Nhận Định Pháp lệnh Tín
Ngưỡng, Tôn Giáo về Mặt Pháp Lư
LS Phạm Văn Phổ
Pháp
Lệnh về Tín Ngưỡng và Tôn Giáo được Uûy
Ban Thường Vụ của Quốc Hội CSVN ban hành vào
ngày 18 tháng 6, 2004, và sẽ có hiệu lực ngày 15 tháng 11,
2004. Pháp Lệnh này đă
tạo nên những phản ứng mạnh mẽ trong
cộng đồng Việt Nam hải ngoại mà ngay
cả dư luận trong nước cũng tỏ ra
bất măn.
Ở
đây, chúng tôi chỉ muốn phân tích Pháp Lệnh này về
khía cạnh pháp lư trên b́nh diện h́nh thức và nội dung
của nó.
I.
H̀NH THỨC
1. Trước hết
về danh từ Pháp Lệnh:
Theo Hiến Pháp 1992
của CSVN, cơ quan Lập Pháp là Quốc Hội có
nhiệm vụ làm luật và một đạo luật
cần phải được đem ra thảo luận và
biểu quyết với quá bán tổng số đại
biểu chấp thuận mới có hiệu lực. Tuy nhiên, cũng theo Hiến pháp
đó, Quốc Hội có thể ủy quyền cho Uûy Ban
Thường Vụ của Quốc Hội ban hành Pháp
Lệnh về những vấn đề Quốc Hội
giao phó. và dĩ nhiên, không cần mang ra thảo luận và
biểu quyết tại Quốc Hội.
Đây là một
định chế “độc đáo” của chế đô
CSVN v́ tại Hoa Kỳ hay tại các quốc gia dân chủ
khác, việc làm luật phải được bàn thảo
và biểu quyết công khai tại Quốc Hội, Uûy Ban
Thường Vụ thực ra chỉ có thẩm quyền
cứu xét các dự luật và đưa ra Quốc Hội
thảo luận, biểu quyết.
Theo Nghị Quyết
của Quốc Hội ngày 26 tháng 11, 2003, ấn định
“chuơng tŕnh xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004”,
ngoài các dự luật về tố tụng dân sự, phá
sản, thanh tra v.v, có các dự án pháp lệnh như: pháp lệnh
giống cây trồng, giống vật nuôi và pháp lệnh tôn
giáo, pháp lệnh thú y, pháp lệnh pḥng, chống nhiễmvi-rút gây hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải HIV/AIDS v.v. Quả thật
Pháp lệnh tôn giáo được liệt kê vào những
loại thứ yếu không hơn ǵ các quy chế dành cho cây
cỏ, thú vật!
Như vậy có thể
hiểu Pháp Lệnh như những quy định có tính
cách hành chánh hơn là quy chế pháp luật.
Mà thực thế, Pháp
Lệnh này được ban hành nhằm “thể chế
hóa chính sách, Nghị Quyết của Đảng và Nhà
Nước về vấn đề tôn giáo trong t́nh h́nh mới”
(trích bản tin của Đảng CSVN 7/10/2004)
được đưa ra trong kỳ đại hội
Đảng khóa IX theo đó Pháp Lệnh Tôn Giáo
được ban hành nhằm “chuẩn bị tiến
tới xây dựng Luật về tín nguỡng, tôn giáo
(hiện nay mới có Nghị định của chính
phủ.)
Sự thực, hiện
nay ngoài một số nghị định c̣n phải kể
tới Sắc Lệnh về Tôn Giáo do Chủ Tịch
Hồ Chí Minh ban hành 1955. Sắc lệnh, theo đúng nguyên tắc, vẫn
c̣n hiệu lực v́ chưa có một đạo luật
nào minh thị hủy bỏ.
2. Xét về mặt h́nh thức, Pháp Lệnh bao
gồm 6 chương và 41 điều khoản. Như
vậy, Pháp Lệnh đă rút bớt một chương v́
dự thảo lần thứ 19 đă có tất cả 7
chương và 44 điều.
7 chương đó
gồm:
1.
Chương I :
Những quy định chung
2.
Chương II: Hoạt động tín
ngưỡng của người có tín ngưỡng và
hoạt động tôn giáo của Tín đồ, nhà tu hành,
chức sắc
3.
Chương III: Tổ chức tôn giáo và
hoạt động tôn giáo
4.
Chương IV: Tài sản thuộc cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động xă
hội của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc
5.
Chương V: Quan hệ quốc tế
của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành,
chức sắc
6.
Chương VI: Điều khoản thi hành.
II. PHÂN TÍCH
VỀ NỘI DUNG PHÁP LỆNH
A.
Nhận xét tổng quát:
Pháp
Lệnh mới này, nh́n chung, có những đặc
điểm sau:
1.
Thể hiện rơ rệt quy chế “XIN CHO”:
Mặc dầu Pháp Lệnh công nhận người
dân có quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo, nhưng
quyền tự do có một hạn chế: XIN PHÉP; nói khác
đi, được tự do nhưng phải có phép: từ viêc thờ tự, sinh
hoạt, công tác xă hội, xây cất nơi thờ tự,
tuyển bổ tu sinh, thuyên chuyển tu sĩ, ấn hành
sách báo, v.v. Nhỏ th́ phải có phép hoặc đăng kư
ở địa phương như cấp xă, cấp
huyện; việc lớn phải xin phảp ở cấp
tỉnh hoặc trung ương (chúng tôi sẽ phân tích chi
tiết trong phần sau.)
2.
Cách hành văn rất mơ hồ, không rơ
nghĩa và tùy thuộc người áp dụng. Thí dụ những từ như
“xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
môi trường ”, “tác động xấu đến
đoàn kết nhân dân, đến truyền thống văn
hóa tốt đẹp dân tộc,” v.v. v́ bất cứ
tổ chức nào không được ḷng nhà nước
cũng có thể gán vào những “tội danh” đó.
3.
Khắt khe hơn cả Sắc Lệnh Tôn
Giáo 1955 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh ban hành. Thí dụ: sắc lệnh 1955 cho
phép các tôn giáo được phép mở trường tư
trong khi Pháp lệnh này lại không cho phép mặc dầu
khuyến khích tôn giáo tham gia vào các hoạt động
văn hóa, xă hội; sắc lệnh 1955 quy định
việc liên hệ với Vatican là việc nội bộ
của Công giáo. nhưng pháp lệnh mới này quy
định quan hệ
quốc tế phải có sự chấp thuận của
cơ quan quản lư nhà nước.
B. PHÂN TÍCH CÁC
ĐIỀU KHOẢN
1.
Chương I :
Những quy định chung:
- Điều 1 nhắc lại nguyên tắc nhà
nước bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của
công dân
- Riêng điều 2 ấn định: “Chức
sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo
dục cho tín đồ ḷng yêu nước, thực hiện
quyền, nghĩa vụ công dân và ư thức chấp hành pháp
luật.” Trong thực tế, khi áp dụng điều khoản
này có nghĩa là phải tuyên truyền cho chủ nghĩa
cộng sản cũng như bảo vệ chế
độ và nhà nước cộng sản hơn là yêu
nước theo ư nghĩa chân chính của nó.
- Điều 3 khi định
nghĩa danh từ tổ chức tôn giáo, pháp lệnh
quy định: “Tổ
chức tôn giáo là tập hợp những người cùng
tin theo một hệ thống giáo lư, giáo luật, lễ nghi
và tổ chức theo một cơ cấu nhất
định được Nhà nước công nhận.” Ở đây danh từ tổ chức tôn giáo đă
được dùng thay cho từ Giáo Hội. Như vậy, những tổ
chức khác như xứ đạo, hội đoàn có
phải là tổ chức tôn giáo không?
- Điều 7 giao cho tổ
chức Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, một
tổ chức trá h́nh của chính quyền, vai tṛ tập
hợp, vận động, môi giới giữa đồng
bào có tín ngưỡng và chính quyền cũng như giám sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín
ngưỡng tôn giáo.
-
Điều 8 là một điều khoản kỳ
lạ nhất khi cấm tôn giáo “khơng được lợi dụng quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà
b́nh, độc lập, thống nhất đất
nước; kích động bạo lực hoặc tuyên
truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp
luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân,
chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối
trật tự công cộng, xâm hại đến tính
mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản
của người khác, cản trở việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt
động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi
vi phạm pháp luật khác.”
Điều khoản này khi mang ra áp dụng chắc
chắn sẽ có sự lạm dụng và sẽ
được dùng như một vũ khí luật pháp
hữu hiệu nhất trong việc đàn áp tôn giáo, v́
những tội danh như phá hoại ḥa b́nh, độc
lập, thống nhất đất nước hay chia
rẽ, gây rối trật tự công cộng, mê tín dị
đoan v.v. là những “tội danh” thường
được cộng sản gán ép cho những
người đối lập hay những người
tranh đấu cho tự do, dân chủ hiện nay ở
trong nước.
2.
Chương II: Hoạt động tín
ngưỡng của người có tín ngưỡng và
hoạt động tôn giáo của Tín đồ, nhà tu hành,
chức sắc
Đây
là một chương khá trọng yếu v́ nhằm vào
việc hạn chế, kiểm soát các sinh hoạt tôn giáo.
- Điều 11 quy định:
1. Chức sắc, nhà tu hành
được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong
phạm vi phụ trách, được giảng đạo,
truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo.
2.
Trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo,
giảng đạo, truyền đạo ngoài quy
định tại khoản 1 Điều này phải có
sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh … nơi
thực hiện.
Như vậy việc thi hành các nghi
lễ tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo đều phải có
phép trước; thí dụ việc các linh mục đi
xức dầu cho các người đau yếu, việc các
tu sĩ đi làm các nghi lễ an táng v.v. đều phải
có phép trước.
Giải thích
điều khoản này khi công bố sắc lệnh, Nguyễn Văn An, Chủ
Tịch Quốc Hội tuyên bố : việc
giảng đạo trên radio hoặc trên internet cũng đều bị cấm đoán nếu
chưa có phép của nhà nước.
- Điều 12 lại c̣n khắt khe hơn khi quy
định:
1. Người phụ trách tổ
chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng kư
chương tŕnh hoạt động tôn giáo hàng năm
diễn ra tại cơ sở đó với Uỷ ban nhân
dân xă, phường, thị trấn (sau đây gọi chung
là Uỷ ban nhân dân cấp xă); trường hợp tổ
chức hoạt động tôn giáo ngoài chương tŕnh
đă đăng kư th́ phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chấp thuận.
2.
Thẩm quyền chấp thuận việc tổ chức
lễ hội tín ngưỡng do Chính phủ quy
định.
Như
vậy, nhất cử nhất động của các tôn
giáo đều phải được sự duyệt xét và
chấp thuận trước.
-
Điều 13 cũng
rất đặc biệt khi quy định:
1.
Người đang chấp hành án phạt tù hoặc
đang bị quản chế theo quy định của pháp
luật th́ không được chủ tŕ lễ nghi tôn giáo,
truyền đạo, giảng đạo, quản lư tổ
chức của tôn giáo và chủ tŕ lễ hội tín
ngưỡng.
Đây
là trường hợp của các tu sĩ đang bị giam
giữ như trường
hợp các LM Nguyễn Văn Lư, Đại lăo Ḥa
Thượng Thích Huyền Quang,
Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, chẳng
hạn. Các vị này bị
tước bỏ tất cả quyền được
cử hành thánh lễ hoặc các nghi lễ tôn giáo. Thực tế, việc này đă
và đang áp dụng cho các tu sĩ bị giam giữ
hoặc “cải tạo”.
- Điều 14 c̣n kỳ quặc hơn nữa khi quy
định: “Hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo phải bảo đảm an toàn, tiết kiệm, phù
hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa
dân tộc, giữ ǵn, bảo vệ môi trường.”
Thế
nào là “tiết kiệm, an toàn, phù hợp với truyền
thống bản sắc dân tộc, bảo vệ môi
trường”, toàn những danh từ rất mông lung,
giải thích sao cũng được. Hậu quả, những vụ thắp
hương, đốt nến v.v có khi cũng sẽ
bị cấm đoán.
- Điều 15 c̣n khắt khe và mông lung hơn nữa khi quy
định:
“Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị
đ́nh chỉ nếu thuộc một trong các trường
hợp sau:
1. Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến trật tự công
cộng hoặc môi trường;
2. Tác
động xấu đến đoàn kết nhân dân,
đến truyền thống văn hóa tốt đẹp
của dân tộc;
3. Xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của
người khác;
4. Có hành
vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.”
Như
đă tŕnh bầy ở trên, những danh từ mơ
hồ và tổng quát như “bảo đảm an toàn,
tiết kiệm, xâm phạm an ninh quốc gia, trật
tự công cộng, đoàn kết nhân dân” có thể
được dùng như một vũ khí luật pháp
hữu hiệu để hạn chế, ngăn cấm các
sinh hoạt tôn giáo và đàn áp tôn giáo.
3.
Chương
III: Tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo
Trong chương này,
pháp lệnh đă đặt ra các điều kiện nghiệt ngă hơn nhằm
hạn chế tôn giáo, nhất là trong việc “hợp thức
hóa” các tôn giáo.
Chẳng
hạn, điều 16 đặt ra nhiều
điều kiện để được công nhận
là một tổ chức tôn giáo trong đó có điều
khoản “ có đăng kư hoạt động tôn giáo và
hoạt động tôn giáo ổn định, có tên gọi không trùng với tên
gọi của tôn giáo đă được nhà nước
công nhận. Như
vậy, Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, Phật
Giáo Ḥa Hảo, Cao Đài, chẳng hạn, chắc chắn
sẽ khó mà được hợp thức hóa, v́ làm sao có
được sinh hoạt “ổn định” và làm sao
tránh khỏi việc trùng tên một khi đă có những giáo
hội quốc doanh được nhà nước “hợp
thức hóa” rồi.
4.
Chương III: Tổ chức tôn giáo và
hoạt động tôn giáo.
Trong chương này, pháp lệnh quy
định hết sức chặt chẽ về việc
tổ chức và các hoạt động tôn giáo.
Trước hết,
điều 17quy định:
Việc thành lập,
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo
cơ sở phải được sự chấp
thuận của chính quyền địa phương.
Cũng thế,
điều 18 ấn định: Việc tổ chức hội nghị, đại
hội của tổ chức tôn giáo cơ sở
được tiến hành sau khi có sự chấp thuận
của chính quyền địa phương hoặc trung
ương.
Các hội đoàn hay ḍng tu , muốn hoạt
động, các cơ sở tôn giáo có người đi tu
phải đăng kư với chính quyền (các điều
19 và 20 và 21).
Riêng về vấn đề phong
chức, phong phẩm, bổ nhiệm bầu cử, suy
cử trong tôn giáo phải hội đủ một
số điều kiện như sau mới được
nhà nước chấp thuận:
a) Là công dân Việt Nam, có tư cách đạo
đức tốt;
b) Có tinh thần đoàn kết, hoà hợp dân tộc;
c) Nghiêm
chỉnh chấp hành pháp luật.
Đối
với các việc phong chức có liên hệ đến
nước ngoài (như trường hợp của Công
Giáo, Tin Lành hoặc Phật Giáo) phải có sự chấp
thuận của chinh quyền trung ương. Điều này rơ ràng c̣n khắt
khe hơn Sắc Lệnh 1955 nữa.
Khi
đưa ra những điều kiện khó khăn như
thế, nhà nước đă can thiệp trắng trợn
vào tổ chức và nội bộ các tôn giáo. Những tiêu chuẩn như
đạo đức, có tinh thần đoàn kết, ḥa
hợp dân tộc v.v. là những tiêu chuẩn rất mung
lung mà nhà cầm quyền có thể dựa vào đó
để bác bỏ việc phong chức bất cứ tu
sĩ nào họ không thích hoặc không muốn.
Ngoài
ra, các tôn giáo cũng c̣n phải đăng kư những tu
sĩ này. Khi thuyên chuyển
các tu sĩ tới một địa phương khác không
những phải thông báo với chính quyền địa
phương nơi đi mà c̣n phải đăng kư với
nhà chức trách địa phương nơi tới.
(điều 23).
Như vậy, nhất
cử nhất động của các tu sĩ đều
được nhà cầm quyền theo dơi sát nút.
Việc
thành lập các trường đào tạo những
người chuyên hoạt động tôn giáo (không phân
biệt giáo sĩ hay tín đồ) phải được
sự chấp thuận của Thủ Tướng và tŕnh
tự, thủ tục thành lập, giải thể
trường đào tạo, mở lớp bồi
dưỡng tôn giáo cũng phải
do Chính phủ quy định.
Các
mơn học gồm lịch sử Việt Nam, pháp
luật Việt Nam là các mơn học chính khố trong
chương tŕnh đào tạo tại trường đào
tạo những người chuyên hoạt động tôn
giáo. (điều 24)
Cuối
cùng, các buổi lễ diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo
phải được sự chấp thuận của chính
quyền địa phương chấp thuận
(điều 25).
5.
Chương IV: Tài sản thuộc
cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động
xă hội của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc
Về đất đai
của các tôn giáo, điều 27 quy định những tài
sản này chỉ được sử dụng ổn
định lâu dài nếu những tôn giáo đó
được nhà nước cho phép hoạt động.
Đối
với vấn đề sách báo tôn giáo, điều 32 qhi
định : Việc
xuất bản, in, phát hành các loại kinh, sách, báo, tạp
chí và các xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng,
tôn giáo; kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu văn
hố phẩm về tín ngưỡng, tôn giáo; sản
xuất đồ dùng phục vụ hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
Trong thực tế,
việc xuất bản in ấn các tác phẩm tôn giáo
đều bị hạn chế hết sức chặt
chẽ. Chẳng hạn Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam muốn xuất bản
một tờ thông tin mục vụ cho tới nay vẫn
chưa được phép của nhà nước.
Về vấn
đề giáo dục, văn hóa, xă hội, y tế v.v.
điều 33 quy định:
1. Nhà
nước khuyến khích và tạo điều kiện
để tổ chức tôn giáo tham gia nuơi dạy
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ
cơ sở chăm sóc sức khoẻ người nghèo,
người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS,
bệnh nhân phong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các
cơ sở giáo dục mầm non và tham gia các hoạt
động khác v́ mục đích từ thiện nhân
đạo phù hợp với hiến chương, điều
lệ của tổ chức tôn giáo và quy định
của pháp luật.
2. Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân
được Nhà nước khuyến khích tổ chức
hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện
nhân đạo theo quy định của pháp luật.
Ở
đây, cần nhấn mạnh: mặc dầu pháp lệnh
viết nhà nước “khuyến khích” các tôn giáo trong các
hoạt động này nhưng trên thực tế hầu
như những hoạt động này cũng bị
hạn chế. Cũng
thế, theo pháp lệnh, nhà nước chỉ muốn
“khuyến khích” tôn giáo “tham gia và hỗ trợ” tham gia
hoạt động trong các cơ sở đặc biệt
mà nhà nước cảm thấy không đủ khả
năng thực hiện như nuôi dậy các trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, lớp mẫu giáo,
người tàn tật, người bị bệnh tâm
thần, HIV/AIDS, phong cùi, vv. C̣n những trường
tiểu học, trung học, đại học tư thục hay những cơ sơ y
tế như nhà thương vv. vẫn do nhà nước
chiếm độc quyền chứ không cho phép tôn giáo
mở, v́ sợ các tôn giáo có ảnh hưỡng nơi dân
chúng.
6.
Chương V: Quan hệ quốc tế
của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành,
chức sắc
Điều
35 quy định các hoạt động quan hệ quốc
tế sau đây phải có sự chấp thuận của
cơ quan quản lư nhà nước về tôn giáo ở trung
ương:
1.
Mời tổ chức, người nước ngoài vào
Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của
tổ chức tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam;
2. Tham gia hoạt động tôn giáo, cử
người tham gia khóa đào tạo về tôn giáo ở
nước ngoài.
Cũng thế điều 36 ấn định:
Chức sắc, nhà tu hành là người nước
ngoài được giảng đạo tại cơ
sở tôn giáo của Việt Nam sau khi được cơ
quan quản lư nhà nước về tôn giáo ở trung
ương chấp thuận, phải tôn trọng quy
định của tổ chức tôn giáo của Việt Nam
và tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam.
7. Chương
VI: Điều khoản thi hành.
Điều 38 quy định: “Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa
Việt Nam kư kết hoặc gia nhập có quy định
khác với quy định của Pháp lệnh này th́ thực
hiện theo quy định của điều ước
quốc tế đó.”
Như đă phân tích ở trên, các
điều khoản trong pháp lệnh mới này của
Cộng Sản Việt Nam đă đặt ra những
hạn chế hết sức khó khăn đối với
các tôn giáo, từ việc công nhận tính cách pháp nhân cho tới
việc hành đạo, tổ chức, tuyển bổ, sinh
hoạt v.v. Những hạn chế này rơ ràng đi
ngược lại với Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trong đó Cộng
Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đă long trọng
kư kết.
Thục vậy,
điều 18 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền ghi rơ: “Ai cũng có quyền
tự do tư tưởng, tự do lương tâm và
tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền
tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và
quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng
qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng
và nghi lễ, hoặc riêng ḿnh hoặc với người
khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.”
Do đó, liệu khi
thi hành, nhà cầm quyền CSVN có dám thi hành điều
khoản này không? Câu trả
lời chắc chắn là không.
Điều 39 cũng qui định những tổ chức tôn giáo đă được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền công nhận trước ngày
Pháp lệnh này có hiệu lực th́ khơng phải làm
thủ tục công nhận lại.
Ngoài ra những hội đồn tôn giáo, dịng tu,
tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác
của tôn giáo đă đăng kư và được phép
hoạt động trước ngày Pháp lệnh này có
hiệu lực th́ khơng phải làm thủ tục
đăng kư lại.
Như
vậy, những tổ chức tôn giáo như Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Ḥa
Hảo, Cao Đài hoặc các tổ chức trong Giáo Hội
Tin Lành hay Công Giáo chưa được công nhận
chắc chắn sẽ không thể hoặc khó có thể
được “hợp thức hóa.” Đây chính là một h́nh thức “cấm
đạo” thâm độc nhất dành cho các tôn giáo.
Theo
điều 41, Chính Phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh này. Thực tế . song song với
Pháp Lệnh, một bản thảo Nghị Định
cũng đă được soạn thảo và kèm với
Pháp Lệnh trong tài liệu gửi tới các tôn giáo gọi
là để “tham khảo” trong đó chi tiết về thể
thức đăng kư, xin phép v.v. đă được
ấn định kỹ càng.
KẾT
LUẬN
Qua
sự phân tích nói trên, chúng ta có thể tóm kết về Pháp
Lệnh mới này thực ra chỉ là một h́nh thức
đàn áp tôn giáo bằng pháp luật. Pháp lệnh được đưa ra vội
vă và đi ngược lại tất cả những
nguyện vọng qua các lời góp ư của các tôn giáo, chứng tỏ Cộng Sản
Việt Nam muốn “thống nhất” một chính sách
đàn áp tôn giáo chung trên toàn quốc và đồng thời
ngăn chặn những biến động có chiều
hướng gia tăng và bộc phát đặc biệt
tại cao nguyên và vùng đồng bằng Cửu Long nơi
đồng bào sắc tộc và các tín đồ các tôn giáo
như Phật Giáo Ḥa Hảo, Cao Đài và các tôn giáo khác
bắt đầu chống đối công khai về chính
sách đàn áp tôn giáo của cộng sản .
Trước
biến cố này, cộng đồng người Việt
ở hải ngoại, đặc biệt các tổ chúc tôn
giáo, cần có những hành động và biện pháp tích cực
để đ̣i hỏi nhà cầm quyền CSVN phải
hủy bỏ ngay pháp lệnh mới nà, đồng
thời cũng cần vận động tích cực Liên
Hiệp Quốc và các cơ quan nhân quyền và các chính
phủ, Quốc Hội của các quốc gia Dân Chủ trên
thế giới có những biện pháp cụ thể và
hữu hiệu để việc đàn áp tôn giáo bằng
“pháp luật”ø trên thực tế phải được
chấm dứt ngay tức thời, đề nhân dân
Việt Nam sớm được hưởng những
quyền tối thiểu của con người trong đó
có quyền tự do tôn giáo.
LS
PHẠM VĂN PHỔ