BĂI
BỎ PHÁP LỆNH TÔN GIÁO
ỦY BAN LUẬT GIA
BẢO VỆ DÂN QUYỀN
Ngày
18 tháng 6 vừa qua, căn cứ vào Nghị Quyết
ngày 26-11-2003 của Quốc Hội. Ủy Ban Thường
Vụ Quốc Hội đă ban hành pháp lệnh về tín
ngưỡng, tôn giáo gọi tắt là Pháp Lệnh Tôn Giáo.
Đây là một hành vi lạm quyền, vi phạm hiến
pháp quốc gia và công ước quốc tế.
Chiếu
các Điều 83 và 84 Hiến Pháp, Quốc Hội là cơ
quan duy nhất
có
quyền lập hiến và lập pháp, như san định
hiến pháp, biểu quyết và ban hành các đạo
luật, nghị quyết và pháp lệnh. Điều 91
Hiến Pháp dành cho Ủy Ban Thường Vụ Quốc
Hội quyền ra pháp lệnh về những vấn đề
được quốc hội giao phó. Tuy nhiên Nghị
Quyết ngày 26-11-2003 của Quốc Hội không ủy
quyền cho Ủy Ban Thường Vụ được
biểu quyết và ban hành pháp lệnh tôn giáo.
Nghị
Quyết này chỉ ấn định “chương tŕnh xây
dựng luật và pháp lệnh năm 2004”, như soạn
thảo các dự án luật về phá sản, dân sự
tố tụng, và một số dự án pháp lệnh
về giống cây trồng, giống vật nuôi, thú y,
chống nhiễm trùng bệnh AIDS, đặc biệt là
dự án pháp lệnh tôn giáo. V́ là những dự án,
Ủy Ban Thường Vụ phải phúc tŕnh trước
Quốc Hội để được Quốc Hội
biểu quyết thông qua, chứ không thể tự
quyền ban hành. Trên nguyên tắc những vấn
đề ghi trong pháp lệnh thường có tính lập
quy (về hành chánh) hơn là lập pháp.
Hơn nữa theo bản tin ngày 10-7-2004 của Đảng
CS, pháp lệnh tôn giáo được ban hành nhằm
“chuẩn bị tiến tới xây dựng Luật về
Tín Ngưỡng, Tôn Giáo”. Do đó nó chưa phải
là Luật về Tôn Giáo.
Theo danh xưng, Ủy Ban Thường Vụ chỉ là
một cơ quan để xử lư những sự vụ
thông thường hay những công tác thường nhật
của quốc hội (expédier les affaires courantes) .
Với một thành phần hạn hẹp gồm có
chủ tịch, các phó chủ tịch và một số
ủy viên, Ủy Ban Thường Vu,ï hay Ban Chấp Hành
của Quốc Hội, chỉ là một cơ quan chấp
hành những nghị quyết của Quốc Hội.
Ủy Ban không có quyền lập hiến và lập pháp v́
dây là đặc quyền của Quốc Hội đại
diện quốc dân. Ủy Ban chỉ có quyền
giải thích hiến pháp, luật pháp và pháp lệnh
của Quốc Hội, hay phụ giúp Quốc Hội
duyệt xét các dự án luật, dự án pháp lệnh
để phúc tŕnh trong các phiên họp Quốc Hội.
Ủy Ban không có quyền làm luật, trong khi đó Pháp
Lệnh Tôn Giáo lại là một đạo luật cơ
sở.
Về những đạo luật cơ sở xây dựng
chế độ dân chủ như luật về tự do
tôn giáo, tự do báo chí (quy chế báo chí), tự do
lập hội và lập đảng (quy chế chính đảng),
tự do tuyển cử v...v..., chỉ có Quốc Hội
mới có thẩm quyền thảo luận, biểu
quyết và ban hành. Ủy Ban Thường Vụ không có
quyền này.
Lấy một thí dụ dễ hiểu: Quy chế
đầu tư thường chỉ liên hệ đến
một thiểu số tư bản thường là
ngoại quốc. Vậy mà Quốc Hội đă
phải ban hành Luật Đầu Tư. Huống chi
về những vấn đề liên quan đến hàng
chục triệu người Việt, cần có các đạo
luật về tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do
lập hội và lập đảng, và tự do tuyển
cử. Đây là 4 đạo luật cơ sở
về các quyền tự do tinh thần và tự do chính
trị mệnh danh là quyền tự do dân chủ.
NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LƯ.
Những nhân quyền và những quyền tự do căn
bản này đă được thừa nhận bởi
Hiến Pháp quốc gia và Luật Quốc Tế Nhân
Quyền gồm những điều khoản nhân quyền
trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ), các Công Ước
về những Quyền Dân Sự Chính Trị (CUDSCT), và
về những quyền Kinh Tế, Xă Hội Văn Hóa,
cùng các công ước bổ túc và khai triển.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm TNQTNQ, ngày 9-12-1998 LHQ
đă ban hành Phụ Đính TNQTNQ, mệnh danh là “Tuyên Ngôn
về Quyền và Trách Nhiệm của các cá nhân, hội
đoàn, và các cơ quan chính quyền trong việc đề
xướng bảo vệ và tôn trọng những quyền
tự do căn bản”. Theo Tuyên Ngôn Phụ Đính,
quốc gia phải có trách nhiệm tiên khởi và phải
tạo những bảo đảm pháp lư để
người dân được thực sự hưởng
dụng những quyền tự do này với tư cách cá
nhân hay hội đoàn. Những bảo đảm pháp
lư này phải được thể chế hóa trong các văn
kiện lập hiến, lập pháp và lập quy.
Mặt khác các cá nhân và hội đoàn cũng có nghĩa
vụ đề xướng những quyền tự do căn
bản, bảo vệ dân chủ, phát huy các xă hội dân
chủ, các định chế dân chủ và các thủ
tục sinh họat dân chủ. V́ những quyền
tự do căn bản có tính toàn cầu, bất khả phân,
liên lập và liên quan với nhau nên nhà nước
phải ban hành đồng thời những đạo
luật về tự do tôn giáo, tự do ngôn luận,
tự do hội họp, tự do lập hội và lập
đảng v...v...
TNQTNQ ghi lại 4 quyền tự do căn bản do Tổng
Thống Franklin Roosevelt đề xướng, là tự do
ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền
được giải thoát khỏi sự túng thiếu và
sự sợ hải (the four freedoms: freedom of speech, freedom
of belief, freedom from want, and freedom from fear).
Theo Tuyên Ngôn Phụ Đính các cá nhân và hội đoàn có
nghĩa vụ nghiên cứu và tŕnh bày quan điểm
về việc thực thi những quyền tự do căn
bản về pháp lư cũng như trên thực tế,
kể cả quyền đạo đạt đến chính
quyền những phê b́nh chỉ trích và đề nghị
cải thiện chính sách quốc gia, đồng thời lưu
ư chính quyền về những đường lối hay các
văn kiện lập pháp gây trở ngại cho việc
thực thi những quyền tự do căn bản.
QUYỀN
TỰ DO TÔN GIÁO.
Muốn truyền giáo và hành đạo, ngoài quyền
tự do tôn giáo, các cá nhân và giáo hội c̣n phải
được hưởng quyền tự do phát biểu,
tự do hội họp tự do lập hội, thành
lập giáo hội để biểu thị tôn giáo và
truyền đạt giáo lư. Nguyên tắc phổ
biến là các giáo hội phải được sinh
hoạt tự trị, không chịu sự can thiệp
và giám sát của nhà nước.
Trong các quốc gia dân chủ văn minh, tự do tôn giáo
gồm có hai quyền: Quyền Thành Lập Tôn Giáo và
Giáo Hội dành riêng cho các công dân. Quyền này ngăn
cấm nhà nước không được can thiệp vào
việc thành lập hay yểm trợ các tôn giáo và giáo
hội (Establishment Clause). Thomas Jefferson, tác giả
bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Ky,ø chủ trương
thiết lập một bức tường ngăn cách
giữa giáo hội và nhà nước (Separation of church
and state). Đó là nguyên tắc biệt lập giữa
tôn giáo và nhà nước. Do đó nhà cầm
quyền không được thành lập những giáo
hội quốc doanh để phủ nhận tư cách pháp
nhân của các giáo hội dân lập đă hoạt động
từ trước, như Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất và các Giáo Hội Cao Đài, Ḥa
Hảo và các Hội Thánh Tin Lành ở Việt Nam.
Ngoài ra chính quyền phải hết sức tránh không can
thiệp, giám sát và gây rắc rối với các giáo
hội về những hoạt động tôn giáo.
Đó là Quyền Tự Do Truyền Giáo và Hành Đạo
(Free Exercise Clause). Quyền này cho phép các giáo hội toàn
quyền tự trị trong việc thành lập , phát
triển và điều hành các hoạt động tôn giáo
của các tổ chức thuộc giáo hội.
Chiếu nguyên tắc “điều ǵ không cấm là cho phép”,
về quyền tự do báo chí, nhà nước không
bắt các báo chí phải bị kiểm duyệt trước
khi phát hành (prior censorship), mà theo chính sách trách nhiệm
hậu kiểm (subsequent liability). Như vậy các báo
chí có quyền tự do phát hành và chỉ có thể
bị tịch thâu hay truy tố khi xâm phạm an ninh
quốc gia, trật tự công cộng, đạo lư
(thuần phong mỹ tục) hay xâm phạm quyền lợi
và danh dự của người khác. Cũng trong tinh
thần đó, đạo luật tự do tôn giáo
phải dành quyền sinh hoạt tự trị cho các
giáo hội, các giáo sĩ và các tín đồ trong các
hoạt động tôn giáo như hành lễ, truyền giáo
và hành đạo. Do đó chế độ đăng
kư, chấp thuận hay xin cho phải bị hủy bỏ.
Chỉ khi nào có sự vi phạm luật pháp, hiến chương,
điều lệ hay nội quy, lúc đó nhà cầm
quyền mới can thiệp.
NHỮNG
ĐIỀU SAI TRÁI.
Pháp Lệnh Tôn Giáo vi phạm quyền tự do tôn giáo
về 4 phương diện như:
a)
Thiết lập các cơ quan giám sát;
b)
Chế tài về h́nh sự và hành chánh;
c)
Ngăn cản việc thành lập các tổ chức và
hội đoàn tôn giáo và;
d)
Ngăn cản các hoạt động tôn giáo.
1) Trong chiều hướng đó, Đảng Cộng
Sản không có quyền dùng những cơ quan chính
quyền hay các tổ chức ngoại vi để can
thiệp và giám sát những hoạt động tôn giáo.
Do đó Đ́ều 7 Pháp Lệnh đă hiển nhiên vi
phạm quyền tự do tôn giáo khi dành cho Thủ Tướng
Chính Phủ, Mặt Trận Tổ Quốc, các cơ quan
quản lư nhà nước về tôn giáo và các ủy ban nhân
dân, quyền giám sát các hoạt động tôn giáo.
Mặt Trận Tổ Quốc không được quyền
can thiệp bằng cách nêu lên những ư kiến,
nguyện vọng, kiến nghị về những vấn
đề tôn giáo. Những vấn đề này
thuộc quyền giải quyết của các giáo dân và
giáo hội. Nhà nước không nên và không có
quyền can thiệp vào những nhu cầu tâm linh của các
giáo dân, hay vào việc tổ chức và điều hành
nội bộ của các giáo hội.
2) Để đàn áp các nhà lănh đạo tôn giáo,
Điều 8 Pháp Lệnh quy định những tội
giả tạo như lợi dụng quyền tự do tôn
giáo, tuyên truyền chống nhà nước, hay phá
hoại chính sách đoàn kết tôn giáo. Năm 1995 Ḥa
Thượng Thích Quảng Độ bị kết án 5 năm
tù về tội phá hoại chính sách đoàn kết tôn giáo
chiếu Điều 87 Bộ Luật H́nh Sự,
chỉ v́ ngài đă tổ chức cứu trợ các
nạn nhân lũ lụt tại dồng bằng sông
Cửu Long mà không có giấy phép của nhà cầm
quyền. Năm 2001 Linh Mục Nguyễn Văn Lư
bị kết án 13 năm tù cũng về tội này
(cộng thêm 2 năm về tội vi phạm quyết định
quản chế hành chánh cấm ngài không được
thực hiện lễ nghi tôn giáo), chỉ v́ ngài đă lên
tiếng tố cáo Đảng Cộng Sản đàn áp tôn
giáo trước các chính phủ và quốc hội các
quốc gia dân chủ văn minh.
Ngoài quyền thành lập các tổ chức tôn giáo,
tự do tôn giáo c̣n có
nghĩa là quyền được tự do truyền giáo và
hành đạo. Quyền này đă được
thừa nhận trong Hiến Pháp Việt Nam ( Điều
70) cũng như trong các Điều 18 TNQTNQ và CUDSCT. “Ai cũng
có quyền tự do tư tưởng, tự do lương
tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm
quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng, và
quyền tự do hành đạo, biểu thị tôn giáo
hay tín ngưỡng bằng thờ phụng, lễ nghi hay
giảng dạy hoặc riêng tư hoặc với người
khác tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.”
Điều
38 Pháp Lệnh cũng cam kết tôn trọng các công ước
quốc tế như Công Ước Dân Sự Chính Trị
mà Việt Nam đă gia nhập năm 1982.
3) Các Điều 11 và 25 Pháp Lệnh đă vi
phạm TNQTNQ và CUDSCT khi buộc các chức sắc và các
nhà tu hành phải thực hiện lễ nghi tôn giáo,
truyền giáo và hành đạo tại các cơ
sở tôn giáo như thánh đường, thánh thất, nhà
thờ, chùa v...v... Nếu việc thực hiên lễ
nghi tôn giáo được tổ chức ngoài các cơ
sở tôn giáo nói trên th́ phải xin phép trước và
được sự chấp thuận của các cơ quan
hành chánh địa phương. Các điều
kiện này đă hạn chế vô lư và quá đáng
quyền tự do truyền giáo và hành đạo và
thực hiện lễ nghi tôn giáo, trái với Điều
18 TNQTNQ và CUDSCT theo đó, sự biểu thị tôn giáo
bằng thờ phụng, lễ nghi hay giảng đạo có
thể được tổ chức tại nhà riêng hay
tại nơi công cộng, ngoài cơ sở tôn giáo.
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đă tuyên bố vi
hiến một đạo luật của tiểu bang
Maryland, v́ đă buộc các giáo sĩ và giáo dân
phải xin phép và được sự chấp thuận
của nhà cầm quyền trước khi thực hiện
lễ nghi tôn giáo, truyền giáo và hành đạo tại
một công viên thành phố (vụ án Niemotko năm 1951).
Hậu quả vô nhân đạo của Điều 11 là
lễ cầu siêu sẽ không được thực
hiện tại nhà riêng người quá cố cũng như
tại nghĩa trang hay ngoài mặt trận cho các anh hùng
liệt sĩ hy sinh v́ Tổ Quốc. Trong khi đó
Điều 5 Pháp Lệnh lại đề cao truyền
thống tôn vinh những người có công với đất
nước.
4) Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đă hủy băi một
đạo luật của tiểu bang Connecticut v́ buộc các
giáo dân và giáo hội phải xin giấy phép trươc
khi tổ chức những vụ lạc quyên gây quỹ cho
nhà thờ (vụ án Cantwell năm 1940). Trong khi đó
Điều 28 lại dành cho chính phủ quyền kiểm
soát những vụ quyên góp của các tổ chức tôn
giáo.
5) Điều 12 Pháp Lệnh buộc các giáo hội
phải đăng kư chương tŕnh họat động
hàng năm, những hoạt động không dự
liệu trong chương tŕnh chỉ hợp pháp nếu có
sự chấp thuận trước của các cơ quan nhà
nước.
Đây hiển nhiên là sự vi phạm thô bạo về
quyền tự do truyền giáo và hành đạo.
Tại các quốc gia dân chủ văn minh, các hội dân
sư,ï như các giáo hội, công đoàn, hội ái
hữu tương tế, hội từ thiện nhân
đạo v...v... chỉ cần đệ nạp nhà
cầm quyền những bản hiến chương, điều
lệ và nội quy để được quyền
tự trị và tự do sinh hoạt mà không cần
phải đăng kư chương tŕnh hoạt động
hàng năm và cũng không phải xin phép trước để
thực hành những hoạt động không thường
xuyên hay định kỳ.
Xin đơn cử một vài thí dụ:
Các công đoàn lao động không thể thiết lập
chương tŕnh hoạt động thường niên
để thông báo cho nhà cầm quyền biết trong niên
khóa tới, công đoàn sẽ tổ chức bao nhiêu
vụ đ́nh công để đấu tranh cải
thiện chế độ lương bổng và điều
kiện làm việc của công nhân. B́nh thường
những vụ đ́nh công và thương thảo với
chủ nhân, chỉ xảy ra trong những trường
hợp thời cơ, không thể tiên đoán hay dự
liệu trước. Do đó không có vấn đề
đăng kư chương tŕnh hoạt động
nghiệp đoàn trong niên khóa tới.
Đặc biệt những cơ quan từ thiện nhân
đạo như Hội Hồng Thập Tự cũng không
thể ấn định trước chương tŕnh
hoạt động về y tế, cứu thương v́
những tai họa, tai nạn, chiến tranh, nội
loạn v...v... thường xảy ra ngoài sự tiên
liệu của mọi người.
6) Quyền tự do và tự trị sinh hoạt
của các giáo hội không cho phép nhà cầm quyền can
thiệp vào những hoạt động tôn giáo, ngoại
trừ các trường hợp quy định nơi
Điều 18 khoản 3 CUDSCT: “Quyền tự do biểu
thị tôn giáo chỉ có thể bị giới hạn theo
luật, v́ nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng,
trật tự công cộng, sức khỏe công cộng,
đạo lư (thuần phong mỹ tục) hay những
quyền tự do căn bản của người khác”.
Điều khoản này không dự liệu trường
hợp đ́nh chỉ hoạt động tôn giáo v́ có tác
động xấu đến sự “đoàn kết
nhân dân” (Điều 15 Pháp Lệnh). Đoàn kết
nhân dân là một quan niệm quá bao quát và mơ hồ cũng
như tội “phá hoại đoàn kết tôn giáo”
của Điều 87 Bộ Luật H́nh Sự.
7) Điều 12 Pháp Lệnh c̣n cấm chỉ các tù nhân lương
tâm đă bị kết án hay quản chế hành chánh không
được hành đạo, truyền giáo và quản
trị tổ chức tôn giáo. Đó là trường
hợp của các Ḥa Thượng Thích Tuệ Sĩ, Thích
Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lư, cụ Lê
Quang Liêm v...v... Đặc biệt là sau khi măn thụ h́nh
hay quản chế, các tù nhân lương tâm này
vẫn không được trở lại quản trị
tổ chức, hành đạo và truyền giáo nếu không
có sự đăng kư và chấp thuận của cơ
quan nhà nước (Điều 13). Điều này
đi trái tinh thần luật pháp theo đó sự măn
thụ h́nh và quản thúc có tác dụng khôi phục
quyền công dân của đượng sự.
8) Điều 16 Pháp Lệnh buộc các tổ chức
tôn giáo phải “gắn bó với dân tộc và phục
vụ lợi ích của dân tộc”. Điều này
quá bao quát và mơ hồ và sẽ cho phép nhà cầm
quyền thâu hồi giấy phép và tước đoạt
tư cách pháp nhân của giáo hội v́ đă xâm phạm
đến lợi ích của nhà nước, của dân
tộc khi hành sử quyền tự do tôn giáo. Nó
nhắc chúng ta về tội danh giả tạo “lợi
dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích
của nhà nước” của Điều 258 Bộ
Luật H́nh Sự.
9) Hiện nay nhà cầm quyền đă thiết
lập những giáo hội quốc doanh với những
danh xưng giáo hội Phật Giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo,
Tin Lành v...v... Và như vậy thủ tướng chính
phủ tại trung ương hay các chủ tịch ủy
ban nhân dân tại các địa phương có quyền không
công nhận và không cấp giấy phép cho các tổ
chức tôn giáo trùng tên với các tổ chức tôn giáo
quốc doanh hiện hành chiếu Điều 16 Pháp
Lệnh. Điều này cũng cho phép chính phủ
viện cớ để không công nhận các tổ
chức tôn giáo đă đứng lên đ̣i tự do tôn
giáo và đă có những hành động làm mất ổn
định xă hội.
10) Tại các quốc gia dân chủ văn
minh, các giáo hội chỉ cần đệ nạp nhà
cầm quyền đơn xin thành lập kèm theo hiến chương,
điều lệ và nội quy trong đó có quy định
việc tổ chức đại hội thường niên
hay hội nghị bất thường mà không cần
phải có sự chấp thuận trước của các cơ
quan chính quyền như Điều 18 Pháp Lệnh đ̣i
hỏi.
11) Các tu viện, thiền viện và các hội đoàn
tôn giáo như Hội Các Bà Mẹ Công Giáo, Thanh Sinh Công,
Gia Đ́nh Phật Tử, Hướng Đạo Phật
Tử v...v... được quyền công khai hoạt
động mà không phải đăng kư với các cơ
quan nhà nước như các Điều 19 và 20 Pháp
Lệnh đ̣i hỏi. Nhà cầm quyền không bao
giờ đ̣i các tổ chức ngoại vi hay các
đảng đoàn của Đảng CS phải đăng
kư.
12) Điều 21 Pháp Lệnh c̣n buộc giáo
hội phải đăng kư các nhà tu hành. Điều
này biểu lộ chính sách kiểm soát giáo hội
chặt chẽ, trong khi chính phủ không buộc các đảng
viên và cán bộ Cộng Sản phải làm thủ tục
này.
13) Theo nguyên tắc tự trị sinh hoạt, việc
bầu cử, bổ nhiệm, phong chức theo đúng
hiến chương, nội qui, điều lệ,
được tự do tiến hành mà không cần có
sự đăng kư hay chấp thuận của cơ quan
quản lư nhà nước vềø tôn giáo, trái với
Điều 22 Pháp Lệnh. Hơn nữa những
vị có trách nhiệm lănh đạo không phải bị
duyệt xét xem có tinh thần “đoàn kết quốc gia,
ḥa hợp dân tộc” hay không. Từ 1975, Đảng
Cộng Sản giải thích rằng yêu nước là yêu
xă hội chủ nghĩa, đoàn kết quốc gia là
đoàn kết dưới lá cờ của Đảng, và
ḥa hợp dân tộc là ḥa hợp với Đảng C.S.
14) Điều 24 Pháp Lệnh c̣n ép buộc phải
giảng dạy môn lịch sử Việt Nam trong những
lớp đào tạo những người chuyên hoạt
động tôn giáo. Lịch sử Việt Nam đă
được diễn giảng theo quan niệm của
Đảng CS, và Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc sánh
ngang với Trần Hưng Đạo, và Đảng
Cộng Sản đă có công giải phóng dân tộc và
thống nhất đất nước. Những điều
này đă bị sự thật lịch sử bác
bỏ. V́ Việt Nam đă được độc
lập và thống nhất do Hiệp Định Élysée kư
kết giữa Tổng Thống Pháp và Quốc Trưởng
Việt Nam năm 1949.
15) Với chính sách độc quyền tư tưởng
của Đảng CS, chúng ta có quyền hoài nghi
việc xuất bản các tác phẩm tôn giáo như kinh
bổn, sách báo tạp chí v...v... sẽ bị nhà cầm
quyền kiểm soát và chế tài nghiệt ngă chiếu
Điều 32 Pháp Lệnh, trái với quyền tự do tư
tưởng, tự do thông tin, và tự do phát biểu
đă được Hiến Pháp quốc gia và Công Ước
Dân sự Chính Trị cam kết tôn trọng. Cho
đến nay Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
vẫn chưa được cấp giấy phép ấn hành
bản thông tin mục vụ nội bộ.
16) Điều 33 Pháp Lệnh khuyến khích các giáo hội
và hội đoàn tôn giáo tham gia hỗ trợ các
hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, nhân
đạo. Tuy nhiên v́ muốn giữ độc
quyền tư tưởng, độc quyền văn hóa,
Đảng CS không cho tư nhân và các hội đoàn
mở các trường tư thục từ cấp tiểu
học đến cấp đại học. Ngay cả
những công tác cứu trợ nhân đạo cũng
bị cấm đoán nếu không có phép của nhà
cầm quyền. Đó là trường hợp Ḥa Thượng
Thích Quảng Độ tổ chức cứu trợ các
nạn nhân lũ lụt tại đồng bằng Cửu
Long năm 1995.
17) Một số các tôn giáo tại Việt Nam có liên
hệ quốc tế như Công Giáo, Phật Giáo, Khổng
Giáo, Tin Lành v...v...Do đó việc các nhà tu hành ngoại
quốc đến thuyết giảng tại Việt Nam là
việc b́nh thường và đáng hoan nghênh. Vả
lại nhân quyền và những quyền tự do tư tưởng,
tự do tôn giáo được áp dụng cho tất
cả mọi người, dầu là công dân hay không công dân.
Do đó không cần có sự chấp thuận của cơ
quan quản lư nhà nước về tôn giáo ở trung
ương như Điều 36 đ̣i hỏi.
18) Sau cùng chiếu Điều 39 Pháp Lệnh, do
sự hợp thức hóa các
giáo hội quốc doanh Phật Giáo, Cao Đài, Ḥa
Hảo, Tin Lành, nhà cầm quyền sẽ có lư do không công
nhận các giáo hội dân lập v́ có sự trùng tên.
Tại Hà Nội, Phan Văn Khải đă nhắn
nhủ Ḥa Thượng Thích Huyền Quang chỉ nên có
một giáo hội Phật Giáo mà thôi !
V́
những điều sai trái nói trên về thủ tục và
nội dung, Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
yêu cầu Quốc Hội Việt Nam hủy bỏ Pháp
Lệnh Tôn Giáo ngày 18-6-2004. Nếu nhà cầm
quyền thực tâm xây dựng dân chủ, th́ tiên
quyết phải ban hành đồng thời 4 đạo
luật về những quyền tự do tinh thần và
tự do chính trị như Luật Tự Do Tôn Giáo,
Tự Do Báo Chí, Tự Do Hội Họp và Lập
Hội và Tự Do Tuyển Cử, theo tinh thần Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước về
Những Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam
đă gia nhập năm 1982.
Làm
tại California ngày 19-9-2004
TM. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN
Luật Sư Nguyễn Hữu
Thống
Mang
Luoi Nhan Quyen Viet Nam
[Trang nha] [MLNQ]
[Luat nhan quyen]
[Tai lieu] [Tin
nhan quyen] [Dien
dan] [Tham gia]
[Tai xuong] [Lien
ket]