h́nh cấp-bách về lương-thực thực phẩm đă buộc đảng cộng-sản, trong đại-hội 6 năm 1986, phải từ-giă kinh-tế chỉ-huy để lân-la vào quĩ-đạo thị-trường với hi-vọng may ra có thể gia-tăng sản-lượng nông-phẩm và kĩ-nghệ. Nhà-nước thả-lỏng giá, giải-tán hợp-tác-xă nông-nghiệp, cho phép nông-dân sử-dụng đất, mở cửa cho xí-nghiệp tư. Chính-sách kinh-tế này dùng sáng-kiến cá-nhân làm động-cơ phát-triển, và trong giai-đoạn đầu đă đạt được những thành-quả cũng như đă làm tăng tỉ-trọng thành-phần kinh-tế tư-nhân [7]. Một thành-quả thấy rơ là kể từ đầu thập niên 90´ Việt-nam lại có thể xuất-cảng một lượng gạo đứng hàng thứ ba sau Hoa-ḱ và Thái-lan.  Một tác-động phụ của cơ-cấu kinh-tế mới này là sự bùng-nổ chênh-lệch giàu nghèo, một yếu-tố gây vẩn-đục không-khí và tạo căng-thẳng xă-hội măi tới hôm nay. Đă thế, lại thêm bệnh tham-nhũng càng ngày càng bành-trướng trong mọi cơ-cấu hành-chính và kinh-tế. Ưu-tiên hàng đầu của nhà-nước là chống tham-nhũng. Nhưng tham-nhũng lại khởi đi từ thượng-tầng đảng và nhà-nước, nên mọi biện-pháp chống-trả xem ra thật ít hiệu-quả. Lớp chiến-sĩ già sống-sót trong cuộc-chiến chống Mỹ, nhiều người với thương-tật suốt đời, giờ đây chua-chát nh́n đám cán-bộ cao cấp và con cháu họ sống trong xa-hoa, trong khi chính ḿnh lại chẳng nhận được chút tiền hưu để sống cho ra người [8]. Báo-chí quốc-tế thường nói tới Việt-nam như là một trong những quốc-gia tham-nhũng nặng nhất. Bộ mặt ngày càng méo-mó v́ tham-ô này tác-động tiêu-cực lên việc đầu-tư ngoại-quốc. Thêm vào đó là nạn bàn-giấy cửa-quyền gây chậm-trễ mọi thứ giấy-tờ và dịch-vụ .

 

Đảng cộng-sản tiếp-tục đ̣i vai-tṛ độc-tôn

Dù có những đổi-thay kinh-tế rộng-lớn, đảng cộng-sản vẫn tiếp-tục dưới chiêu-bài "dân-chủ tập-trung" đ̣i cho ḿnh vị-trí ưu-tiên trong địa-hạt chính-trị, với biện-luận rằng đảng đă đánh thắng Hoa-ḱ và miền Nam năm 1975 để thống-nhất đất-nước. Biện-luận này đối với tầng lớp trẻ hiện nay, mà 60% sinh sau cuộc chiến, xem ra càng ngày càng xa-lạ. Dưới con mắt người trẻ, lớp cán-bộ cộng-sản ǵa, hiện vẫn ngồi ở Bộ chính-trị hoặc trong các cơ-quan lănh-đạo chính-trị, nay là những vật hoá-thạch của một thời xa-xăm. Điệp-khúc đấu-tranh giai-cấp và xây-dựng xă-hội chủ-nghĩa chằng c̣n một chút âm-vang nào nữa. Lối sống của đại đa-số người dân hiện nay phản-ánh sự đổi-thay kinh-tế càng ngày càng xa-rời xă-hội chủ-nghĩa.

Tham-nhũng đầy-dẫy trong mọi cấp của đảng cũng là lí-do chôn-vùi uy-tín của đảng. Càng mất uy, đảng lại càng ra sức tăng-cường kiểm-soát để ḥng chận đà đổ-vỡ của ḿnh. Khi đưa ra kế-sách đổi mới kinh-tế vào năm 1986, trong đảng cũng có người đề-nghị nên tiến-hành song-song đổi mới chính-trị. Nhưng thành-phần tiến-bộ này đă bị phe thủ-cựu ngăn-chận và loại ra, có người đă phải vào tù, cải-tạo. Đề-nghị đổi mới chính-trị trên lại bùng lên vào năm 1989, khi Liên-xô và Đông-âu sụp-đổ. Nhưng v́ sợ con ma dân-chủ có thể bóp cổ chế-độ nên đảng cộng-sản việt-nam và trung-hoa đă nhanh-chóng dập tắt.

 

 

Giáo-hội công-giáo ở Việt-nam từ

sau thời thuộc-địa tới ngày thống-nhất (1945 – 1976)

 

Vai-tṛ giáo-hội công-giáo trong cuộc kháng-chiến giành độc-lập (1941-1945)

Giáo-hội công-giáo đă góp phần trong việc chống lại lực-lượng chiếm-đóng Nhật (1941-45). Sau khi Nhật thua vào năm 1945, Pháp trở lại chính-sách đô-hộ, th́ nhiều người công-giáo đă tham-gia kháng-chiến chống thực-dân. Nhưng dù vậy, hành-động đó đă không xoá được h́nh-ảnh tiêu-cực vốn sẵn nơi người việt, vẫn coi người công-giáo là những kẻ phản-quốc, "theo ngoại-giáo", "theo Tây". Tuyệt đại đa-số người công-giáo đă ủng-hộ tuyên-bố độc-lập do Hồ Chí Minh, người sáng-lập "Việt-nam Độc-lập Đồng-minh" (Việt-minh, 1941), đọc ngày 02 tháng 09 năm 1954 tại Hà-nội. Trong thời-gian đầu, những liên-hệ và cộng-tác giữa chính-phủ Hồ Chí Minh và công-giáo diễn-tiến tốt-đẹp. Mọi tầng-lớp dân-chúng, kể cả người công-giáo, ai-ai cũng hồ-hỡi đón chào nền độc-lập của nước-nhà. Đảng cộng-sản việt-nam trưng ra lá bài dân-tộc thuần-tuư và đă khôn-khéo dấu kín mục-tiêu độc-quyền toàn-trị của ḿnh.

Tháng 11.1945, khi tướng Leclerc quyết-tâm lập lại nền đô-hộ của Pháp, các giám-mục việt-nam đă ra một thư chung kêu-gọi tín-hữu công-giáo trên thế-giới yểm-trợ nhân-dân việt-nam trong cuộc tranh-đấu bảo-vệ nền độc-lập. Hồ Chí Minh lúc này cũng cố-gắng t́m sự cộng-tác của giới công-giáo, mà theo ông, là thành-phần với vốn học-thức cao có thể góp công sức hữu-hiệu trong việc xây-dựng quốc-gia [9]. Năm 1950, tổ-chức Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo, với sự tham-gia của giáo-sĩ lẫn giáo-dân, được h́nh-thành tại miền Bắc. Uỷ-ban gia-nhập phong-trào đấu-tranh chung do Hồ Chí Minh lănh-đạo. Thời đó, đa-số người công-giáo đứng vào mặt-trận chống Pháp dành độc-lập.

Đầu những năm 50´ t́nh-h́nh chính-trị việt-nam biến-chuyển nhanh, v́ càng ngày chính-phủ việt-minh càng để lộ chủ-trương theo cộng-sản và độc-quyền trị nước của ḿnh[10]. Việc đảng cộng-sản thanh-toán nghiệt-ngă các thành-phần yêu nước khác đă đặt người công-giáo trước sự chọn-lựa giữa hai cái xấu. Và nhiều người đă chấp-nhận thực-dân pháp như là cái ít xấu hơn và rời-bỏ kháng-chiến. Tháng 11.1951 Hội-đồng Giám-mục Việt-nam đưa ra bản nhận-định, trong đó lặp lại nguyên-tắc của Giáo-chủ Rôma, rằng người công-giáo không được gia-nhập đảng cộng-sản và cấm-chỉ mọi sự cộng-tác với tổ-chức này. Chính-quyền cộng-sản phản-ứng lại bằng trấn-áp bắt-bớ tín-hữu, tịch-thu trường học, nhà thương và các cơ-sở khác của giáo-hội, đánh thuế thật nặng lên những cơ-sở c̣n lại.

 

Giáo-hội công-giáo trong một đất-nước phân-chia (1954-1975)

Cuộc chiến giữa chính-phủ việt-minh và thực-dân pháp từ 1949 tới 1954 càng ngày càng leo thang. Và nó đă chấm dứt sau cuộc thua trận của Pháp ở phủ Điện-biên ngày 07.05.1954.  Ngày 21.07.1954 bản Hiệp-định đ́nh-chiến được kí tại Genève. Theo đó Việt-nam bị chia đôi tại vĩ-tuyến 17. Dân chúng hai miền trong ṿng 300 ngày, nghĩa là cho tới 20.07.1955, được quyền tự-do ra Bắc hay vô Nam theo ư ḿnh.  Năm 1954 Việt-nam có 23 triệu dân, dân hai miền tương-đối ngang nhau. Hiệp-định Genève, với điều-khoản tự-do chuyển cư, đă làm mất cân-bằng dân-số. 860.000 dân Bắc, trong đó khoảng 650.000 công-giáo, nghĩa là khoảng 40% tổng-số giáo-dân và hơn 70% linh-mục miền Bắc, đă di vào Nam. Chính-phủ Hồ Chí Minh ra sức thuyết-phục người công-giáo ở lại bằng hứa-hẹn tự-do tôn-giáo, nhưng không kết-quả. Cuối cùng họ dùng biện-pháp mạnh: truy-nă, tống giam những kẻ tổ-chức vượt tuyến, nhiều người trong số đó đă bị chính-quyền cộng-sản xử tử [11].

 

Giáo-hội công-giáo ở miền Bắc (1954-1975)

Miền Bắc có trên dưới 1 triệu tín-hữu. Sau cuộc ra đi, chỉ c̣n độ 300.000. Với 650.000 từ Bắc vào, số tín-hữu miền Nam bổng nhiên được tăng thêm 2/3. Chỉ có 300, trong tổng-số 1.127 linh-mục làm mục-vụ, ở lại Bắc, trong số đó nhiều vị đă già và đau yếu. Đă ít người tin rằng giáo-hội miền Bắc có thể sống-sót sau cơn xuất huyết nhân-sự đó. Thêm vào đó, chính-quyền cộng-sản ra một lô sắc-lệnh và qui-chế ngăn-cản việc đào-tạo linh-mục mới. Muốn chiêu sinh hay phong chức phải có phép nhà-nước. Nhiều thanh-niên muốn đi tu th́ bị ḱm-giữ lâu-dài trong quân-dịch hoặc bị muôn vàn khó-dễ khác làm nản chí tiến thân. Chính-quyền cộng-sản coi người công-giáo là kẻ thù ư-hệ. Và trái lại, nhiều người công-giáo đă dứt-khoát cho thấy quan-điểm đối-kháng của ḿnh qua việc vượt-thoát trốn-chạy chế-độ.

Tháng 6.1955 chính-quyền miền Bắc ra một nghị-định tôn-giáo, một mặt bảo-đảm tự-do tôn-giáo mặt khác lại khoá việc thực-thi tự-do đó bằng nhiều điều-kiện và qui-chế khắt-khe. Nghị-định viết về tự-do tôn-giáo: "Công-dân được tự-do tín-ngưỡng. Không ai có quyền xâm-phạm tự-do này. Mọi công-dân có quyền xưng đạo và truyền đạo của ḿnh, với điều-kiện không làm tổn-hại đến độc-lập và tự-do của nhà-nước, đến trật-tự xă-hội và luật-pháp của nhà-nước Việt-nam dân-chủ cộng-hoà"[12]. Trong một khoản khác (Điều 14), ngoài việc xác-định tự-do hành đạo, bổn-phận của người hành-lễ cũng được ghi rơ: "Khi giảng, người hành-lễ đồng thời có bổn-phận phải nhắc-nhở tín-đồ ḿnh về các bổn-phận yêu nước, về ư-thức bổn-phận công-dân, kính-trọng nhà cầm quyền và tôn-trọng pháp-luật nhà-nước". Luật cải-tạo nông-nghiệp có đề-cập tới phương-tiện nuôi sống giáo-sĩ và chăm-sóc sửa-sang nơi thờ-tự. Luật này, trong mục tịch-thu đất-đai, có dự-trù để lại một khoản đất ruộng để các giáo-hội dùng làm phương-tiện chăm-sóc và sửa-sang nhà thờ, chùa, đền (Điều 10 Luật tôn-giáo).

Hiến-pháp có ghi tự-do tôn-giáo, nhưng tự-do này đă bị hạn-chế bởi một lô những sắc-lệnh chặt-chẽ. Linh-mục bị hạn-chế đi-lại tối-đa, khiến việc thăm bệnh-nhân, viếng kẻ liệt ngoài khuôn-viên giáo-xứ không thể thực-hiện được. Linh-mục không được vào bệnh-viện, v́ bí-tích xức dầu bệnh-nhân chỉ được làm trong nhà thờ mà thôi. Cấm linh-mục giảng đạo cho người ngoài, v́ như thế là cố t́nh "ảnh-hưởng lên suy-nghĩ" người khác và như vậy có thể làm phương-hại đến nền an-ninh, hoà-b́nh và thống-nhất quốc-gia.

Mười năm sau ngày có nghị-định tự-do tôn-giáo, nghĩa là tới năm1965, giáo-hội miền Bắc mang bộ mặt thật thảm-thương: tài-sản bị tịch-thu, cơ-quan ngôn-luận bị đóng cửa, tất cả trường học bị quốc-hữu. Các lớp giáo-lí chỉ c̣n được diễn-ra trong nhà thờ. Thánh lễ thường bị các nhóm thanh thiếu-niên với sự bao-che của công-an phá-rối [13]. Nhiều nơi trong số 12 giáo-phận tại miền Bắc không có giám-mục, v́ việc bổ-nhiệm bị chính-quyền từ-chối hoặc gây khó-dễ dai-dẳng. Khâm-sứ Toà thánh John Dooley bị đau phải rời nhiệm-sở. Vị đại-diện của ngài, Terenz O´Driscoll bị trục-xuất ngày 17.08.1959. Theo gương Trung-quốc, chính-quyền cộng-sản miền Bắc cũng lập ra tổ-chức Ủy-ban liên-lạc toàn-quốc những người Công-giáo yêu Tổ-quốc và yêu Hoà-b́nh (gọi tắt Uỷ-ban liên-lạc Công-giáo toàn-quốc) vào năm 1955, nhưng không thành-công lắm. Để phản-ứng lại việc làm gây chia-rẽ giáo-hội đó, các giám-mục cấm giáo-dân và giáo-sĩ không được tham-gia vào "Uỷ-ban liên-lạc Công-giáo toàn-quốc". Chính-quyền rơ-ràng muốn dùng uỷ-ban để chia-rẽ nội-bộ giáo-hội và nhất là tách giáo-hội miền Bắc ra khỏi liên-hệ mật-thiết với Giáo-chủ Rôma. Thái-độ chống-đối dứt-khoát của các giám-mục đă khiến cho những giáo-sĩ và giáo-dân tham-gia vào uỷ-ban bị cô-lập khỏi cộng-đồng dân Chúa. Thiểu-số c̣n lại bám-trụ trong ủy-ban được lănh-đạo cộng-sản coi là đại-diện chính-thức của người công-giáo trước mặt chính-quyền.

Trong thập niên 60 và 70 liên-lạc giữa giáo-hội miền Bắc và thế-giới bên ngoài bị hạn-chế tối-đa và hầu như không có. Chẳng có giám-mục nào được phép đi dự các cuộc họp công-đồng Vatican 2 (1962-65). Trong một thời-gian dài các văn-kiện công-đồng cũng như việc thực-thi những cải-tổ đó đă không tới được với giáo-hội miền Bắc. Truyền-thông quốc-tế thời đó hầu như chỉ cho tin về cuộc chiến, mà thường là nh́n từ góc-độ miền Nam Việt-nam. Không một đài báo nào loan tin về cuộc sống giáo-hội hoặc về các giáo-hữu miền Bắc. Caritas quốc-tế là đường dây duy-nhất giữ mối liên-lạc của giáo-hội với thế-giới bên ngoài. Đức ông Georg Hüssler, giám-đốc cơ-quan thiện-nguyện này, đă có thể vào thăm Việt-nam nhiều lần. Cả tổ-chức Misereor lúc đó cũng giữ liên-lạc và đă giúp-đỡ nhân-đạo cho Việt-nam. Trước ngày đất-nước thống-nhất không lâu, giám-mục phó Hà-nội Trịnh Văn Căn được phép sang Roma tham-dự thượng-hội-đồng giám-mục thế-giới năm 1974 [14]. Nhưng đối lại, chính-quyền đă không cho hội-đồng giám-mục miền Bắc gia-nhập "Hội-đồng Giám-mục Á châu" mới được thành-lập trước đó, năm 1971.

 

Giáo-hội công-giáo ở miền Nam (1954-1975)

Biến-cố chia-cắt đất-nước năm 1954 là một cuộc đổi-đời  lịch-sử cho đất-nước và giáo-hội việt-nam. Miền Nam lúc đó có 11 triệu dân. Với số tín-hữu từ Bắc vào, giáo-hội trong Nam bổng chốc tăng lên 1,4 triệu. Qua việc bầu Ngô Đ́nh Diệm (công-giáo) lên ghế thủ-tướng (1955-63), người công-giáo cũng trở thành lực-lượng chính-trị dẫn đầu trong nước [15].  Trước khi có cuộc di-cư, công-giáo ở miền Nam chỉ độ 7% trên tổng-số dân. Dù vậy, thiểu-số này lại giữ một tỉ-lệ quá lớn trong hàng lănh-đạo chính-trị và quân-đội. Năm 1960 người công-giáo chiếm 66% số thượng-nghị-sĩ, 30% dân-biểu và 21% sĩ-quan cao cấp. Ngoài ra những vai-tṛ chủ-chốt trong nội-các cũng đều do công-giáo nắm-giữ. Ngô Đ́nh Diệm cùng với anh là hồng-y Ngô Đ́nh Thục ở Huế theo-đuổi một chính-sách chống cộng quyết-liệt. V́ thiếu tế-nhị trong việc chọn-lựa phương-tiện nắm giữ quyền, chính-sách của Ngô Đ́nh Diệm đă gây ảnh-hưởng tiêu-cực lên uy-tín của giáo-hội công-giáo, nhất là trong tương-quan với Phật-giáo. Một mặt ông Diệm là người ngay-thẳng thanh-liêm. Mặt khác ông lại quá đam-mê quyền-lực và bằng mọi cách bám-giữ nó. Ông quá gắn-bó với gia-đ́nh, để cho thân-nhân nắm những vai-tṛ chủ-chốt trong chính-quyền. Đă thế, những người này nhiều khi đă dùng những đ̣n-phép tham-nhũng để mua lấy ghế ngồi của ḿnh. Tất cả những thứ đó cuối cùng đă chôn-vùi uy-tín cả chính-quyền ông. Cuộc đảo-chánh bạo-động lật đổ ông tháng 11.1963 v́ thế đă được đông-đảo quần-chúng hoan-nghênh.

Từ năm 1954 tới 1969 người công-giáo đă tạo-dựng được một hệ-thống trường học mạnh. Năm 1953, họ chỉ có 3 trường trung-học. Năm 1969, con số lên tới 226 trường với 82.827 học-sinh công-giáo và 70.101 học-sinh không công-giáo. Song-song, cho tới năm 1969, hệ-thống tiểu-học công-giáo với 1.030 trường cũng đă được gia-tăng mở rộng. Đại-học công-giáo có mặt ở Sài-g̣n, Đà-lạt và Huế. Hoạt-động công-giáo trên mặt y-tế và cứu-trợ xă-hội rất được trọng-nể. Các giám-mục miền Nam tham-dự tích-cực trong các khoá họp công-đồng (1962-65). Các quyết-nghị công-đồng về cải-tổ phụng-vụ, huấn-luyện linh-mục, về quan-điểm đối với các tôn-giáo khác cũng như hiến-chế về mục-vụ và nhiều sáng-kiến đổi mới khác của công-đồng đă được áp-dụng tương-đối sớm tại miền Nam. Hội-đồng giám-mục miền Nam cũng là hội-viên thành-lập của "Hội-đồng Giám-mục Á châu" (FABC).

 

 

 

 

Những nét lớn về chính-sách tôn-giáo sau 1975

 

Lí-luận mác-lênin về tôn-giáo làm căn-bản cho chính-sách tôn-giáo

Cũng như mọi nước cộng-sản hiện nay và trước đây, đảng cộng-sản và chính-quyền việt-nam lấy lí-luận phê-b́nh tôn-giáo của Marx và Lenin làm kim chỉ-nam cho chính-sách tôn-giáo của họ. Theo đó, tôn-giáo -"thuốc phiện của dân"- là sản-phẩm của một dạng xă-hội nào đó bày ra để đàn-áp và bóc-lột giới vô-sản. Tôn-giáo, trong nhất thời, với hứa-hẹn của chúng về một thiên-đường tương-lai, có thể có một tác-dụng xoa-dịu nào đó.  Nhưng xét theo quan-điểm vô-thần khoa-học th́ tôn-giáo sẽ tự chết dần và biến mất, khi xă-hội xă-hội chủ-nghĩa được h́nh-thành. Trong khi chờ-đợi tới ngày các tôn-giáo biến mất, chính-quyền cần và nên có một chính-sách để hướng chúng vào công cuộc xây-dựng xă-hội xă-hội chủ-nghĩa. Điều này có nghĩa là bắt tôn-giáo tự đào mồ chuẩn-bị chôn chính chúng.

Ở Việt-nam, người cộng-sản nh́n tôn-giáo với con mắt nghi-kị hơn, là v́ họ coi tôn-giáo là đồng-minh của kẻ thù, là "thế-lực phản-động của chủ-nghĩa tư-bản", luôn t́m cách cấu-kết với các lực-lượng thù-địch khác để âm-mưu lật-đổ chế-độ. Nhiều năm dài cộng-sản việt-nam đă đeo-đuổi một chính-sách chống tôn-giáo gắt-gao. Chính-sách này không chỉ đọc thấy trong các văn-bản pháp-lí chính-thức của đảng và chính-quyền, mà c̣n thể-hiện qua nghệ-thuật và nhất là qua văn-chương. Giáo-sĩ, giáo-dân công-giáo thường được sách-vở cộng-sản tŕnh-bày như là những tay giả-h́nh và lừa-đảo, miệng nam-mô nhưng ḷng bồ dao găm.

Cái nh́n tiêu-cực của đảng cộng-sản và chính-quyền việt-nam phản-ảnh trong nhiều tài-liệu liên-quan tới chính-sách nhà-nước phổ-biến sau ngày đất-nước thống-nhất năm 1976 - và cả trước đó nữa [16]. Qua đó ta thấy cộng-sản sử-dụng ba thứ ngôn-từ khác nhau. Thứ nhất là "ngôn-từ bao-dung" hay "đưa tay ra", được dùng trong các cuộc tiếp-xúc giữa đại diện đảng và nhà-nước với các đại-diện tôn-giáo. Đây là thứ ngôn-ngữ của "Mặt-trận liên-hiệp", của "Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước", của việc hô-hào mọi tổ-chức, mọi tôn-giáo cùng nắm tay để xây-dựng xă-hội chủ-nghĩa. Theo ngôn-ngữ này th́ người cộng-sản và người công-giáo nên cộng-tác với nhau, trong lúc phía đảng th́ cấm mọi h́nh-thức đối-thoại hay thảo-luận về lí-thuyết, v́ giữa hai thực-thể này không có ǵ chung.

Một ngôn-từ khác xuất-hiện trong các văn-bản pháp-lí chính-thức qui-định về sinh-hoạt tôn-giáo.Chẳng hạn Sắc-lệnh 296 ngày 11.11.1977 nói về chính-sách tôn-giáo của nhà-nước: " bảo-đảm tự-do tín-ngưỡng nhưng đồng thời nghiêm-cấm mọi thế-lực chống cách-mạng lợi-dụng tôn-giáo làm cản-trở sự-nghiệp xây-dựng xă-hội chủ-nghĩa". Sắc-lệnh tôn-giáo năm 1977 nói về tự-do tôn-giáo: "Mọi hoạt-động tôn-giáo phải tuân theo pháp-luật và chính-sách nhà-nước". Điều 68 Hiến-pháp năm 1980 của nhà-nước cộng-sản việt-nam: "Công-dân có quyền tự-do tín-ngưỡng, tôn-giáo, theo hoặc không theo một tôn-giáo nào. Không ai được xâm-phạm tự-do tín-ngưỡng, tôn-giáo để làm trái pháp-luật và chính-sách của nhà-nước". Điều 38 của Hiến-pháp này khẳng-định: "Chủ-nghĩa mác-lênin định-hướng sự phát-triển xă-hội". Nhà-nước cộng-sản chính-thức công-nhận 6 tập-thể giáo-hội: Phật giáo, Công-giáo, Cao-đài, Hoà-hảo, Hồi-giáo (Islam) và Tin-lành. Một vài nhóm khác như "Giáo-hội Phật giáo Thống-nhất" [17], một số thành-phần Cao-đài, Hoà-hảo và Tin-lành không sinh-hoạt trong các tổ-chức được nhà-nước nh́n-nhận.

 

Giáo-hội công-giáo và tự-do tôn-giáo sau 1975

Sau ngày thống-nhất năm 1976 mối liên-hệ giữa giáo-hội công-giáo và đảng cộng-sản không sáng-sủa, v́ thái-độ chống cộng của người công-giáo miền Nam trước đây. Một loạt giáo-sĩ và giáo-dân bị kết án v́ nhiều tội, trong đó kể cả tội chống cộng và đă trốn chạy vào Nam. Nhiều người di-cư đă phải vào tù cải-tạo nhiều năm. Nhiều người đă bỏ ḿnh v́ đói, bệnh hoặc bị tàn-phế trong các trại tù khổ-sai và thiếu-thốn đó. Các trường học, cư-xá sinh-viên, nhà thương, viện mồ-côi của giáo-hội bị trưng-thu và quốc-hữu. Khâm-sứ Toà-thánh, tổng-giám-mục Henri Lemaitre, và các thừa-sai ngoại-quốc bị trục-xuất. Nói tóm lại, ngoài các nạn-nhân giáo-sĩ, tu-sĩ và giáo-dân công-giáo, c̣n có trên dưới 200.000 quân cán chính miền Nam, trong đó gồm cả những trí-thức, y-sĩ và văn nghệ-sĩ,  đă bị tập-trung vào tù cải-tạo lâu năm.

Đời sống đạo trên hai miền Bắc Nam phát-triển rất khác nhau. Cho tới 1975, giáo-hội miền Nam đă thực-hiện được một số đổi mới theo tinh-thần công-đồng Vatican 2. Họ cũng đă đóng vai-tṛ trọng-yếu trong FABC. Sau ngày thống-nhất, liên-lạc giữa giáo-hội việt-nam - từ 1980 đă hợp chung lại thành Hội-đồng Giám-mục Việt-nam – với thế-giới bên ngoài bị cản-trở, đặc-biệt việc hợp-tác giữa các giáo-hội châu Á bị tác-hại nhiều nhất. Tuy nhiên, nhà-nước đă không cắt đứt sợi dây liên-lạc - thể-hiện qua các chuyến viếng giáo-đô (ad limina) cứ 5 năm một lần - của các giám-mục với Giáo-chủ ở Vatican [18]. Sau 1980 các giám-mục được phép đi ad limina và đi dự các cuộc họp giám-mục thế-giới. Nhưng các sinh-hoạt với FABC vẫn bị cấm trong nhiều năm [19].

Dù có những kinh-nghiệm tiêu-cực trong giai-đoạn đầu, các giám-mục đă sớm xác-định sự sẵn-sàng hợp-tác của giáo-hội công-giáo trong công cuộc tái-thiết đất-nước thống-nhất, và sẵn-sàng dấn-thân trong các lănh-vực giáo-dục, y-tế, văn-hoá và truyền-thông xă-hội. Tháng 7.1976 các giám-mục đă ra một thư chung cởi-mở làm chỉ-hướng cho cuộc sống dưới chế-độ cộng-sản. Các ngài kêu-gọi tín-hữu công-giáo cộng-tác vào những sinh-hoạt cụ-thể không trái với đức tin và lương-tâm để cùng xây-dựng tổ-quốc và xă-hội. Tổng-giám-mục giáo-phận thành-phố Hồ Chí Minh (trước đây là Sài-g̣n) Phao-lô Nguyễn Văn B́nh, lúc đó làm chủ-tịch hội-đồng giám-mục, đă nỗ-lực rất nhiều trong việc t́m-kiếm một thoả-hiệp sống (modus vivendi) với chế-độ cộng-sản. Một số người chỉ-trích cho rằng ngài đă đi xa quá trong việc này, nhưng đă không ai có thể kết án việc làm của ngài đă gây phương-hại tới các nguyên-tắc căn-bản của đức tin và luân-lí.

Từ 24.04. tới 01.05.1980, lần đầu tiên từ 1952, các giám-mục toàn quốc đă có thể họp chung tại Hà-nội [20]. Với thư chung đại-hội, các giám-mục tiếp-tục nỗ-lực t́m tương-quan hài-hoà với chính-quyền cộng-sản [21]. Qua thư chung này, các giám-mục nhấn mạnh rằng giáo-hội công-giáo muốn 1. cùng với tất cả những người việt khác chung tay xây-dựng và bảo-vệ tổ-quốc và 2. xây-dựng một giáo-hội sống-động trên căn-bản truyền-thống dân-tộc. Tài-liệu mật viết năm 1982 cho thấy khá rơ mục-tiêu của đảng đối với giáo-hội công-giáo[22]. Theo đó, phải làm sao để "dụng-cụ tay-sai đế-quốc và chống cộng" này trở thành một "tôn-giáo phục-vụ nhà-nước", thành một tôn-giáo "yêu nước", "tiến gần lại với xă-hội chủ-nghĩa". Muốn vậy, đảng và nhà-nước phải làm sao lập "một giáo-hội độc-lập, vượt ra ngoài mọi lệ-thuộc với nước ngoài". Đảng phải làm sao lợi-dụng những khác-biệt sẵn có giữa các thành-phần cấp-tiến, bảo-thủ và lưng-chừng trong giáo-hội công-giáo để thực-hiện kế "chia để trị". Căn-bản là phải làm sao đưa thành-phần cấp-tiến vào vai-tṛ linh-mục và giám-mục. Để thực-hiện mục-tiêu đó, tài-liệu khuyên hăy dùng chiến-thuật mềm-dẻo trong quan-hệ với giáo-hội hầu tránh những đụng-độ không cần-thiết.

 

Vai-tṛ các hội-thánh tin-lành

Những nhà truyền giáo tin-lành đầu tiên tới Việt-nam năm 1911. Hầu hết họ từ Hoa-ḱ tới, thuộc truyền-thống thanh-giáo trong tổ-chức Christian and Missionary Alliance (CMA) và giảng đạo cho người thượng cao-nguyên trung-phần. Năm 1954, đất-nước chia-cắt, đa-số tín-hữu tin-lành di vào Nam. Tin-lành ở Việt-nam v́ thế cũng phân thành hai hội-thánh. Miền Bắc chỉ c̣n lại 11 mục-sư và giảng-viên cùng với độ vài ngàn tín-hữu. Hội-thánh tin-lành miền Bắc được nhà-nước công-nhận năm 1958. Trong hai thập niên chiến-tranh (1954-75) Tin-lành trong Nam tự-do phát-triển. Họ lập trường kinh-thánh ở nhiều tỉnh và năm 1968 lập Trường Thần-học Thánh-kinh ở Nha-trang. Sau ngày thống-nhất, các hội-thánh và cộng-đoàn tin-lành bị đàn-áp nhiều hơn phía công-giáo[23]. Lí-do là v́ cộng-sản tin rằng Tin-lành miền Nam có liên-hệ chặt-chẽ với Hoa-ḱ và v́ thế dễ phản-động, thiếu tin-tưởng. V́ vậy chính-quyền chưa bao giờ công-nhận các giáo-hội này. Năm 1976 Tin-lành tại Việt-nam có khoảng 150.000 tín-hữu, trong số đó hai phần ba là người thuộc các đồng-bào thiểu-số, đặc-biệt là người Hmông. 300 nhà thờ của họ bị phá hoặc tịch-thu. Các trường huấn-luyện mục-sư ở Nha-trang, Đà-lạt và Buôn Ma Thuột bị đóng cửa. Nhiều mục-sư bị bắt hoặc bỏ tù. Cố-gắng lập một trường mới để huấn-luyện mục-sư và nhân-sự cho đến nay vẫn bị chính-quyền cản-trở. T́nh-thế buộc họ phải nẩy ra sáng-kiến tổ-chức những khoá thần-học hàm-thụ để huấn-luyện bù-đắp nhân-sự.

Dù bị khống-chế, số-lượng tín-hữu tin-lành vẫn tăng đều kể từ khi có chính-sách đổi mới trong thập niên 80´. Ngày nay được ước-lượng vào khoảng 800.000. Họ gặp nhau hành đạo trong khoảng 3.500 nhà thờ tại-gia [24]. Đại-hội toàn-quốc lần cuối của Tin-lành họp năm 1976. Kể từ đó cho tới năm 2001 chẳng c̣n một điều-hợp chung nào trên b́nh-diện cả nước. V́ không có một tổ-chức chung nên những nỗ-lực b́nh-thường-hoá quan-hệ với các cơ-quan chính-quyền gặp khó-khăn. Càng khó-khăn hơn nữa trong nỗ-lực hợp-thức-hoá, v́ cộng-sản cho rằng các mục-sư trên các miền cao, nơi nhiều tộc thiểu-số theo đạo, ngầm yểm-trợ đ̣i-hỏi tự-trị của đồng-bào thiểu-số [25]. Chủ-tịch quốc-hội Nguyễn Văn An, nhân buổi tiếp một phái-đoàn tin-lành dịp Giáng-sinh 2001, đă cảnh-cáo các đại-biểu hăy loại trừ những thành-phần xấu muốn lợi-dụng tôn-giáo để tạo phân-hoá ra khỏi các cộng-đoàn. Năm 2001 và đầu 2002 có nhiều tin loan về những vụ biểu-t́nh và đụng-độ bạo-động giữa các cộng-đoàn tin-lành trên cao-nguyên với chính-quyền và quân-đội cộng-sản việt-nam. Theo cái nh́n của chính-quyền, chính các mục-sư thường là đầu mối của những đ̣i-hỏi tự-trị trên. Nhiều vị lănh-đạo cộng-đoàn v́ thế đă bị tù hoặc đuổi khỏi địa-sở. Chính-quyền dùng áp-lực và cả các biện-pháp tra-tấn để bắt tín-hữu tin-lành người thượng bỏ đạo, trở về với tín-ngưỡng truyền-thống của họ.

Giữa những căng-thẳng như thế th́ nhà-nước cho phép mở đại-hội. Nhiều trăm đại-biểu tin-lành miền Nam về họp vào tháng 2.2001.

Tháng 4.2001 Hội-thánh Tin-lành miền Nam Việt-nam được Ban tôn-giáo trung-ương nhà-nước công-nhận và tất cả những cộng-đoàn thành-viên của tổ-chức này được sinh-hoạt hợp-pháp. Nhà-nước cũng cho lập một học-viện đào-tạo mục-sư ở Nha-trang [26].         

Với việc thành-lập Hội-thánh Tin-lành Việt-nam - tổ-chức trung-ương và thân nhà-nước - một mặt Tin-lành được công-nhận, mặt khác nhà-nước chỉ hợp-thức-hoá sinh-hoạt cho những cộng-đoàn nào tham-gia vào tổ-chức này mà thôi. V́ đứng ngoài nên trên dưới 3000 hội-thánh tại-gia với 50% tổng-số tín-hữu lâm vào thế lưỡng-nan: cả nhà-nước lẫn hội-thánh (quốc-doanh) coi họ là bất hợp-pháp. Mùa hè 2002 nhiều tin-tức về việc chính-quyền tấn-công các giáo-hội tại-gia được loan ra. Một số mục-sư bị bắt giam v́ tội giảng đạo trái phép. Song-song cũng có lời đồn rằng đă có sự nhúng tay của đảng cộng-sản trong việc đặt-định nhân-sự của Ủy-ban chuẩn-bị đại-hội và trong việc bầu đại-biểu vào tổ-chức trung-ương kia. Suốt năm 2001 đă có nhiều hội-thánh tại-gia bị công-an đánh-phá, tín-hữu bị tống giam hoặc bị phạt tiền.

 

Chính-sách tôn-giáo chính-thức của đảng cộng-sản và nhà-nước việt-nam

Điều 70 Hiến-pháp ngày 15.04.1992 viết về tự-do tôn-giáo:

"Công-dân có quyền tụ-do tín-ngưỡng, tôn-giáo, theo hoặc không theo một tôn-giáo nào. Các tôn-giáo đều b́nh-đẳng trước pháp-luật. Những nơi thờ-tự của các tín-ngưỡng, tôn-giáo được luật-pháp bảo-hộ. Không ai được xâm-phạm tự-do tín-ngưỡng, tôn-giáo hoặc lợi-dụng tín-ngưỡng, tôn-giáo để làm trái pháp-luật và chính-sách của nhà-nước"[27].

Hiến-pháp bảo-đảm tự-do. Nhưng trên thực-tế tự-do này bị hạn-chế và quyết-định bởi một lô nghị-quyết, sắc-lệnh, nghị-định, chỉ-thị của đảng cộng-sản, của nhà-nước, của các cơ-quan an-ninh và công-an. Chính-quyền lấy quan-điểm mác-xít về tôn-giáo để hành-xử hơn là theo nguyên-tắc tự-do của hiến-pháp.

 

Nghị-định về hoạt-động tôn-giáo

Nghị-định 26 ngày 19.04.1999 là căn-bản lí-thuyết giúp ta hiểu việc thực-thi tự-do tôn-giáo ở Việt-nam. Nghi-định này thay-thế tài-liệu ngày 30.09.1992 [28].

Sau đây là những khoản chính:

Nhà-nước việt-nam bảo-đảm quyền tự-do tín-ngưỡng và tự-do không tín-ngưỡng. Nói rơ hơn, tự-do tin hoặc không tin (Điều 1). Các hoạt-động tôn-giáo phải tuân theo pháp-luật của nhà-nước (Điều 3). Chỉ những sinh-hoạt tôn-giáo nào hợp-pháp mới được nhà-nước bảo-hộ (Điều 4).

Mọi sinh-hoạt, đặc-biệt những h́nh-thức mê-tín dị-đoan, đi ngược lại quyền-lợi của nhà-nước và người dân đều bị xử-lí theo pháp-luật (Điều 5). Những sinh-hoạt tôn-giáo b́nh-thường chỉ được phép diễn ra trong khuôn-khổ nơi thờ-tự. Các sinh-hoạt bên ngoài khuôn-viên đó phải được phép của nhà-nước trung-ương hoặc chính-quyền địa-phương. Tổ-chức tôn-giáo nào đi ngược lại những điều này sẽ bị cấm hoạt-động (Điều 7). Những khoản kế tiếp qui-định chi-tiết cấp hoặc cơ-quan hành-chánh nào có quyền cho phép những sinh-hoạt nào.

Theo đó, chính-quyền trung-ương quyết-định về các cuộc họp cấp quốc-gia, về việc lập cơ-sở huấn-luyện như chủng-viện hay học-viện và kiểm-tra các cơ-sở này, chẳng hạn như qua việc bổ nhiệm giáo-sư hoặc kiểm-soát nội-dung học-tŕnh. Chính-quyền trung-ương cũng dành quyền cho phép phong chức hồng-y và giám-mục. Mọi giúp-đỡ của các cơ-quan từ-thiện nước ngoài cho giáo-hội cũng phải thông qua kiểm-soát của trung-ương.

Chính-quyền tỉnh trách-nhiệm về các cuộc họp hoặc sinh-hoạt cấp vùng, như cấm-pḥng năm của linh-mục và tu-sĩ, sửa-chữa nhà thờ, phong chức linh-mục, bổ nhiệm hoặc chuyển-đổi nhân-sự trong giáo-phận.

Chỉ-thị tháng 7.1999 chi-tiết-hoá việc thực-hành Nghị-định 26 cho thấy rơ nhà-nước muốn nắm vững tất cả mọi sinh-hoạt trong giáo-hội, để kịp thời có phản-ứng, nếu cần [29].  Một cách tổng-quát, Ban Tôn-giáo trung-ương có nhiệm-vụ làm việc trực-tiếp với các tôn-giáo. Ban này là một thành-viên của Mặt-trận Tổ-quốc. Mặt-trận là tổ-chức chung cho mọi lực-lượng xă-hội. Nó là sợi dây liên-kết của đảng cộng-sản với các nhóm xă-hội như dân thiểu-số, người việt nước ngoài, các cộng-đồng tôn-giáo. Trong lần sửa-đổi Hiến-pháp 1992 vào cuối năm 2001, điều 9 liên-quan tới Mặt-trận Tổ-quốc đă được viết lại. Mặt-trận được giao thêm nhiệm-vụ. Nó đóng vai-tṛ lớn hơn trong tiến-tŕnh dân-chủ-hoá có thể xẩy ra và phải bảo-đảm cho ảnh-hưởng của đảng cộng-sản trong trường-hợp này. Ngoài ra, việc kiểm-soát tôn-giáo, vốn đă gắt-gao, nay được thắt chặt hơn bằng cách ép-buộc tất cả các cộng-đồng tôn-giáo phải gia-nhập mặt-trận, nếu muốn được hợp-thức-hoá. Thành-viên cuối cùng trong năm 2001 của mặt-trận là Hội-thánh Tin-lành miền Nam Việt-nam. Không phải ai cũng chấp-nhận sức ép này: Giáo-hội Phật-giáo Thống-nhất cũng như nhiều hội-thánh tại-gia tin-lành đă không gia-nhập. Giáo-hội công-giáo có tên trong danh-sách thành-viên mặt-trận, nhưng chỉ cộng-tác ở cấp hội-đồng giám-mục mà thôi [30].

 

Kiểm-soát mọi hoạt-động tôn-giáo – căn-bản của chính-sách tôn-giáo

Từ mấy năm nay, nỗ-lực tiêu-diệt tôn-giáo bằng những án tù hoặc cải-tạo lâu năm hoặc bằng tra-tấn không c̣n nữa. Thay vào đó là những biện-pháp đàn-áp kín-đáo hơn như khống-chế bằng xét nhà, thẩm-vấn dai-dẳng, giam "hành-chánh", quản-thúc và đày đi những vùng quê hẻo-lánh. Chính-sách tôn-giáo của đảng và nhà-nước trong những năm qua về mặt thực-tế phải nói có phần cải-tiến, nhưng về mặt hành-chánh và luật-pháp không có ǵ thay-đổi [31]. Tội "chống lại chính-sách đoàn-kết dân-tộc""gây chia-rẽ giữa những người theo đạo và những người không theo đạo" mới thêm năm 1997 vào luật h́nh-sự vẫn giữ nguyên giá-trị với những h́nh phạt nặng-nề. Nghĩa là, trên căn-bản, quyền thống-trị tuyệt-đối của đảng cộng-sản trên mọi tổ-chức nhân-xă vẫn không đổi.

T́nh-trạng hiện nay về tự-do tôn-giáo được diễn-tả rơ nét nhất bằng sự kiểm-soát tuyệt-đối của nhà-nước. Kiểm-soát này khởi đi từ cấp công-an địa-phương, là kẻ có quyền bắt người không cần lệnh toà-án. Hễ đâu trên ba người không có giấy cư-trú tụ-tập là công-an có thể ra tay. Dụng-cụ quan-trọng nhất để kiểm-soát dân là giấy phép cư-trú, trên đó có ghi nhiều chi-tiết về cá-nhân như thành phần tôn-giáo, chính-trị... Không có giấy này th́ sẽ khó-khăn khi xin việc, xin nhập trường hoặc vào nhà thương. Giấy phép cư-trú do công-an địa-phương cấp và có thể rút lại. Một giấy quan-trọng khác là "Tờ khai lí-lịch", trong đó ghi rơ về những hành-động quá-khứ, các đóng-góp cho cách-mạng và quan-điểm chính-trị trước và sau ngày thống-nhất. Khi xét phong chức một linh-mục, chính-quyền không chỉ xét lí-lịch của đương-sự, mà xem luôn cả của thân-nhân và người quen của vị đó.

 

Kiểm-soát tự-do tôn-giáo

Nhiều việc làm xét ra là chuyện "b́nh-thường" của tôn-giáo, nhưng ở Việt-nam phải có phép chính-quyền. Nh́n sinh-hoạt của giáo-hội công-giáo đủ biết mức-độ kiểm-soát bao-trùm như thế nào. Nhà-nước muốn nắm vững mọi sinh-hoạt để có thể kiểm-soát, cải-chính hoặc kết tội. Công-an có quyền nghe và thu băng mỗi bài giảng. Mỗi cuộc tụ-họp trên bảy người, ngoài các buổi phụng-vụ được phép, phải khai-báo. Cả chuyện giữ-ǵn, tu-sửa, xây mới nhà thờ cũng phải xin phép. Nhập chủng-viện phải có phép. Nhà-nước chỉ cho phép 6 chủng-viện trên khắp nước tuyển sinh hai năm một lần. Từ nhiều năm nay hội-đồng giám-mục đợi phép nhà-nước để mở thêm hai chủng-viện ở Thái-b́nh và Xuân-lộc để giải-toả bớt t́nh-trạng quá-tải của trường Hà-nội và  thành-phố Hồ Chí Minh mà vẫn không thấy. Nhà-nước cho phép thật hạn-chế lượng tu-sinh nhập học mà chẳng lí ǵ đến nhu-cầu của mỗi giáo-phận. Buồn cười nữa là mỗi giáo-phận chỉ được phép tuyển sinh trong giáo-phận ḿnh mà thôi.  Điều này có nghĩa là giám-mục giáo-phận đă bị hạn-chế ngay từ đầu trong việc phân-bổ tân chức linh-mục. Mặt khác nhiều khi có những ứng-sinh dư điều-kiện trong một địa-phương th́ không được nhận, nơi khác th́ lại phải nhận ứng-sinh kém điều-kiện hơn. Đối với những giáo-phận không đủ ứng-sinh th́ nạn thiếu linh-mục càng trầm-trọng hơn và các giám-mục bị bó tay trong việc muốn có nhân-sự đều cho các giáo-xứ.

Được phép vào chủng-viện chưa hẳn là được phép nhận chức linh-mục. Học xong, có khi phải chờ phép phong chức rất lâu. Có trường-hợp nhà-nước đă không cho chịu chức, bởi v́ họ c̣n xét quan-điểm chính-trị. Dĩ nhiên giáo-hội hoàn-toàn không chấp-nhận tiêu-chuẩn xét-duyệt duy-nhất này của nhà-nước, v́ đối với giáo-hội, các tiêu-chuẩn tôn-giáo mới là quyết-định. Ai muốn theo học ngành chuyên-môn tại ngoại-quốc, phải qua một cuộc thẩm-vấn chi-li và khó-khăn của công-an. Họp hội-đồng giám-mục phải xin phép trước ở ban tôn-giáo trung-ương. Khi xin phép phải tŕnh chương-tŕnh nghị-sự và danh-sách tham-dự. Trước khi vào họp, hội-đồng phải lắng-nghe ông trưởng ban tôn-giáo phê-b́nh về sinh-hoạt của ḿnh và những yêu-cầu của nhà-nước đặt ra cho giáo-hội.

Công việc mục-vụ của giám-mục bị hạn-chế, v́ họ không được tự-do đi-lại. Muốn đi ban phép thêm-sức, chẳng hạn, nhất định không có phép chính quyền là không xong. Việc đi thăm giáo-đô mỗi năm năm cũng phải xin phép. Chuyện phong chức và bổ nhiệm giám-mục là cả một lịch-sử đau-buồn [32]. Một số giáo-phận miền Bắc từ bao nhiêu năm vẫn không có giám-mục. Mỗi tân giám-mục là kết-quả của những thương-thảo dài-lâu. Trong vụ-việc này nhà-nước dĩ nhiên không phản-đối hoàn-toàn quyền phong chức của Giáo-chủ, nhưng họ dành toàn quyền xét-duyệt và phủ-quyết. Cho tới nay, chính-phủ vẫn buộc tất cả các tài-liệu tôn-giáo đă được kiểm-nhận phải được đặt in trong một nhà in có giấy phép của chính-phủ. Sau những cuộc trao-đổi dai-dẳng và phải chấp-nhận nhiều hạn-chế các giám-mục đă được phép ra một bản-tin nội-bộ. Riêng tư-cách thành-viên chính-thức trong Hội-đồng Giám-mục Á châu (FABC), Hội-đồng Giám-mục Việt-nam đă nhiều lần gởi đơn xin phép nhà-nước, nhưng tới nay chính-quyền vẫn tránh-né trả lời.

 

 

Xung-khắc giữa chính-quyền cộng-sản và giáo-hội công-giáo

 

Các giám-mục đ̣i-hỏi tự-do hành đạo

Nhiều tổ-chức tôn-giáo trong nước chỉ-trích mạnh-mẽ Nghị-định 26 của nhà-nước. Hội-đồng giám-mục trong cuộc họp thường niên th áng 10 năm 1999 tại Nha-trang cũng nói lên âu-lo của giáo-hội công-giáo về tài-liệu đó [33]. Các giám-mục yêu-cầu nhà-nước sớm chấm-dứt việc kiểm-soát rộng-răi các tôn-giáo. Cụ-thể, các giám-mục nêu lên bốn điểm nhận-định:

1.      Nhiều thành-phần trong các tôn-giáo coi Nghị-định 26 không phải là mở ra, mà khép lại đối với tự-do tôn-giáo.

2.      Nhiều điểm không tạo thuận-lợi mà gây khó-khăn cho các hoạt-động tôn-giáo.

3.      Nghị-định 26 dựng lên những chướng-ngại không cần-thiết cản-ngăn việc đóng-góp của các tôn-giáo trong việc xây-dựng tổ-quốc.

4.      Nghị-định 26 cản-trở sáng-kiến cá-nhân. Nó củng-cố cơ-chế xin – cho, mở quyền kiểm-soát rộng-răi cho nhà-nước. Kiểm-soát này không những trên các buổi lễ hàng ngày và chủ-nhật, mà c̣n toả trùm lên cả mọi sinh-hoạt thường-ngày của giáo-xứ. Ranh-giới mập-mờ giữa sinh-hoạt "b́nh-thường" và "bất-thường" là cửa mở để các cơ-quan tôn-giáo nhà-nước can-thiệp vào chuyện giáo-hội.

 

Xung-khắc vụ "Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước"

Sau ngày thống-nhất năm 1976, chính-quyền cộng-sản cũng lập ở miền Nam một "Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước", đôi khi c̣n gọi là "Uỷ-ban Đoàn-kết người Việt-nam Công-giáo Yêu nước" để làm kẻ đối-thoại với ḿnh. Năm 1980, sau nhiều đắn-đo, tổng-giám-mục Sàig̣n lúc đó là Phao-lô Nguyễn Văn B́nh đă đồng ư cho lập một uỷ-ban liên-lạc để cùng với uỷ-ban đă có ở miền Bắc (1955) chuẩn-bị thành-lập Uỷ-ban Đoàn-kết Công-giáo Yêu nước (UBĐK). UBĐK được h́nh thành ngày  10.11.1983 theo sáng-kiến của đảng cộng-sản [34].  Dịp này, thủ-tướng Phạm Văn Đồng lúc đó đă giải-thích rơ, từ "yêu nước" ở Việt-nam có nghĩa là "yêu xă-hội chủ-nghĩa" và không yêu nước tất nhiên "không phải là một người việt-nam tốt hay một người công-giáo tốt". Những người tổ-chức đại-hội thành-lập luôn nhắc tới thư chung 1980 của hội-đồng giám-mục (kêu-gọi người công-giáo sẵn-sàng cộng-tác với mọi thành-phần yêu nước khác để xây-dựng đất-nước) làm hậu-thuẫn cho việc làm của họ. Họ muốn dùng chữ "yêu nước" trong thư để nói lên hàm-ư "yểm-trợ xă-hội chủ-nghĩa" của họ. Hầu hết các giám-mục chống lại tổ-chức này, dù không ai công-khai kết án việc tham-gia của một số linh-mục và giáo-dân, để tránh đụng-chạm với đảng. Trừ tổng-giám-mục Nguyễn Kim Điền ở Huế. Ngài đă treo chén linh-mục Vịnh thuộc giáo-phận v́ đă tham-dự đại-hội thành-lập. Trong một bức thư ngài cho rằng việc tham-gia uỷ-ban là đi ngược với đức tin công-giáo. Bức thư được phổ-biến rất nhanh trong nước. Đảng phản-ứng quyết-liệt, ra lệnh quản-thúc và thẩm-vấn để "cải-tạo" vị tổng-giám-mục trong 120 ngày dài. Biện-pháp đó đă ít hiệu-lực, v́ như đă viết trong thư, giám-mục Điền đă đúc-kết kinh-nghiệm ḿnh bằng một câu Thánh-kinh "phải vâng lời Chúa hơn vâng lời con người" (Cv. 4,19).

 

Khủng-hoảng vụ phong thánh

Giáo-hội việt-nam hănh-diện là một "giáo-hội tử-đạo". Trong 261 năm, nghĩa là từ 1625 đến 1886, đă có khoảng 130.000 nạn-nhân của những cuộc bách-đạo. Cuộc phong thánh cho 117 [35] vị trong số này ngày 19.06.1988 của giáo-chủ Gio-an Phao-lô II ở Rôma đă gặp chống-đối mạnh-mẽ từ đảng cộng-sản và nhà-nước việt-nam[36], v́ họ coi hành-động này là một thoá-mạ đối với những nhà cầm quyền trước đây. Trong một bản tuyên-bố chính-thức, chính-quyền cộng-sản cho hay dù không tán-đồng các chế-độ phong-kiến, nhưng họ coi việc bách-hại các thừa-sai ngoại-quốc và những người việt giúp họ là hành-vi đúng, hợp-lí và cần-thiết.  Đảng cộng-sản cho rằng trong số đàn ông đàn bà đáng nên thánh kia cũng có lẫn những kẻ tội-phạm, phản-bội tổ-quốc, đáng phải xử-tử, và rằng tôn-vinh những kẻ „tay-sai thực-dân“ đó quả là một sỉ-nhục đối với nhân-dân việt-nam. Nhà-nước không cho giám-mục nào tới Rôma dự lễ. Chính-quyền cộng-sản lo-sợ người việt nước ngoài sẽ lợi-dụng cuộc lễ để lên án họ.

 

Tranh-chấp về nhân-sự kế vị tổng giám-mục Phao-lô Nguyễn Văn B́nh

Sau khi tổng-giám-mục B́nh mất v́ bệnh ngày 01.07.1995, giữa chính-quyền việt-nam và Vatican đă xẩy ra một cuộc tranh-chấp dai-dẳng về vấn-đề bổ nhiệm người kế vị. 20 năm trước, ngay trước ngày thống-nhất, Vatican đă bổ nhiệm giám-mục Nha-trang là Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận làm „phó với quyền kế vị“ cho giáo-phận thủ-đô Sài-g̣n. Chính-quyền cộng-sản đă không chấp-nhận sự bổ nhiệm này, v́ cho rằng giám-mục Thuận là cháu của cựu tổng-thống Ngô Đ́nh Diệm và v́ thế là người không thích-hợp về mặt chính-trị. Giám-mục Thuận, lúc đó đang ở giáo-phận Nha-trang, bị quản-thúc, sau đó bị bắt và sau 13 năm tù, đă được thả với điều-kiện vào năm 1988 [37]. Năm 1993 giáo-chủ Gio-an Phao-lô II tạm-thời bổ giám-mục giáo-phận Phan-thiết Ni-ko-la Huỳnh Văn Nghi làm „ Giám-quản tông-toà“ cho tổng-giáo-phận  thành-phố Hồ Chí Minh. Nhà-nước cộng-sản lại phải-đối và ngăn-cản vị này vào nhận nhiệm-sở và thi-hành mục-vụ tại đây. Chính-quyền cộng-sản cho rằng việc bổ-nhiệm này có thể là cánh cửa mở để tổng-giám-mục Thuận có thể trở về lại. Tranh-chấp cuối cùng đă được giải-quyết vào năm 1998, khi đặc-sứ của Vatican là đức-ông Celestino Migliore đă tranh-thủ được sự đồng-ư của chính-quyền việt-nam để cho giám-mục phó giáo-phận Mỹ-tho là Gio-an Bao-ti-xi-ta Phạm Minh Mẫn về làm tổng-giám-mục thành-phố Hồ Chí Minh. Chính-quyền cũng đồng-ư để chính giám-mục Huỳnh Văn Nghi đại-diện Toà-thánh làm lễ chuyển giao sứ-vụ cho tân tổng-giám-mục, một sứ-vụ mà họ chưa bao giờ chịu công-nhận nơi giám-mục Nghi.

 

Ngăn-cản hành-hương Mẹ La-vang

Việc giáo-hội công-giáo tổ-chức hành-hương kỉ-niệm hai trăm năm đức Mẹ hiện ra tại La-vang, tỉnh Quảng-trị, tháng 9 năm 1999 cũng gặp trở-ngại [38]. Nhà-nước việt-nam đă không cho đặc-sứ của giáo-chủ là hồng-y thánh-bộ Hugo Sanchez, vào nước để dự lễ. Cuộc hành-hương v́ thế đă do hồng-y tổng-giáo-phận Hà-nội Phao-lô Giu-se Phạm Đ́nh Tụng chủ-sự. Chính-quyền hạn-định nghiêm-nhặt số người tham-dự. Họ nêu lên lí-do là không thể giữ an-ninh cho cả hàng trăm ngàn người về một lúc. Nhưng cuộc hành-hương với lượng người tụ-họp mà  đài phát-thanh Vatican cho hay „lớn nhất ở Việt-nam kể từ ngày thống-nhất 1976 đến nay“ đă diễn ra trong kỉ-luật, không xẩy-ra chuyện đáng tiếc lớn nào, khiến cơ-quan an-ninh và công-an chỉ tập-trung công-tác của họ vào việc quay phim người tham-dự mà thôi.

 

Chính-sách tôn-giáo giữa cấm-cản và kẽ hở

Trong cuộc họp hội-đồng giám-mục tại Hà-nội từ ngày 15 tới 22 tháng 9 năm 2001 giám-mục Nha-trang Phao-lô Nguyễn Văn Hoà được bầu làm chủ-tịch hội-đồng. Chính-quyền ban đầu từ-chối, nhưng cuối cùng ngày 14 tháng 11 đă chấp-nhận cuộc bầu. Đối lại, chính-quyền tới nay vẫn không chấp-nhận đề-nghị của Vatican đưa giám-mục Hoà về Hà-nội làm tổng-giám-mục thay-thế hồng-y Phạm Đ́nh Tụng. Tuy nhiên, giám-mục Hoà đă được phép Hà-nội sang tham-dự cuộc họp của Hội-đồng Giám-mục Phi-luật-tân vào tháng 7 năm 2002 tại Tagaytay. Chính-sách của nhà-nước quả bất-nhất, v́ cũng một nhân-vật đó, mà khi th́ tỏ ra tin-tưởng khi th́ không.

Nhân-danh chủ-tịch hội-đồng, giám-mục Phao-lô Nguyễn Văn Hoà, cuối tháng 12.2001 nhân một buổi thăm ra mắt thủ-tướng Phan Văn Khải, đă lợi-dụng cuộc gặp-gỡ để trao cho ông một số kiến-nghị của các giám-mục [39]. Giám-mục mở đầu rằng người công-giáo sẵn-sàng tham-gia vào việc xây-dựng đất-nước về mặt xă-hội và kinh-tế, đặc-biệt vào nỗ-lực xoá đói giảm nghèo. Rồi ngài trao cho thủ-tướng một danh-sách những nguyện-vọng mà các giám-mục đă gởi tới chính-quyền năm 1992 và 1997 mà cho tới nay vẫn chưa nhận được trả lời.

Trong số các